1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dị vật đường thở ở trẻ em được nội soi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

5 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 352,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị dị vật đường thở (DVĐT) ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng 2 - TP HCM. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2  

Trần Lan Anh*, Phạm Thị Minh Hồng** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị dị vật đường thở (DVĐT) ở trẻ em tại 

Bệnh viện Nhi đồng 2 – TP HCM. 

Phương pháp: mô tả hàng loạt trường hợp. 

Kết quả: Từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 6 năm 2013, tại Bệnh viện Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chí Minh 

có 60  trẻ bị DVĐT được nội soi gắp dị vật. 88,3% trẻ dưới 3 tuổi. Tỉ lệ nam/nữ là 1,9/1. Lý do vào viện: 26,7% 

có liên quan hít sặc dị vật. 86,7% trẻ DVĐT khai thác được bệnh sử liên quan đến dị vật. Triệu chứng lâm sàng  bao gồm ho (31,7%), ran phổi (60%), khò khè (30%), giảm phế âm một bên (30%). Các hình ảnh tổn thương trên  X‐quang ngực: ứ khí bất thường 45,6%, xẹp phổi 19,3%, dị vật cản quang 10,5%. Có 7 bệnh nhi được chụp CT  scan ngực và 4 trường hợp thấy được dị vật. Về điều trị: 60,3% gắp được dị vật trong vòng 3 ngày đầu vào viện,  gắp thành công lần soi đầu 83,3%. 81,6% dị vật có nguồn gốc từ thức ăn, chủ yếu là các loại hạt; các dị vật khác  bao gồm bút bi (5%), đồ chơi (1,7%), cannula (1,7%). Vị trí dị vật: 68,3% dị vật nằm ở phế quản, 46,6% nằm ở  phế quản gốc bên phải. Điều trị khác: kháng sinh (93,4%), thuốc giãn phế quản (28,4%), kháng viêm (70%), thở  oxy (25%), CPAP (3,3%), thở máy (3,3%). Vào thời điểm nhập viện có 48,3% DVĐT bị chẩn đoán nhầm với  các bệnh lý hô hấp khác. 

Kết luận: Cần chú ý khai thác kỹ bệnh sử DVĐT ở những trẻ có triệu chứng hô hấp khởi phát đột ngột hoặc 

không đáp ứng với điều trị các bệnh lý hô hấp khác. Nên nội soi phế quản sớm ở những trẻ có nghi ngờ dị vật  dựa trên bệnh sử và lâm sàng. 

Từ khóa: dị vật đường thở trẻ em 

ABSTRACT  

FOREIGN BODIES ASPIRATION IN CHILDREN AT CHILDREN’ S HOSPITAL No2 

Tran Lan Anh, Pham Thi Minh Hong  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 459 ‐ 463 

Objectives: To determine the epidemiological, clinical, paraclinical and treatment characteristics in children 

diagnosed foreign bodies aspiration by bronchial endoscopy in Children ’ s Hospital N 0  2. 

Methods: case series 

Results: From  January  2008  to  June  2013,  60  children  diagnosed  foreign  bodies  aspiration  by  bronchial 

endoscopy were recruited, 88.3% of them was under 3 years, and male/females ratio 1.9/1.The chief complaint  related to foreign body aspiration was found in 26.7% of cases, and history of foreign body aspiration was found 

in  86.7%.  Clinical  signs  were  cough  (31.7%),  rales  (60%),  wheezing  (30%),  decreased  breath  sound  over  the  involved  hemithorax  (30%).  The  chest  radiographic  abnormalities  were  seen  including  unilateral  air  trapping  (45.6%), atelectasis (19.3%), and radiopaque objects (10.5%). There were 7 patients indicated chest CT scan and 

4  of  them  revealed  foreign  bodies.  There  were  60.3%  of  patients  extracted  successfully  within  3  days  after  admission. The rate of foreign bodies removed completely in the first time of bronchoscopy was 83.3%. Foreign 

* Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, ** Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: BS. Trần Lan Anh  ĐT: 0982982130 Email: bstranlananh@gmail.com  

Trang 2

bodies were classified as foods (81.6%) in which seeds were the most common objects, parts of pens (5%), toys  (1.7%), and cannula (1.7%). Foreign bodies were found at the main stem bronchi in 68.3%, and 46.6% of the  cases,  foreign  bodies  located  in  the  right  main  stem  bronchus.  The  other  supportive  treatments  included  antibiotics (93.4%), bronchodilators (28.4%), anti‐inflammation (70%), oxygen therapy (25%), CPAP (3.3%),  and mechanical ventilation (3.3%). At the time of admission, there were 48.3% of cases misdiagnosed. 

