Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá lợi ích của việc kết hợp điều trị co rút mi dưới và giảm áp hốc mắt trong cùng một lần phẫu thuật bằng đường mổ lật toàn bộ mi dưới. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.
Trang 1SỬ DỤNG ĐƯỜNG MỔ LẬT TOÀN BỘ MI DƯỚI TRONG PHẪU THUẬT GIẢM ÁP HỐC MẮT ĐIỀU TRỊ BỆNH MẮT BASEDOW
Nguyễn Chiến Thắng*
TÓM TẮT
Nghiên cứu can thiệp, đánh giá trước-sau trên 47 mắt của 33 bệnh nhân (BN) Chia BN thành
2 nhóm: nhóm A (n = 27): phẫu thuật giảm áp hốc mắt kết hợp với cắt cơ co mi dưới; nhóm B (n = 20): chỉ phẫu thuật giảm áp hốc mắt theo đường mổ qua da Đánh giá sau 6 tháng dựa trên ảnh
chụp trước và sau mổ, độ cao mi dưới và mức độ co rút còn lại sau phẫu thuật mi dưới Kết quả:
nhóm A: mi dưới được nâng lên cao hơn nhóm B (1,8 ± 0,8 mm so với 1,1 ± 0,8 mm) (p = 0,042)
Không có biến chứng nào trong và sau phẫu thuật
* Từ khóa: Co rút mi; Bệnh mắt Basedow
EFFICACY OF SWINGING EYELID ORBITAL DECOMPRESSION IN THYROID ORBITOPATHY
SUMMARY
A retrospective, comparative, non-randomized clinical trial was carried out on 47 eyes of 33
patients with thyroid orbitopathy Patients were divided into a combined orbital decompression and
inferior retractor recession group (group A, n = 27) and an orbital decompression non-recession group
(group B, n = 20) We reported outcomes at 6 months based on postoperative standard photographs
Lower eyelid height and lower eyelid lateral flare were recorded The A group achieved a greater
improvement in lower eyelid elevation (1.8 ± 0.8 mm) compared to the B group (1.1 ± 0.8 mm) (p = 0.042) No lower eyelid complications were occurred
* Key words: Eyelid retraction; Thyroid orbitopathy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Co rút mi là một triệu chứng thường gặp
của bệnh mắt Basedow [1] Việc điều trị
co rút mi thường được tiến hành sau các
phẫu thuật khác [2] Do đó, để giảm số
lần phẫu thuật và gây mê, giảm số lần BN
phải nhập viện nhiều lần, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đánh giá lợi ích của việc
kết hợp điều trị co rút mi dưới và giảm áp
hốc mắt trong cùng một lần phẫu thuật bằng đường mổ lật toàn bộ mi dưới
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
47 mắt của 33 BN bị bệnh mắt Basedow, điều trị tại Khoa Mắt, Bệnh viÖn 103 trong 5 năm (2007 - 2011)
* Bệnh viện 103
Chịu trách nhiệm nội dung khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Đàm
Trang 21 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp, so sánh trước-sau
Chia BN thành 2 nhóm, nhóm A (n = 27)
được phẫu thuật giảm áp hốc mắt kết hợp
với cắt cơ co mi dưới, nhóm B (n = 20)
phẫu thuật giảm áp hốc mắt theo đưêng mổ
qua da Phân chia BN theo tuổi, giới, thời
gian theo dõi, lượng mỡ được lấy bỏ và độ
lồi sau phẫu thuật Đánh giá sau 6 tháng
dựa vào ảnh chụp trước và sau mổ, độ cao
mi dưới và mức độ co rút của mi dưới Độ
