1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng cách bờ hậu môn từ 5cm trở lên

7 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 326,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả của phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng cách bờ hậu môn từ 5cm trở lên. Nghiên cứu tiến hành với 132 trường hợp ung thư trực tràng được phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng cách bờ hậu môn từ 5cm trở lên tại bệnh viện Bình Dân từ 06/2007 đến 02/2011.

Trang 1

PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TRỰC TRÀNG

CÁCH BỜ HẬU MÔN TỪ 5CM TRỞ LÊN

Đinh Quang Tâm*, Trần Thiện Hòa*, Nguyễn Trần Uyên Thy * , Văn Tần**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng đã phát triển khắp thế giới trong 2 thập kỷ qua

Tại Việt Nam, phẫu thuật này ngày càng được phát triển rộng rãi

Mục tiêu: Đánh giá kết quả của phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng cách bờ hậu môn từ 5cm trở

lên

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả cắt ngang, 132 trường hợp ung thư trực tràng

được phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng cách bờ hậu môn từ 5cm trở lên tại bệnh viện Bình Dân từ 06/2007 đến 02/2011

Kết quả: Hồi cứu 132 bệnh nhân: 73 nam, 59 nữ Tuổi trung bình: 58,4 ± 14,1 Triệu chứng lâm sàng nổi

bật nhất là đi tiêu phân đàm máu (81,8%) Vị trí bướu ≤ 10cm (58,3%), > 10cm (42,7%).Giải phẫu bệnh: carcinom tuyến (99,2%) Phân loại TNM: I (2,6%), II (14,5%), III (72,7%), IV (9,1%) Biến chứng sau mổ: nhiễm trùng vết mổ (28,8%), xì rò miệng nối (9,1%) Tỷ lệ tử vong là 0,8%

Kết luận: Đây là phẫu thuật an toàn và hiệu quả với tỷ lệ biến chứng sau mổ và tử vong thấp

Từ khóa: rò miệng nối – phẫu thuật nội soi – ung thư trực tràng

ABSTRACT

OUTCOME OF LAPAROSCOPIC SURGERY FOR RECTAL CANCER TREATMENT WITH TUMOR

POSITION 5CM FROM THE ANAL VERGE

Đinh Quang Tam, Tran Thien Hoa, Nguyen Tran Uyen Thy, Van Tan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2012: 160 ‐ 166

Background: Laparoscopic surgery for rectal cancer is increasingly practiced worldwide in the last 2

decades In Vietnam, this surgery is increasingly widespread

Objective: To evaluate the results of laparoscopic surgery for rectal cancer treatment with tumor position

5cm from the anal verge

Method: Retrospectively studied 132 patients of rectal cancers undergoing low anterior resection surgery at

Binh Dan hospital from 06/2007 to 02/2011

Results: There were 132 patients including 73 males and 59 females, mean age was 58.4 ± 14.1 The

common symptom was melena (81.8%) Tumor position: ≤ 10cm (58.3%), > 10cm (42.7%) Pathologic result: adeno carcinoma (99.2%) TNM classification: I (2.6%), II (14.5%), III (72.7%), IV (9.1%) The common postoperative complications were: wound infection 28.8%, anastomotic fistula 9.1% The mortality rate was 0.8%

Conclusion: This is the safe and effective surgery with low of the postoperative complications and mortality

* Khoa Tổng Quát I Bệnh Viện Bình Dân – TPHCM

** Khoa Tổng Quát III Bệnh Viện Bình Dân ‐ TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Trần Thiện Hoà, ĐT: 0903749415, Email: bsthienhoa@yahoo.com

Trang 2

rate

Key words: Anastomotic fistula – Laparoscopic surgery – rectal cancer

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại trực tràng là bệnh thường gặp