Conclusions: A  history  of  foreign  body  aspiration  should  be  carefully  considered  from  the  caretakers  in 

children with acute respiratory symptoms, and bronchoscopy should be indicated in children suggested foreign  body aspiration based on history and clinical examination.  

Key words: Foreign body aspiration in children 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Dị  vật  đường  thở  (DVĐT)  là  một  cấp  cứu 

thường  gặp,  80%  xảy  ra  ở  trẻ  em  đặc  biệt  là 

nhóm trẻ dưới 3 tuổi(1,11). Chẩn đoán sớm là yếu 

tố quan trọng quyết định điều trị và giảm thiểu 

biến chứng. Chẩn đoán DVĐT ở trẻ em dễ nhầm 

do  bệnh  sử  hít  dị  vật  không  phải  lúc  nào  cũng 

ghi  nhận  được,  trong  khi  các  triệu  chứng  lâm 

sàng và X‐quang thường không điển hình(7,9,12). 

Chúng  tôi  thực  hiện  đề  tài  này  nhằm  tìm 

hiểu  đặc  điểm  dịch  tễ,  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng, 

kết quả nội soi phế quản điều trị DVĐT ở trẻ em 

và  nhận  xét  những  trường  hợp  bị  chẩn  đoán 

nhầm,  góp  phần  chẩn  đoán  DVĐT  sớm  nhằm 

điều trị đúng và kịp thời cho trẻ. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả loạt trường hợp 

Đối tượng nghiên cứu 

Tất cả trẻ ≤ 15 tuổi nhập viện tại Bệnh viện 

Nhi đồng 2 được chẩn đoán DVĐT. 

Dân số chọn mẫu 

Tất cả trẻ ≤ 15 tuổi nhập viện tại Bệnh viện 

Nhi  đồng  2,  được  chẩn  đoán  DVĐT  và  nội  soi 

gắp được dị vật, từ 01/01/2008 đến 30/6/2013. 

Kỹ thuật chọn mẫu 

Chọn  mẫu  không  xác  suất,  lấy  trọn  tất  cả 

trường  hợp  thỏa  tiêu  chí  chọn  bệnh  từ 

01/01/2008 đến 30/6/2013. 

Xử lý dữ liệu 

Số  liệu  được  mã  hóa,  nhập  và  xử  lý  bằng 

phần  mềm  thống  kê  SPSS  16.0.  Biến  định  tính:  tính  tần  suất  và  tỷ  lệ  phần  trăm.  Biến  định  lượng: tính trung bình và độ lệch chuẩn. 

KẾT QUẢ 

Trong thời gian từ tháng 01/2008 đến 6/2013  tại Bệnh viện Nhi đồng 2,có 63 trường hợp bệnh  nhi DVĐT, trong đó 3 trường hợp không nội soi  bao gồm: 1 trường hợp tử vong sau sặc hạt đậu  phộng,  1  trường  hợp  sặc  cá  viên  chiên  suy  hô  hấp nặng để lại di chứng não, 1 trường hợp tự 

ho bắn vỏ hạt hướng dương ra ngoài; 60 trường  hợp  còn  lại  đã  nội  soi  gắp  được  dị  vật  với  các  đặc điểm được trình bày như sau 

Về dịch tễ 

Tuổi: ≤ 12 tháng (16,7%), 1 – ≤ 3 tuổi (71,6%), 

> 3 tuổi (11,7%).  

65% nam và 35% nữ, tỷ lệ nam/nữ: 1,9/1.  76,7% trẻ cư ngụ ở tỉnh và 23,3% ở TP HCM. 

Về lâm sàng và cận lâm sàng 

26,7%  các  trường  hợp  vào  viện  vì  lý  do  có  liên  quan  hít  sặc  dị  vậtbao  gồm:  tuyến  dưới  chuyển đến với chẩn đoán DVĐT, hít sặc, thở rít 

và tụt cannula. 