cao mi tính bằng khoảng cách từ trung tâm
đồng tử thẳng xuống bờ mi dưới Mức độ
co rút của mi dưới đánh giá bằng ảnh chụp
trước và sau phẫu thuật
* K ỹ thuật mổ:
BN được gây mê nội khí quản Nhóm A:
đường mổ đi qua kết mạc mi dưới, cắt qua
cơ co mi dưới cho tới bờ dưới xương hốc
mắt, kéo dài từ lỗ lệ phía trong và mở rộng
ra góc ngoài của mắt Nhóm B: đường mổ
qua da mi dưới sát hàng chân lông mi, bóc
tách da và tổ chức dưới da với cơ vòng mi
và vách hốc mắt tới bờ dưới xương hốc
mắt (không cắt qua cơ co mi dưới) Thì tiếp
theo cả 2 nhóm: cắt thành xương hốc mắt
phía dưới và phía trong để giảm áp hốc mắt
giống nhau Khi đóng vết mổ, nhóm A dùng
chỉ 6.0 khâu lại chỗ bám của nhánh dưới
dây chằng mi ngoài và khâu da, nhóm B
khâu da bằng chỉ 6.0
* Phân tích số liệu
Phân tích và xử lý số liệu bằng phần mềm
Epi.info 6.04, kiểm định Mann-Whitney và
kiểm định chính xác Fisher
Co rút mi dưới nặng
Bình thường Co rút nhẹ
H×nh 1: Ảnh chân dung trước và sau mổ được
cong mi dưới bình thường, co rút mi dưới nhẹ phía ngoài và co rút mi dưới mức độ nặng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ
BÀN LUẬN
Bảng 1: Tuổi, giới, thời gian theo dõi
NHÓM TUỔI VÀ GIỚI
NHÓM A (SD) (n = 27)
NHÓM B (SD) (n = 20)
p
Giới, số lượng (%)
Thời gian theo dõi
Trang 3Bảng 2: Thay đổi độ lồi mắt trước và
sau mổ
ĐỘ LỒI (mm)
NHÓM A (SD) (n = 27)
NHÓM B (SD) (n = 20)
p
Bảng 3: Thay đỏi độ co rút mi trước và
sau mổ
ĐỘ CAO MI
DƯỚI (mm)
NHÓM A (SD) (n = 27)
NHÓM B (SD) (n = 20)
p
Hình 2: BN Nguyễn Văn T, 37 tuổi, phẫu thuật
kết hợp theo đường mổ lật toàn bộ mi dưới
Thông thường, BN bị bệnh mắt Basedow
phải trải qua 4 lần phẫu thuật [3] Đầu tiên
là phẫu thuật giảm áp hốc mắt, tiếp theo là
phẫu thuật chỉnh lác, phẫu thuật điều trị co
rút mi và cuối cùng là phẫu thuật tạo hình mi
Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh
mắt Basedow là co rút mi Các nghiên cứu
đều gặp triệu chứng co rút mi với tỷ lệ rất
chưa rõ ràng Tuy nhiên, có một số yếu tố tạo nên triệu chứng co rút mi [4]: co rút cơ Muller do kích thích của thần kinh giao cảm, viêm và xơ hoá cơ co mi, hiện tượng dính vào các cơ trong hốc mắt và vào vách hốc mắt của cơ co mi, lác ẩn (tạo ra từ co rút và
xơ hoá cơ co mi bên kia) gây co rút mi và bản thân nhãn cầu lồi ra trước cũng gây biểu hiện co rút mi
Cho đến nay có nhiều phương pháp phẫu thuật để điều trị co rút mi dưới trong bệnh mắt Basedow Holds và CS [5] thông báo kỹ thuật cắt cơ co mi dưới qua đường hầm phía ngoài sụn mi dưới mà không phải cắt kết mạc Kết quả theo dõi sau 12 tháng trên 200 mắt thấy: mi dưới được nâng lên
“ít nhất 1 mm”
Việc dùng mảnh ghép để nâng mi dưới cũng là một kỹ thuật phổ biến Vật liệu mảnh ghép có thể là mảnh cân phía sau tai, mảnh sụn khẩu cái, vạt bì mỡ, củng mạc của người cho và các vật liệu nhân tạo (như Mersilene mesh, porous polyethylene và alloderm) với kết quả mi dưới được nâng lên từ 1,15 - 2,38 mm [6]