Trực tràng là vị trí thường gặp nhất trong ung

thư đại trực tràng Chẩn đoán ung thư đại trực

tràng ở nước ta nói chung thường ở giai đoạn

trễ

Vì vậy kết quả điều trị thường hạn chế Điều

trị trong ung thư trực tràng chủ yếu là phẫu

thuật, các phương pháp khác chỉ có vai trò hỗ

trợ Hiện nay nhờ phẫu thuật nội soi thao tác dễ

dàng, cầm máu tốt, dùng máy khâu nối ruột có

thể áp dụng vùng thấp, miệng nối kín đều nếu

dùng máy đúng kỹ thuật, sau nối dễ kiểm tra

hai mặt cắt của hai đầu ruột Kỹ thuật cắt đoạn

đại trực tràng nối máy nội soi ngày càng được

áp dụng rộng rãi và đạt được nhiều kết quả khả

quan(1,2,8,9,11) Tại Việt Nam(3,5,10) hiện cũng đã có

một số nghiên cứu bước đầu về lĩnh vực này

nhưng dường như vẫn chưa đưa ra được nhiều

kết quả thuyết phục Vì vậy chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này với mục tiêu nhằm đánh giá

bước đầu phẫu thuật nội soi điều trị ung thư

trực tràng cách bờ hậu môn từ 5cm trở lên tại

bệnh viện Bình Dân

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, hồi cứu theo bệnh án mẫu

nghiên cứu

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Bệnh viện Bình Dân từ 06/2007 đến 02/2011

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Những bệnh nhân được chẩn đoán là ung

thư trực tràng và được phẫu thuật cắt đoạn đại

trực tràng nội soi tại bệnh viện Bình Dân Bệnh

án lưu trữ phải đầy đủ các yếu tố nghiên cứu

theo bệnh án mẫu

Tiêu chuẩn loại trừ

Những bệnh nhân được chẩn đoán là ung

thư trực tràng và được phẫu thuật Miles hoặc nối ống hậu môn tại bệnh viện Bình Dân hoặc bệnh án lưu trữ không đầy đủ các yếu tố nghiên cứu theo bệnh án mẫu

Xử lý kết quả nghiên cứu

Các số liệu lâm sàng được lưu trữ và tính toán bằng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian nghiên cứu có 132 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh

Tuổi trung bình: X = 58,4 (26 ‐ 86), SD = 14,1

Nữ = 59 (44,7%), Nam = 73 (55,3%), nam/nữ = 73/59 (1,2/1)

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng - cận lâm sàng-phương

pháp phẫu thuật

Tăng huyết áp 11 8,3

Bệnh tim mạch 5 3,8 Tính chất phân

Tiêu đàm máu 108 81,8 Tiêu đàm nhớt 12 9,1 Tiêu phân dẹt 3 2,3 Tính chất khối u

K/cách u so với rìa hậu môn

5 – 10 cm 59 44,7

>10 cm 68 51,5

So với chu vi trực tràng

≤ 1/3 chu vi 26 19,7 1/2 chu vi 27 20,5 2/3 chu vi 19 14,4

≥ 3/4 chu vi 60 45,5 Giải phẫu bệnh:

Carcinom tuyến biệt hóa tốt 35 26,5 Carcinom tuyến biệt hóa vừa 87 65,9 Carcinom tuyến biệt hóa kém 9 6,8 Carcinom tế bào nhẫn 1 0,8 Phương pháp phẫu thuật:

Trang 3

Các bệnh lý đi kèm n %

PTNS, nối máy 95 71,9

PTNS, nối tay

PTNS chuyển mổ mở, nối máy

PTNS chuyển mổ mở, nối tay

8

21

8

6,1 15,9 6,1

Bảng 2: Kết quả sau phẫu thuật

Độ dài cắt trên u 10cm 133 100

Độ dài cắt dưới u:

Không biến chứng 79 59,7

Tai biến trong mổ 0 0

Biến chứng sau mổ:

Xì rò miệng nối 12 9,1

Thoát vị vết mổ 1 0,8

Dính ruột sớm sau mổ 1 0,8

Bung thành bụng 1 0,8

Nhiễm trùng vết mổ 38 28,8

TNM

Siêu âm bụng

14 trường hợp (10,6%) phát hiện có u Ngoài

ra 5 trường hợp (3,8%) phát hiện di căn gan, 113

trường hợp (85,6%) không phát hiện bất thường

Thời gian mổ

Trung bình là 178,14 phút (65‐360), độ lệch

chuẩn là 59,9 phút

Thời gian điều trị

Trung bình là 17,09 ngày (10‐37), độ lệch

chuẩn là 7,9 ngày

CEA trong máu

< 5ng/ml: 61 trường hợp (46,2%), ≥5ng/ml: 71

trường hợp (53,8%)

