1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhận xét kết quả điều trị sỏi niệu quản đoạn lưng bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể tại Bệnh viện Bình Dân

7 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 231,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ hết sỏi trong điều trị sỏi niệu quản đoạn lưng bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể và một số yếu tố liên quan tới kết quả điều trị. Nghiên cứu tiến cứu 32 bệnh nhân sỏi niệu quản đoạn lưng được điều trị bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể trên máy HK-ESWL-V tại Bệnh viện Bình Dân từ 01/2006-6/2006.

Trang 1

NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN ĐOẠN LƯNG

BẰNG PHƯƠNG PHÁP TÁN SỎI NGOÀI CƠ THỂ

TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN

Nguyễn Việt Cường*, Vũ Lê Chuyên**, Nguyễn Tiến Đệ**, Lê Văn Hiếu Nhân**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hết sỏi trong điều trị sỏi niệu quản đoạn lưng bằng phương pháp tán sỏi ngoài

cơ thể và một số yếu tố liên quan tới kết quả điều trị

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu 32 bệnh nhân sỏi niệu quản đoạn lưng

được điều trị bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể trên máy HK – ESWL – V tại Bệnh viện Bình Dân từ 01/2006 – 6/2006

Kết quả: Tỷ lệ hết sỏi chung sau 1 lần tán: 71,9%; sau 2 lần tán: 81,3% Không có tai biến – biến

chứng lớn 1 trường hợp phải chuyển mở niệu quản lấy sỏi qua nội soi sau phúc mạc do sỏi không vỡ và làm tắc niệu quản Tỷ lệ hết sỏi thấp hơn ở các bệnh nhân sỏi kích thước lớn hơn 1 cm (6/8 so với 20/24), sỏi cản quang mạnh (4/4 trường hợp không hết sỏi), chức năng thận giảm (6/8 so với 20/24) Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê có thể do mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn

Kết luận: Điều trị sỏi niệu quản đoạn lưng bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể là phương pháp điều

trị tốt, nên được lựa chọn đầu tiên, đặc biệt khi sỏi nhỏ, kém cản quang, chức năng thận tốt

ABSTRACT

REMARK ON THE RESULT OF UPPER URETERAL STONE TREATMENT BY ESWL AT BINH

DAN HOSPITAL

Nguyen Viet Cuong, Vu Le Chuyen, Nguyen Tien De, Le Van Hieu Nhan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 330 - 335

Objectives: determine the stone - free rate and some relative factors in the treatment of upper ureteral

stones by ESWL

Materials and methods: 32 patients with upper ureteral stones have been researched prospectively on

the treatment result by ESWL with HK – ESWL –V machine at Binh Dan Hospital since 01/2006 to 6/2006

Results: The rate of stone - free was 71.9% after the first ESWL and 81.3% after the second time No

severe complication was noted, 1 case was performed retroperitoneally endoscopic ureterolithotomy due to ureteral stone obstruction The tone - free rate was lower in patients with stones diameter > 1 cm (6/8 vs 20/24), strong radiodensity stones (non of 4 cases was stone free), insufficient renal function (6/8 vs 20/24) Neverthless, the differences were not statistically significant because, maybe, the sample size was small

Conclusion: Upper ureteral stones treatment by ESWL is a good procedure and should be the first

choice, especially when stones are small, not strong radiopaque and the renal function is not impaired

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sỏi tiết niệu là một bệnh lý thường gặp, hay

tái phát, tỷ lệ bệnh sỏi tiết niệu vào khoảng 2 –

3% dân số và thay đổi tuỳ theo từng vùng Sỏi đường tiết niệu trên chiếm tỷ lệ trên 90% sỏi tiết niệu(5), trong đó sỏi niệu quản đoạn lưng