Có 52 ca (86,7%) khai thác được bệnh sử gợi 

ý  mắc  dị  vật.  Phòng  khám  ngoại  trú  của  bệnh  viện là nơi khai thác được bệnh sử gợi ý dị vật  cao nhất là 36 trường hợp, chiếm tỷ lệ 60%. 

Về hoàn cảnh mắc dị vật thì 70% xảy ra lúc  đang ăn, 10% khi đang chơi, 3,3% ngậm đầu bút,  1,7% tụt cannula mở khí quản và 15% không rõ  hoàn cảnh mắc dị vật. 

Tỷ  lệ  bệnh  nhi  đến  bệnh  viện  trong  24  giờ  sau mắc dị vật là 15%, 1 –  ≤ 3 ngày là 23,3%, 3 ‐ ≤ 

Trang 3

không rõ thời gian mắc dị vật. 

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng khi vào viện 

Bệnh viện khác chuyển với chẩn đoán DVĐT 7 11,7

BV khác chuyển với chẩn đoán viêm phổi 3 5

Bệnh viện khác chuyển với chẩn đoán hen 1 1,7

Triệu chứng lâm sàng

Ho 19 31,7

Rút lõm lồng ngực 17 28,3

Khàn tiếng 14 23,3

Tiếng rít bất thường ở phổi 2 3,3

Cơn tím, vã mồ hôi, bứt rứt khi di chuyển 1 1,7

Có  57  trường  hợp  có  chụp  X  quang  ngực, 

chiếm tỉ lệ 95%. 

7  trường  hợp  (11,4%)  chụp  CT  scan  ngực 

trong  đó  5  trường  hợp  chụp  trước  và  2  trường 

hợp chụp sau khi nội soi gắp dị vật. Thấy dị vật 

trên CT scan 4 trường hợp đều ở phế quản gốc 

trái. Các tổn thương phổi kèm theo: ứ khí, đông 

đặc,  xẹp  phổi,  đẩy  lệch  trung  thất,  viêm  mô  kẽ 

phổi và hạch phì đại cạnh phế quản. 

Bảng 2: Đặc điểm X‐quang ngực 

57

Tỉ lệ %

Ứ khí bất thường + Viêm phổi + Xẹp phổi 4 7

Viêm phổi + Xẹp phổi + Tràn khí màng phổi 2 3,5

Dị vật cản quang + ½ dưới khí quản hẹp 1 1,8 Viêm phổi + Khí quản và carina bị đẩy lệch P 1 1,8

Về điều trị 

Thời  điểm  nội  soi  gắp  dị  vật  sau  vào  viện  ngắn nhất1 giờ, dài nhất 28 ngày, trung bình 4,9  ngày. 33,3% các trường hợp gắp dị vật trong 24  giờ vào viện và 21% gắp sau 7 ngày vào viện. 

83,3% gắp được dị vật trong lần nội soi đầu.  

81,6%  dị  vật  từ  thức  ăn  mà  nhiều  nhất  các  loại hạt (51,6%), xương (23,3%) và thức ăn khác  (6,7%). Các dị vật khác bao gồm bút bi (5%), đồ  chơi  (1,7%),  cannula  (1,7%),  bóng  đèn  (1,7%),  mảnh ni lon (1,7%), và 6,6% dị vật không rõ tên. 

68,3%  các  trường  hợp  dị  vật  nằm  ở  phế  quản, bên phải 46,6%, bên trái 21,7%. Các vị trí  khác  như  thanh  môn  5%,  hạ  thanh  môn  13,35, 

khí quản 11,7% và phế quản trung gian 1,7%. 

31,6% các trường hợp có hỗ trợ hô hấp: Oxy  (25%), CPAP (3,3%) và thở máy (3,3%).93,4% có  điều  trị  kháng  sinh,  70%  điều  trị  kháng  viêm,  28,4% có dùngthuốc giãn phế quản.  

Về nhóm dị vật bị chẩn đoán nhầm 

Trong  60  trường  hợp  DVĐT,  có  29  trường  hợp  (48,3%)  chẩn  đoán  nhầm  bệnh  lý  khác. 

72,4% các trường hợp chẩn đoán nhầm có bệnh 

sử mắc dị vật. 

Ứ  khí  15  ca  (51,7%),  xẹp  phổi  5  (17,2%),  trong đó 3 ca xẹp phổi ngay từ khi vào viện, 2 

ca  xẹp  sau  điều  trị  hướng  viêm  phổi,  viêm  thanh khí quản. 