Siêu âm qua ngã trực tràng

Được thực hiện trong 27/132 (20,5%), trong

đó 4 TH (3%) chưa xâm lấn, 1 TH (0,8%) xâm lấn

niêm mạc, 12 TH (9,1%) xâm lấn cơ, 10 TH (7,6%) xâm lấn cơ quan lân cận

CTscan bụng: được thực hiện trong 63/132

(47,7%), trong đó 51 TH (38,6%) phát hiện u chưa di căn, 12 TH (9,1%) phát hiện u di căn

BÀN LUẬN Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi

Nguy cơ bị ung thư trực tràng tăng theo tuổi Qua khảo sát,chúng tôi ghi nhận tuổi mắc bệnh trung bình là 58,4 ± 14, lứa tuổi mắc bệnh thường gặp từ 50 – 70 tuổi Kết quả phù hợp với

y văn trong và ngoài nước: tuổi trung bình trong nghiên cứu của Nguyễn Minh An(5) là 51 tuổi, nghiên cứu của Floris(2) là 60 tuổi, nghiên cứu của C.A.Sartori(9) là 64,2 tuổi

Giới

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ theo giới nam/nữ = 1,2/1 Qua so sánh tỉ lệ nam/ nữ với các tác giả khác, chúng tôi nhận thấy kết quả tương tự với kết quả của tác giả khác(6,9)

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng nổi bật trong nghiên cứu là tiêu phân đàm máu (81,8%) Triệu chứng này được các tác giả ghi nhận nhiều nhất 95,6% ‐96,6% theo nghiên cứu của Phan Anh Hoàng(7), Nguyễn Văn Hiếu(6) Đây cũng là triệu chứng chính khiến bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Tuy nhiên một số bệnh nhân khi có tiêu phân đàm máu vẫn nghĩ bị bệnh trĩ hoặc kiết lỵ nên vẫn chưa đến khám ngay khi lần đầu có triệu chứng, dẫn đến tình trạng bệnh nhân khi được phẫu thuật đều ở giai đoạn muộn

Tính chất – hình dạng khối u

Sần sùi chiếm 126/132 (96,5%) cao hơn so với kết quả của Nguyễn Minh An(5) (79,4%)

Khoảng cách u so với rìa hậu môn

Khối u cách rìa hậu môn 5cm chiếm tỷ lệ 3,8% (5TH), tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Minh An(5) (14,7%‐5TH) Khối u cách rìa hậu môn 5‐10cm chiếm tỷ lệ 44,7% (59TH), tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Minh

Trang 4

An(5) (73,5% ‐ 25TH) Khối u cách rìa hậu môn từ

10cm trở lên chiếm tỷ lệ 51,5% (68TH) Lý do vì

trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện đối

với u từ 5cm trở lên, chúng tôi không đưa vào

nghiên cứu những trường hợp ung thư trực

tràng thấp đã được điều trị bằng phẫu thuật cắt

trực tràng, nối đại tràng ống hậu môn hoặc

phẫu thuật Miles giống những nghiên cứu của

Nguyễn Minh An(5)

Kích thước u so với trực tràng

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra kích thước u

so với chu vi trực tràng là yếu tố tiên lượng

độc lập với thời gian sống thêm sau mổ(1,2,8).