* Bệnh viện 175

** Bệnh viện Bình Dân

Trang 2

(SNQĐL) chiếm một tỷ lệ không nhỏ và gây nên

nhiều biến chứng như nhiễm khuẩn niệu, tiểu

máu, suy thận

Từ những năm 80 của thế kỷ 20 trở lại đây,

với sự xuất hiện của hàng loạt các phương pháp

điều trị sỏi niệu quản ít sang chấn: tán sỏi niệu

quản nội soi (Intraureteral Lithotripsy), mở niệu

quản lấy sỏi bằng phương pháp nội soi qua phúc

mạc hoặc sau phúc mạc (Transperitoneally or

Retroperitoneally Endoscopic Ureterolithotomy),

tán sỏi noài cơ thể (Extracorporeal Shock Wave

Lithotripsy - ESWL), các nhà niệu khoa đã có

nhiều sự lựa chọn trong điều trị SNQĐL

Sự ra đời của phương pháp tán sỏi ngoài cơ

thể được xem như một cuộc cách mạng trong

điều trị sỏi niệu nói chung và SNQĐL nói

riêng(2,10).Ở các nước phát triển, tán sỏi ngoài cơ

thể là sự lựa chọn số một trong điều trị

SNQĐL(10) Tuy nhiên, tại Việt Nam, tán sỏi

ngoài cơ thể trong điều trị SNQĐL chưa thực sự

là sự lựa chọn hàng đầu Để góp phần nâng cao

vai trò tán sỏi ngoài cơ thể trong điều trị sỏi niệu

quản đoạn lưng, chúng tôi thưc hiện đề tài này

nhằm mục tiêu:

- Xác định tỷ lệ thành công trong điều trị sỏi

niệu quản đoạn lưng bằng phương pháp tán sỏi

ngoài cơ thể

- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết

quả điều trị sỏi niệu quản đoạn lưng bằng

phưong pháp tán sỏi ngoài cơ thể

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

* 32 Bệnh nhân (BN) có SNQĐL được điều

trị bằng phương pháp ESWL tại phòng tán sỏi

Bệnh viện Bình Dân từ tháng 01/2006 đến tháng

6/2006

* Chỉ định: SNQĐL kích thước ≤ 2 cm, số

lượng không quá 2 viên, không có chống chỉ

định ESWL

Phương pháp nghiên cứu

Loại hình nghiên cứu

Tiến cứu, mô tả

Phương tiện nghiên cứu

Máy tán sỏi HK - ESWL - V sản xuất tại

Trung Quốc, thuộc thế hệ thứ 3, hệ thống định vị

X – Quang, nguồn phát sóng xung kiểu điện thuỷ lực (Electrohydraulic generator)

Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các đặc điểm chung của BN về tuổi, giới Đặc điểm hệ tiết niệu: chức năng thận, mức độ chướng nước, các dị dạng …Hình thái sỏi: vị trí, kích thước, số lưọng, mức độ cản quang, đậm độ, bờ…

- Các BN được làm các xét nghiệm tiền phẫu, chụp thận thuốc tĩnh mạch (UIV), chụp hệ niệu không chuẩn bị (KUB), siêu âm bụng – niệu, tán sỏi ngoài cơ thể có giảm đau bằng Efferalgan codeine 500 mg × 2 viên hoặc Diclofenac 75 mg × 1 ống, nằm theo dõi tại phòng tán sỏi 3 giờ sau tán, hẹn tái khám sau 4 tuần, có hướng dẫn chế độ sinh hoạt và uống thuốc tại

- Kết quả điều trị: tỷ lệ hết sỏi sau 3 tháng, tỷ

lệ phải tán lại, phải sử dụng các thủ thuật bổ sung và chuyển phương pháp điều trị, tai biến – biến chứng …

Xử lý số liệu

Xử lý các số liệu thu được trên phần mềm SPSS 13.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm BN

Đặc điểm về tuổi, giới

- Tuổi trung bình: 41,31 ± 10,85; nhỏ nhất: 23;

lớn nhất:69

- Nam:18; Nữ: 14

- Tỷ lệ nam/nữ: 9/7

Trang 3

Đặc điểm sỏi

Bảng 1: Vị trí sỏi

V ị trí s ỏ i S ố BN T ỷ l ệ (%)

- Đa số các BN sỏi nằm đoạn niệu quàn

ngang L2 – L3,

- 5/32 TH (15,6%) kết quả siêu âm không

thấy sỏi

Bảng 2: Kích thước sỏi

Kích th ướ c s ỏ i S ố BN T ỷ l ệ (%)

75% BN có sỏi kích thươc ≤ 10 mm, không có

TH nào sỏi kích thước > 15 mm

Bảng 3: Số lượng sỏi

S ố l ượ ng s ỏ i S ố BN T ỷ l ệ (%)

Đa số BN chỉ có 1 viên sỏi niệu quản

(93,8%)

Kết quả chung điều trị sỏi niệu quản đoạn

lưng bằng ESWL

Bảng 4: Số lần tán sỏi

S ố l ầ n tán S ố BN T l ệ (%)