Chúng tôi dùng đường mổ lật toàn bộ mi dưới, đường mổ này đi qua kết mạc, cắt cơ
co mi dưới để đi xuống bờ dưới xương hốc mắt Sau khi kết thúc cuộc mổ, khâu phần ngoài sụn mi dưới vào bờ trên của gân góc mắt ngoài cũng giúp nâng mi dưới lên trên Mặc dù, 1 BN nhóm A, mi dưới chỉ lên cao thêm được 1 mm, nhưng không có biến chứng nào liên quan đến việc cắt cơ co mi dưới Chúng tôi thấy rằng co rút mi dưới sẽ được cải thiện sau phẫu thuật giảm áp hốc mắt, vì độ lồi của mắt giảm làm cho co rút
mi dưới giảm Kết quả độ lồi mắt sau phẫu thuật của nghiên cứu này tương tự các tác
Trang 4giả khác [7] Baldeschi và CS [7] phẫu thuật
giảm áp cho 125 BN thấy: 55% BN có giảm
co rút mi dưới KÕt qu¶ của chúng t«i: 48%
BN nhóm B có độ cao mi dưới giảm ≥ 1 mm,
nhưng trong nhóm A, nhóm có kết hợp hai
phẫu thuật, tỷ lệ giảm co rút mi dưới là 58%
Ở một số BN phẫu thuật kết hợp cùng
một lúc điều trị giảm áp hốc mắt và co rút
mi không hoàn toàn giải quyết được toàn
bộ co rút mi Trong nghiên cứu này, 2 BN
vẫn phải phẫu thuật mi dưới lần nữa Dù
sao số liệu của chúng tôi cho thấy kết quả
điều trị co rút mi tương đương với nghiên
cứu của các tác giả khác khi thực hiện
phẫu thuật điều trị co rút mi ở lần sau [6, 8]
KẾT LUẬN
Đường mổ lật toàn bộ mi dưới trong
phẫu thuật giảm áp hốc mắt để điều trị kết
hợp co rút mi dưới trong cùng một thì an
toàn và giúp nâng độ cao mi dưới tốt hơn
so với nhóm không điều trị kết hợp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Wiersinga W M Graves’ ophthalmopathy
Thyroid International 1997, 3, pp.1-15
2 Shorr N, Seiff SR The four stages of surgical
rehabilitation of the patient with dysthyroid orbitopathy
Ophthalmalogy 1986, 93, pp.476-483
3 Liao SL, Shih MJ, Lin LL A procedure to
minimize lower lid retraction during large inferior rectus recession in graves ophthalmopathy Am
J Ophthalmol 2006, 141, pp.340-345
4 Feldon S E., Levin L Graves´ ophthalmopathy actiology of upper eyelid retraction in graves ophthalmopathy Br J Ophthalmol 1990, 74, pp.884-885
5 Holds JB, Anderson RL, Thiese SM Lower
eyelid retraction: a minimal incision surgical approach
to retractor lysis Ophthalmic Surg 1990, 21,
pp.767-671
6 Feldman KA, Putterman AM, Farber MD
Surgical treatment of thyroid-related lower eyelid retraction: a modified approach Ophthal Plast Reconstr Surg 1992, 8, pp.278-286
7 Baldeschi L, Wakelkamp IM, Lindeboom
R, Prummel MF & Wiersinga WM Early
versus late orbital decompression in Graves' orbitopathy: a retrospective study in 125 patients Ophthalmology 2006, 113, pp.874-878
8 Bartalena L., Baldeschi L., Dickinson A, et al
Consensus statement of the European Group on graves’orbitopathy (EUGOGO) on management
of GO European Journal of Endocrinology 2008,
158, pp.273-285
Ngày nhận bài: 13/12/2012 Ngày giao phản biện: 7/1/2013 Ngày giao bản thảo in: 6/2/2013