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi thì

kích thước u chiếm trên ½ chu vi là 80,3% thể

hiện có 1 tỉ lệ lớn bệnh nhân được chẩn đoán

và điều trị tương đối muộn

Kháng nguyên phôi (CEA)

Chúng tôi có 132 bệnh nhân (100%) được

làm xét nghiệm kháng nguyên phôi trước mổ,

trong đó ghi nhận có 71 bệnh nhân (53,8%) có

nồng độ CEA trước mổ cao hơn 5ng/ml Tỷ lệ

này cao hơn so nghiên cứu của Trần Minh

Hoàng (9) (25,5%) và sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với P < 0,01 Tăng nồng độ CEA trong

máu là yếu tố giúp hướng đến việc tìm kiếm

ung thư đại trực tràng và CEA sau mổ thường

báo hiệu tình trạng tái phát hoặc xuất hiện di

căn

Siêu âm bụng

Chúng tôi có 19 trường hợp phát hiện u

(14,4%), trong đó 14 trường hợp phát hiện u, 5

trường hợp phát hiện di căn gan Điều này cho

thấy siêu âm là phương tiện rẻ tiền, không xâm

lấn nhưng kết quả vẫn giúp ích được các bác sĩ

lâm sàng hướng đến ung thư

Siêu âm qua ngã trực tràng

Được thực hiện trong 27/132 (20,5%), CTscan

bụng được thực hiện trong 63/132 (47,7%) Đây

là những phương tiện hiện đại có thể giúp

chúng ta xác định được giai đoạn bệnh Vì thế

càng ngày chúng ta càng nên thực hiện những

xét nghiệm trên thường quy để có thể đưa ra

phương hướng giải quyết cho bệnh nhân một cách chính xác và an toàn nhất

Giải phẫu bệnh

Các tác giả đều ghi nhận giải phẫu bệnh chủ yếu là carcinôm tuyến (từ 92,2% đến 100%) Chúng tôi ghi nhận kết quả giải phẫu bệnh Hầu hết là carcinom tuyến (99,2%), trong đó carcinom biệt hóa vừa chiếm 65,9% chiếm tỉ lệ nhiều nhất, kế đến là carcinom biệt hóa tốt 26,5% kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trần Minh Hoàng(10): carcinom tuyến (92,1%), nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiếu(6) (89,8%) Trong nghiên cứu của chúng tôi có 13 trường hợp trước mổ chẩn đoán là u tuyến ống tăng sản tuyến kèm viêm, nghịch sản nặng, kết quả sau

mổ là carcinom tuyến Có 1 trường hợp trước

mổ chẩn đoán carcinom tuyến biệt hóa kém, sau

mổ là biệt hóa vừa, có thể do sinh thiết qua nội soi không phản ánh được chính xác đặc điểm

mô học toàn bộ khối u

Giai đoạn bệnh

Phân loại giai đoạn bệnh ung thư trực tràng theo TNM Giai đoạn I chiếm 3%, giai đoạn II chiếm 15,2%, giai đoạn III chiếm 72,7% và giai đoạn IV chiếm 9,1% Điều này có nghĩa đa số

BN (81,8% ‐ giai đoạn III‐IV) đều đến điều trị ở giai đoạn muộn

Theo các tác giả nước ngoài hiện nay áp dụng rộng rãi kỹ thuật nội soi kể cả khối u ở giai đoạn T4 (mà trước đây chống chỉ định mổ nội soi) Trong nghiên cứu của chúng tôi áp dụng PTNS cho 74TH cho u T4, trong đó có 29 TH chuyển mổ mở vậy tỷ lệ áp dụng được PTNS cho u T4 là 34,1% (45/132) Tỷ lệ này của nghiên cứu của chúng tôi cao hơn trong nghiên cứu của C.A.Sartori(9) là 12,1% (12/174) Theo nghiên cứu của Floris(2), C.A.Sartori(9), tỷ lệ phẫu thuật nội soi được cao nhất là ở T2 (39,3% ‐ 68/174), kế đến

là T3 (29,9% ‐ 52/174), tiếp đến là T1 (18,7% ‐ 32/174) Như vậy ở nước ngoài chương trình tầm soát bệnh tốt hơn ở nước chúng ta nên tỷ lệ bệnh nhân được phát hiện và điều trị sớm hơn