27/32 TH (84,4%) chỉ phải tán 1 lần 5/32 TH

(15,6%) phải tán lại lần 2

Bảng 5: Số xung sử dụng cho 1 lần tán sỏi

S ố xung s ử d ụ ng S ố TH T l ệ (%)

- Số xung sử dụng trung bình tán lần 1:

2526,34 ± 586,93

- Hệ số tương quan giữa số xung sử dụng và kích thước sỏi r = 0,395 (p = 0,025)

- Số xung sử dụng trung bình của các BN hết sỏi: 2767; thấp nhất: 1500; cao nhất: 6115 (sau 2 lần tán)

Bảng 6: Kết quả tán sỏi chung (Sau 3 tháng)

K ế t qu ả S ố BN T l ệ (%)

- Tỷ lệ hết sỏi chung sau 2 lần tán: 81,3%

- Số BN phải thực hiện các kỹ thuật bổ sung: 1BN (3,1%)

- Tai biến – biến chứng: không ghi nhận được các tai biến – biến chứng lớn 2 TH tắc niệu quản sau tán sỏi: 1 TH tắc niệu quản đoạn chậu sau lần tán đầu tiên phải tán sỏi nội soi niệu quản, 1 TH tán 2 viên sỏi niệu quản sau 2 lần tán

phải chuyển mổ nội soi lấy sỏi sau phúc mạc Kết quả tán sỏi theo đặc điểm hệ niệu và sỏi

Bảng 7: Kết qua hết sỏi theo vị trí

L2 – L3 L4 – L5 C ộ ng

V ị trí

K ế t qu ả S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ

Hết sỏi 21 80,8 5 83,3 26 81,3 Còn sỏi 5 19,2 1 16,7 6 18,7

Tỷ lệ hết sỏi giữa các nhóm BN được phân chia theo vị trí sỏi không có ý nghĩa thống kê (p

= 0,33)

Bảng 8: Kết quả hết sỏi theo kích thước

≤ 10 mm 11 – 15 mm C ộ ng Kích th ướ c

K ế t qu ả S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ

Hết sỏi 20 83,3 6 75,0 26 81,3 Còn sỏi 4 16,7 2 25,0 6 18,7

Tỷ lệ hết sỏi giữa các nhóm BN được phân chia theo kích thước sỏi không có ý nghĩa thống

kê (p = 0,32)

Trang 4

Bảng 9: Kết quả hết sỏi theo mức độ cản quang của sỏi

Kém Trung bình M ạ nh C ộ ng

M ứ c

độ

K ế t qu ả

S ố

BN

T ỷ l ệ S ố

BN

T l ệ S ố

BN

T l ệ S ố

BN

T l ệ

Hết sỏi 6 100 20 90,9 0 0 26 81,3

Còn sỏi 0 0 2 9,1 4 100 6 18,7

Cộng 6 100 22 100 4 100 32 100

Cả 4 BN có sỏi cản quang mạnh đều không

hết sỏi, trong đó 3/4 BN không hết sỏi sau 2 lần

tán (5000 – 6000 xung)

Bảng 10: Kết quả hết sỏi theo đậm độ sỏi (X – quang)

Đề u Không đề u C ộ ng

Đậ m độ

K ế t qu ả S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ

Hết sỏi 8 88,8 18 78,3 26 81,3

Còn sỏi 1 11,2 5 21,7 6 18,7

Tỷ lệ hết sỏi giữa các nhóm BN được phân

chia theo đậm độ sỏi không có ý nghĩa thống kê

(p = 0,347).

Bảng 11: Kết quả hết sỏi theo bờ của sỏi (X – quang)

Tr ơ n Nham nh ở C ộ ng

B ờ s ỏ i

K ế t qu ả S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ

Hết sỏi 9 75,0 17 85,0 26 81,3

Còn sỏi 3 25,0 3 15,0 6 18,7

Tỷ lệ hết sỏi giữa các nhóm BN được phân

chia theo bờ của sỏi không có ý nghĩa thống kê

(p = 0,295)

Bảng 12: Kết quả hết sỏi theo mức độ ứ nước thận

Bình th ườ ng Nh ẹ V ừ a C ộ ng

M ứ c độ

K ế t qu ả

S ố BN T ỷ l ệ S ố

BN

T ỷ

l ệ

S ố

BN

T

l ệ

S ố

BN

T

l ệ

Hết sỏi 0 0 19 86,4 7 77,8 26 81,3

Còn sỏi 1 100 3 13,6 2 22,2 6 18,7

Cộng 1 100 22 100 9 100 32 100

Tỷ lệ hết sỏi giữa các nhóm BN được phân

chia theo mức độ ứ nước thận không có ý nghĩa

thống kê (p = 0,316)