Bảng 3: Triệu chứng lâm sàng tại thời điểm nghi ngờ 

Trang 4

(*)  5 ca thở rít, kèm suy hô hấp, không cải thiện với điều trị 

hướng viêm thanh khí quản.  (**)  1 ca có cơn tím, vã mồ hôi, 

bứt rứt khi di chuyển ghi nhận được trong quá trình theo 

dõi, trường hợp này kết quả nội soi DV là vỏ hạt hướng 

dương di động, nằm ở khí quản. 

Bảng 4: Hình ảnh X‐quang ngực nhóm DVĐT bị 

chẩn đoán nhầm 

Ứ khí bất thường + Viêm phổi + Xẹp phổi 3 10,4

Viêm phổi + Xẹp phổi + Tràn khí màng phổi 1 3,4

5  trường  hợp  chụp  CT  scan  ngực  trước  nội 

soi thấy được dị vật 4 trường hợp.  

BÀN LUẬN 

Đặc điểm về tuổi, giới, nơi cư trú, hoàn cảnh 

mắc  dị  vật  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi 

tương đương với các nghiên cứu khác(5,14). DVĐT 

tập trung ở trẻ 1 ‐ 3 tuổi và 70% xảy ra lúc đang 

ăn  bởi  vì  ở  giai  đoạn  này  trẻ  chưa  đủ  răng  để 

nghiền  nát  thức  ăn,  hay  khóc,  cười  đùa,  chạy 

nhảy  trong  khi  ăn;  thêm  vào  đó  ở  lứa  tuổi  này 

trẻ  đã  tự  đi  lại  được,  hay  cho  thức  ăn,  đồ  chơi 

vào miệng, trong khi phản xạ bảo vệ đường hô 

hấp tránh vật lạ xâm nhập chưa hoàn hảo(3). 

Về  triệu  chứng  lâm  sàng  thì  triệu  chứng  cơ  năng ho và khò khè hay gặp với tỷ lệ là 31,7% và  30%,  tương  đương  kết  quả  của  tác  giả  Lương  Minh  Hương(8).  Nghiên  cứu  chúng  tôi  cho  kết  quả 45% bệnh nhi có triệu chứng lâm sàng gợi ý 

có dị vật như giảm phế âm một bên phổi, thở rít,  tiếng rít bất thường phổi, xẹp một bên phổi, cơn  tím khi di chuyển trẻ.  

Trên  phim  X‐quang  ngực  hình  ảnh  dị  vật  cản quang gặp 6 ca (10%), tương đương với kết  quả  của  Nguyễn  Thái  Sơn(10),Chik  K  K(2).  Ở  trẻ 

em thì dị vật phần lớn là chất hữu cơ không cản  quang nên tỉ lệ thấy trực tiếp dị vật trên phim X‐ quang  ngực  thấp,  các  hình  ảnh  gián  tiếp  gợi  ý  tắc  nghẽn  một  phần  đường  thở  là  ứ  khí,  xẹp  phổi, đẩy lệch khí quản, trung thất. Ngoài ra còn  thấy tổn thương do biến chứng dị vật hay bệnh  kèm. 

CT scan ngực áp dụng trong những trường  hợp  chẩn  đoán  không  rõ  ràng  hay  nghi  có  bất  thường bẩm sinh đường hô hấp, hoặc chụp CT  scan ngực để đánh giá lại dị vật và biến chứng ở  những trường hợp đã gắp dị vật mà còn tồn tại  triệu chứng trên lâm sàng hay X‐quang ngực.   Loại dị vật chủ yếu là từ thức ăn (81,6%) mà  phần  lớn  là  các  loại  hạt,  tiếp  theo  là  các  mảnh  xương. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của  các tác giả khác(2,8,14)

Về các trường hợp bị cẩn đoán nhầm 

Trong nhóm DVĐT chẩn đoán nhầm 72,4%  các trường hợp có bệnh sử mắc dị vật, thời điểm  khai thác bệnh sử gợi ý dị vật khi vào khoa điều  trị  và  sau  một  thời  gian  điều  trị  là  55,2%.  Như  vậy,  không  phải  lúc  nào  thân  nhân  bệnh  nhi  cũng chú ý đến bối cảnh mắc dị vật để thông tin  cho thầy thuốc, việc nghĩ tới để chú ý khai thác  giúp ích rất nhiều cho chẩn đoán và điều trị.  Trong nhóm này, các triệu chứng lâm sàng  gợi ý tắc ngẽn đường thở là: giảm phế âm, thở  rít,  tiếng  rít  thanh  quản,  lồng  ngực  xẹp  một  bên, cơn tím vã mồ hôi bứt rứt khi di chuyển.  Nếu có xuất hiện thêm triệu chứng gợi ý trong  diễn  tiến  bệnh,  hoặc  điều  trị  bệnh  theo  chẩn 

Trang 5

đến  DVĐT  ngay  cả  khi  không  khai  thác  được 

bệnh sử mắc dị vật. Tác giả FrançoisM nội soi 

50  ca  viêm  phổi  tái  diễn  nhiều  lần  thì  có  6  ca 

phát hiện dị vật(6).  

Về đặc điểm X‐quang ngực của nhóm này có 

các hình ảnh gợi ý DVĐT như: ứ khí, xẹp phổi. 

Bởi vì hầu hết dị vật ở trẻ em là loại không cản 

quang  nên  chỉ  thấy  những  dấu  hiệu  của  biến 

chứng của dị vật như nhiễm trùng và tắc nghẽn 

hình ảnh X‐quang ngực bình thường, gặp trong 

trường  hợp  dị  vật  không  cản  quang  và  không 

gây biến chứng. Do đó, nếu nghi ngờ DVĐT qua 

bệnh  sử  và  lâm  sàng  thì  nên  nội  soi  để  chẩn 

đoán và điều trị dù không tổn thương trên phim 

X‐quang ngực. 

CT scan ngực có giá trị trong chẩn đoán DV, 

các  tổn  thương  phổi  và  giúp  chẩn  đoán  phân 

biệt với các trường hợp dị tật đường thở hay bất 

thường  mạch  máu.  Nhưng  không  được  làm 

thường qui vì giá thành cao, mức độ ăn tia X và 

sự  hợp  tác  của  bệnh  nhi.  Phương  pháp  nội  soi 

phế quản vừa có giá trị chẩn đoán lại vừa điều 

trị đặc hiệu DVĐT. 

KẾT LUẬN 

Cần  chú  ý  khai  thác  kỹ  bệnh  sử  gợi  ý  mắc 

DVĐT ở những trẻ có triệu chứng hô hấp khởi 

phát đột ngột hoặc không đáp ứng  với  điều  trị 

các bệnh lý hô hấp khác. Nên nội soi phế quản 

sớm  ở  những  trẻ  có  nghi  ngờ  dị  vật  dựa  trên 

bệnh sử và lâm sàng. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

emergecy medicine, pp 13‐15. 

Chinese Children. Hong Kong Med J, 15(1): 06‐11. 

Prevention of choking among children. Pediatrics, 125(3): 601.  

children:  experience  of  1160  cases.  Ann  Trop  Paediatr,  23(1): 31. 

5 Even  L,  Lea  E,  et  al  (2005).  Diagnostic  evaluation  of  foreign  body  aspiration  in  children:  a  prospective  study.  J  Pediatr  Surg, 40(7): 1122. 

exploration for foreign bodies of the lower respiratory tract of  the  child.  Apropos  of  668  cases.  Ann  Otolaryngol  Chir  Cervicofac, 102(6): 433. 

aspiration.Pediatr Rev, 30(8): 295. 

quả  điều  trị  dị  vật  đường  thở  tại  bệnh  viện  Tai  Mũi  Họng  Trung ương. Y học thực hành, 666(6): 26‐28. 

Bodies in Pediatric Airway. JK – Practitioner, 13(1): 18‐22. 

quả nội soi hô hấp ở trẻ em bị dị vật đường thở tại Bệnh viện  Nhi đồng 1 năm 2007. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 12(4):  263–266.  

quyển 2, tr: 296‐303. Nxb Y học. 

10‐year review. Int J Pediatr Otorhinolaryngol, 56(2): 91. 

bodies  in  children:  importance  of  accurate  history  and  plain  chest  radiography  in  delayed  presentation.  Clin  Radiol, 59(7): 609. 

14 Vitor  C,  et  al  (2003).  Foreign  body  in  children’s  airways.  J.  Pneumologia, 29(3): 102‐112. 

 

 Ngày nhận bài báo: 31/10/2013   Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/11/2013   Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w