Trang 5

Phương pháp phẫu thuật

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 16 BN

khâu nối tay qua đường mổ nhỏ là do bệnh

nhân có hoàn cảnh khó khăn, lại không có bảo

hiểm y tế nên không thể sử dụng máy nối 29

trường hợp chuyển mổ mở của chúng tôi phần

nhiều ở giai đoạn đầu, gặp khó khăn do khối u

lớn, xâm lấn sang các tổ chức xung quanh Ở

giai đoạn sau, khi đã thuần thục, những trường

hợp còn khả năng phẫu thuật đều được PTNS

Thời gian mổ

Trung bình là 178,14 phút, nhan nhất là 65

phút và chậm nhất là 360 phút.Yếu tố này phù

hợp với các nghiên cứu của các tác giả

C.A.Sartori(9) là 218,9 phút (140‐360), theo

Nguyễn Minh An(5) là 134,5 phút (105‐220),

Pugliese R.(8) là 239 phút (110‐460)

Đánh giá diện cắt dưới u

Các nghiên cứu trước đây cho rằng diện cắt

cách rìa u 2 cm là tương đối an toàn và việc cắt

đoạn có thể được áp dụng cho u cách rìa hậu

môn 5 cm Nhờ sự giảm khoảng cách giới hạn

an toàn mà một phần lớn phẫu thuật Miles đã

có thể được tránh khỏi Theo Phan Anh

Hoàng(7), không có trường hợp nào trong 78

bệnh nhân khảo sát có tế bào ung thư quá 2cm

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 78TH

(58,6%) có diện cắt dưới u là 2cm, ngoài ra 55TH

(41,4%) có diện cắt dưới u là 5cm Và kết quả

giải phẫu bệnh sau mổ không có trường hợp

nào bờ phẫu thuật còn hiện diện tế bào ác tính

Tai biến

Chúng tôi không gặp phải tai biến trong mổ

biến chứng sau mổ:

Nhiễm trùng vết mổ

Là một nhiễm trùng mắc phải trong bệnh

viện thường gặp nhất Trong nghiên cứu của

chúng tôi chiếm 28,8% (38/132), trong đó Tất cả

các trường hợp trên đều được điều trị nội thành

công: thay kháng sinh theo kháng sinh đồ, thay

băng vết mổ nhiều lần trong ngày Biến chứng

trên tuy không nguy hiểm như những biến

chứng khác nhưng vẫn làm tăng kinh phí điều

trị và kéo dài thời gian nằm viện Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Minh

An(5) (5,9%), Hoàng Mạnh An(3) (4,6%), khả năng 2/3 TH là chuyển từ PTNS sang mổ mở, khả năng dễ bị nhiễm trùng vết mổ hơn

Xì rò miệng nối

Xì rò miệng nối là một trong những biến chứng được lưu tâm nhất trong phẫu thuật điều trị ung thư trực tràng, quyết định thành công hay thất bại của phẫu thuật, lảm tăng nguy cơ tử vong, kéo dài thời gian điều trị, tăng chi phí, tăng khả năng tái phát và giảm thời gian sống

Tỷ lệ xì rò miệng nối rất khác nhau giữa các tác giả nước ngoài(1,2,8,9,11,4) và không thể so sánh chính xác với nhau được vì phác đồ điều trị, vị trí u, kỹ thuật mổ khác nhau giữa các nghiên cứu Tại bệnh viện Bình Dân chúng tôi không

mở hồi tràng giải áp thường quy mà chúng tôi

áp dụng dẫn lưu giải áp lòng trực tràng và dẫn lưu cạnh miệng nối, tuy nhiên tỉ lệ biến chứng vẫn còn cao Trong nghiên cứu, chúng tôi có 12 trưởng hợp xì rò miệng nối, chiếm tỷ lệ 9,1% Tỷ

lệ này thấp so với một số nghiên cứu của các tác giả khác: theo C.A.Sartori(9) là 13,7%, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Theo nghiên cứu của C.A.Sartori(9) những yếu tố

có liên quan đến xì rò miệng nối là giới tính, vị trí u, những yếu tố khác chưa tìm thấy mối liên quan Trong nghiên cứu của chúng tôi: chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nam/nữ trong nhóm xì rò là 3/1, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 2,13 ‐ bậc tự do 1) Vị trí khối u chiếm tỷ lệ cao hơn ở nhóm ≤ 10cm (58,3%), thấp hơn ở nhóm > 10cm (41,7%), tuy nhiên sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 0,53 ‐ bậc tự do 1) Kích thước u so với lòng trực tràng: tỷ lệ ở nhóm ≥1/2 đường kính cao gấp 2 lần nhóm <1/2 đường kính, tuy vậy sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 1,47 ‐ bậc tự do 1) Chúng tôi nhận thấy khi phân tích mối liên quan giữa giai đoạn bệnh và khả năng

xì rò miệng nối thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 1,92 ‐ bậc tự do 1) Chúng tôi tiến hành phân tích mối liên quan giữa di căn