Bảng 13: Kết quả hết sỏi theo chức năng thận (UIV)

T ố t Trung bình C ộ ng

Ch ư c n ă ng

K ế t qu ả S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ S ố BN T ỷ l ệ

Hết sỏi 20 83,3 6 75,0 26 81,3 Còn sỏi 4 16,7 2 25,0 6 18,7

Tỷ lệ hết sỏi giữa các nhóm BN được phân chia theo chức năng thận không có ý nghĩa

thống kê (p = 0,33)

BÀN LUẬN Kết quả điều trị

32 BN (18 nam, 14 nữ) có SNQĐL chủ yếu nằm đoạn niệu quản ngang L2 – L3 (81,2%), kích thước ≤ 15 mm được điều trị bằng phương pháp TSNCT với số xung trung bình: 2526,34 ± 586,93 kết quả:

- Tỷ lệ hết sỏi sau 1 lần tán: 71,9%; sau 2 lần tán: 81,3% 5/32 BN (15,6%) phải tán lại lần 2 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương hoặc cao hơn kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nguyễn Thị Thuần (2004) và cộng sự nghiên cứu kết quả tán sỏi niệu quản đoạn trên ở 104 BN cho kết quả hết sỏi sau 1 lần tán: 58,65% (p < 0,05), sau 2 lần tán: 77,8%; tỷ lệ BN phải tán sỏi lại: 33,6% (p < 0,05)(11) Theo kết quả nghiên cứu của Wing Seng Leong (2000), tỷ lệ hết sỏi với SNQĐL sau 2 lần tán tới 87,7% và tác giả không thấy sư khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm

BN được tán sỏi niệu quản tại chỗ và nhóm BN

có sỏi niệu quản được đẩy lên thận và đặt JJ trước khi TSNCT (87,7% và 88%)(12)

- Chúng tôi không ghi nhận được những tai biến – biến chứng lớn, 2 TH có biến chứng tắc niệu quản do mảnh sỏi vỡ trong đó 1 TH phải tán sỏi nội soi niệu quản (3,1%) và 1 TH (3,1%) phải mở niệu quản lấy sỏi qua nội soi sau phúc mạc sau khi tán 2 viên SNQĐL lần 2 nhưng không hiệu quả Với SNQĐL 2 viên, chúng tôi chỉ TSNCT khi 2 viên sỏi nằm sát nhau, kích thước nhỏ và tiên lượng sỏi vỡ chỉ sau 1 lần tán Tuy nhiên, 2 TH có SNQĐL 2 viên thì chỉ có 1

TH thành công

Trang 5

Đặc điểm sỏi và hệ niệu liên quan tối kết quả

điều trị

- Đặc điểm sỏi và hệ tiết niệu liên quan tới kết

quả điều trị sỏi niệu quản đã được nhiều tác giả đề

cập Tuy nhiên, việc tiên lượng kết quả điều trị vẫn

còn gặp khó khăn do không có yếu tố nào giúp

tiên lượng chính xác Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ hết

sỏi thấp hơn ở các BN có sỏi kích thước > 10mm

(75%; 83,3%), sỏi có bờ trơn láng (75%; 85%), sỏi đã

gây ứ nước thận mức độ vừa (77,8%; 86,4%), sỏi đã

làm giảm chức năng thận (75%; 83,3%) Do mẫu

nghiên cứu còn nhỏ nên sự khác biệt giữa các

nhóm bệnh nhân được phân chia theo các đặc

điểm trên chưa có ý nghĩa thống kê và cần phải có

những nghiên cứu với số lượng lớn giúp đưa ra

các yếu tố tiên lượng góp phần chỉ định điều trị

SNQĐL hợp lý hơn.Trong nghiên cứu của chúng

tôi có 4 TH sỏi cản quang mạnh (so với độ cản

quang của 3 đốt sống thắt lưng đầu tiên), cả 4 TH

đều không hết sỏi, trong đó có 3 TH không hết sỏi

sau 2 lần tán với số sung sử dụng tổng cộng lên tới

5000 – 6000

- Lê Đình Khánh và cộng sự (2005) khi

nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả tán

sỏi thận kích thước lớn cũng nhận thấy sỏi có độ

cản quang mạnh, đường bờ trơn láng, đậm độ

cản quang không đều là những yếu tố hạn chế

kết quả TSNCT(7)