Trang 6

(M) và khả năng xì rò miệng nối thì sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê (χ2 = 21,54 ‐ bậc tự do 1)

Như vậy yếu tố di căn (M) có ảnh hưởng đến

yếu tố xì rò miệng nối

Trong 12 ca biến chứng xì rò miệng nối 3TH

(chiếm tỷ lệ 25%) ống dẫn lưu ra dịch đục mủ

hoặc phân, nhưng tình trạng lâm sàng ổn định,

được chẩn đoán xì rò khu trú, điều trị nội khoa

và bệnh nhân ổn định 9 TH còn lại (chiếm tỷ lệ

75%), 5 TH chẩn đoán là rò điều trị nội không

ổn, 4 TH có tình trạng viêm phúc mạc, tất cả

những trường hợp này đều được phẫu thuật lại

Đa số trường hợp phẫu thuật viên đều lựa chọn

rã miệng nối và đưa 2 đầu ra làm HMNT (5 TH),

3 TH làm phẫu thuật Hartmann, 1 TH làm phẫu

thuật Miles (khoét bỏ tầng sinh mô cùng với

đoạn trực tràng còn lại và làm HMNT đoạn ruột

trên), không có trường hợp nào cắt nối lại Để

làm giảm tỷ lệ xì rò, nhiều tác giả khuyến cáo

mở hồi tràng ra da dự phòng nhưng quan điểm

này còn nhiều tranh cãi Đặt dẫn lưu vùng chậu

không làm giảm tỷ lệ xì miệng nối nhưng làm

giảm tình trạng viêm phúc mạc ổ bụng khi có

xảy ra biến chứng Chẩn đoán sớm xì miệng nối

là 1 vấn đề khó khăn, tâm lý ngại can thiệp lại

của phẫu thuật viên làm chẩn đoán trễ khiến

biến chứng nặng nề hơn Theo chúng tôi, triệu

chứng lâm sàng vẫn là yếu tố quyết định chính,

khi phẫu thuật viên còn phân vân thì nên tham

khảo những bác sĩ có kinh nghiệm

Tỷ lệ tử vong

Tỉ lệ tử vong 1/12 (8,3%) ở nhóm bệnh nhân

có xì rò miệng nối Ở bệnh nhân tử vong chúng

tôi ghi nhận được phẫu thuật viên đã tích cực

tiến hành xử lý lại bằng phẫu thuật Hartmann

sau 5 ngày Nhưng tình hình ổ bụng bệnh nhân

khi phẫu thuật đã ở trong tình trạng viêm phúc

mạc toàn thể, ổ bụng đầy dịch mủ và phân

Nguyên nhân tử vong có thể do sốc nhiễm

trùng nhiễm độc gây suy đa cơ quan không hồi

phục Tỷ lệ tử vong chung 1/132 (0,8%) phù hợp

với những nghiên cứu của tác giả Hoàng Mạnh

An(3) (0,8%), C.A.Sartori(9) là 0,57%, Nguyễn Văn

Hiếu(6) là 0,58% Đa số bệnh nhân tử vong do

được mổ trễ, trên lâm sàng đã có dấu hiệu sốc nhiễm trùng nhiễm độc gây suy đa cơ quan không hồi phục hoặc do suy kiệt kéo dài không lành vết mổ và chỗ khâu nối ruột Hoặc có thể

tử vong do bệnh lý nội khoa: Tim mạch và tai biến mạch máu não

KẾT LUẬN

Qua khảo sát 132 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi điều trị ung thư trực tràng cách bờ hậu môn từ 5cm trở lên tại bệnh viện Bình Dân

từ 06/2007 đến 02/2011, chúng tôi nhận thấy:

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

‐ Tuổi trung bình: 58,4 ± 14,1

‐ Nam/nữ = 73/59 (1,2/1)

‐ Triệu chứng lâm sàng nổi bật nhất là đi tiêu phân đàm máu (81,8%)

‐ Nội soi trực tràng giúp phát hiện ra ung thư trực tràng ở 100% các trường hợp

‐ Vị trí bướu chủ yếu ở ≤ 10cm (58,3%)

‐ Giải phẫu bệnh dạng carcinôm tuyến chiếm 99,2%

‐ Giai đoạn lâm sàng khá trễ, bướu thường ở giai đoạn III (72,7%), giai đoạn IV (9,1%)

Kết quả điều trị

Biến chứng sớm sau mổ gặp nhiều nhất là nhiễm trùng vết mổ (28,8%), xì rò miệng nối (9,1%) Trong đó tỷ lệ điều trị nội là 3/12 (25%), 9/12 (75%) còn lại phải phẫu thuật lần 2 bằng những phương pháp: phẫu thuật Hartmann 3/9

TH, phẫu thuật Miles 1 TH, rã miệng nối và đưa

2 đầu ra làm HMNT 5 TH Trong đó có 1 trường hợp tử vong (0,8) trong thời gian hậu phẫu Yếu tố di căn (M) có ảnh hưởng đến yếu tố

xì rò miệng nối, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (χ2 = 21,54 ‐ bậc tự do 1)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cheung H.Y.S, Chung C.C, Li M.K.W (2010) Laparoscopic anterior resection Tech Coloproctol 14: 45‐49

2 Ferenschild FTJ, Dawson I, de Wilt JHW, de Graaf EJR, Groenendijk RPR, and Tetteroo GWM (2009) Total mesorectal excision for rectal cancer in an unselected population: assessment

in a low volume center Int J Colorectal Dis August; 24(8): 923–

929

Trang 7

3 Hoàng Mạnh An; Bùi Tuấn Anh; Phan Văn Hội, Lê Mạnh Hoà;

Lê Thanh Sơn (2011) Kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi đại –

trực tràng tại bệnh viện 103 Tạp chí y dược học quân sự số

chuyên đề ngoại bụng: 87 ‐ 91

4 Law WL, Chu KW (2004) Anterior resection for rectal cancer

with mesorectal excision Ann Surg, August; 240(2): 260–268

5 Nguyễn Minh An (2008) Đánh giá kết quả sớm sau điều trị ung

thư trực tràng bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện 108 Y Học

Thực Hành – Số 1/2008: 594‐595

6 Nguyễn Văn Hiếu (2004) Kết quả điều trị phẫu thuật 205 bệnh

nhân ung thư trực tràng tại bệnh viện K từ 1994 – 2000 Hội thảo

chuyên đề bệnh hậu môn trực tràng, TPHCM: 191 – 199

7 Phan Anh Hoàng (2004) Đánh giá kết quả cắt nối đại trực tràng

thấp hoặc đại tràng ống hậu môn trong ung thư trực tràng 1/3

giữa và 1/3 dưới Hội nghị khoa học chuyên ngành Ngoại tiêu

hóa toàn quân 2004, TPHCM: 225 – 232

8 Pugliese R, et al (2007) Results of laparoscopic anterior resection for rectal adenocarcinoma: retrospective analysis of 157 cases

2008: 233‐238

9 Sartori C.A, Dal Pozzo A, Franzato B, Balduino M, Sartori A, Baiocchi G.L (2010) Laparoscopic total mesorectal excision for rectal cancer: experience of a single center with a series of 174 patients Surg Endose 25: 508‐514

10 Trần Minh Hoàng (2008) Kết quả sớm của phẫu thuật cắt trước thấp trong điều trị ung thư trực tràng Hội Nghị Ngoại Khoa và Phẫu Thuật 62 Nội Soi Toàn Quốc Năm 2008 Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập 12, Phụ bản của Số 4: 62 – 70

11 Tsang WWC, Chung CC, Kwok SY (2005) Minimally invasive surgery for rectal cancer ‐ Surg Clin N Am 85: 61–73

Ngày đăng: 21/01/2020, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w