- Krishnamurthy MS (2005) nghiên cứu kết

quả TSNCT dựa trên mức độ cản quang của sỏi

so với xương sườn 12 cùng bên cho kết quả

tương tự: tỷ lệ hết sỏi ở nhóm BN có cỏi cản

quang mạnh chỉ là 60% so với 71% ở nhóm có sỏi

cản quang vừa và yếu(6)

- Một số tác giả như Cheng G (2006), Joshida

S (2006) cho rằng đơn vị Hounsfield của sỏi khi

chụp cắt lớp vi tính là yếu tố tiên lượng kết quả

TSNCT(2,4)

KẾT LUẬN

- Điều trị sỏi niệu quản đoạn lưng bằng

phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể cho kết quả tốt

với 71,9% bệnh nhân hết sỏi sau 1 lần tán, 81,3%

sau 2 lần tán.Tỷ lệ bệnh nhân phải tán lại 15,6%

Chúng tôi không gặp các tai biến – biến chứng lớn, chỉ có 1 trường hợp phải chuyển phương pháp điều trị (3,1%)

- Mặc dù số lượng bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu chưa nhiều nên kết quả điều trị giữa các nhóm bệnh nhân được phân chia theo kích thước, mức độ cản quang, đậm độ và bờ của sỏi trên X – quang, chức năng thận, mức độ ứ nước thận khác biệt chưa có ý nghỉa thống kê nhưng đây cũng là những yếu tố tiên lượng kết quả điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abdel – Khalek M, Sheir KZ (2004), “ Prediction of success rate after ESWL of renal stones – A multivariate analysis

model.”, Scand J Urol Nephrol, 38 (2), p 161 – 7

2 Cheng G, Xie LD (2006), “ Value of Hounsfield unit on CT

in prediction of stone – free rate of upper urinary calculi

after ESWL.”, Yhonghua Yi Xue Za Zhi, 86 (4), p 276 – 8

3 James E Lingeman, M.D (1996), “ Extracorporeal Shock

Wave Lithotripsy “, Smith textbook of endourology (1),

Quality Medical Publishing, INC, p 529 – 695

4 Joshida S, Hayashi T (2006), “ Role of volume and attenuation value histogram of urinary stone on noncontrast helical computed tomography as predictor of

fragility by ESWL “, Urology, 68 (1), p 33 – 7

5. Kiều Chí Thành (2000), Nghiên cứu căn nguyên vi khuẩn và một số yếu tố liên quan trên bệnh mhân sỏi tiết niệu nhiễm khuẩn, Luận án tiến sĩ y học, Hà Nội

6 Krishnamurthy MS, Ferucci PG (2005), “ Is stone radiodensity

a useful parameter for predicting outcome of ESWL for stones

< or = 2 cm “, Int Braz J Urol, 31 (1), p 3 – 8

7 Lê Đình Khánh (2005), “ Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị sỏi thận có kích thước 20 – 50 mm bằng máy

tán sỏi ngoài cơ thể MZ – ESWL VI “, Y học thực hành, 503

(2), p.20 – 23

8 Lê Đình Khánh (2002), “ Kết quả tán sỏi ngoài cơ thể điều trị sỏi tiết niệu bằng máy MZ – ESWL - VI tại trường Đại

học Y khoa Huế “, Tạp chí ngoại khoa, Phụ trương hội nghi

ngoại khoa quốc gia Việt Nam lần thứ XII, p.307 – 310

9 Mani M., Bhalchondra G et al (1998), ‘’ Urinary lithiasis: Etiology, Diagnosis, and Medical management ‘’,

Campbell’urology (3), W.B Saunders company, p.2661 – 2733

10 Muslumanoglu AY, Tefekli AH (2006), “ Efficacy of ESWL

for ureteric stones in children “, Int Urol Nephrol, 38 (2), p

225 – 9

11 Nguyễn Thị Thuần (2004), “ Đánh giá kết quả tán sỏi ngoài cơ thể điều trị sỏi thận – tiết niệu bằng máy MZ – ESWL – VI tại

bệnh viện E “, Y học thực hành, 491, p.506 – 510

12 Wing Seng Leong et al (2000), “ In – situ Extracorporeal Shock Wave Lithotripsy (ESWL) – the treatment of choice

for ureteric calculi “, The fifth Asian congress on Urology,

Beijing, china, p.137 – 138

Ngày đăng: 21/01/2020, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm