1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá bước đầu về phương pháp sử dụng chất liệu silicon trong phẫu thuật vỡ sàn hốc mắt

9 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 266,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tiến hành trên 26 bệnh nhân vỡ sàn hốc mắt được điều trị phẫu thuật tại Khoa Mắt Bệnh Viện Trung Ương Huế từ tháng 1 năm 1998 đến tháng 6 năm 2004. Tất cả bệnh nhân đều có chỉ định phẫu thuật tái tạo sàn hốc mắt. Chất liệu silicon được sử dụng cho tất cả các bệnh nhân này và không có trường hợp nào có dấu hiệu không dung nạp. Kết quả cho thấy 84,6% bệnh nhân đạt kết quả tốt sau khi ra viện.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG CHẤT LIỆU SILICON TRONG PHẪU THUẬT VỠ SÀN HỐC MẮT

TRẦN ĐÌNH LẬP, DƯƠNG ANH QUÂN, VÕ LÂM PHƯỚC

Bệnh Viện Trung Ương Huế

TÓM TẮT Nghiên cứu tiến hành trên 26 bệnh nhân vỡ sàn hốc mắt được điều trị phẫu thuật tại Khoa Mắt Bệnh Viện Trung Ương Huế từ tháng 1 năm 1998 đến tháng 6 năm 2004 Tất cả bệnh nhân đều có chỉ định phẫu thuật tái tạo sàn hốc mắt Chất liệu silicon được

sử dụng cho tất cả các bệnh nhân này và không có trường hợp nào có dấu hiệu không dung nạp Kết quả cho thấy 84,6% bệnh nhân đạt kết quả tốt sau khi ra viện

Kết luận: sử dụng chất liệu silicon để tái tạo sàn hốc mắt trong phẫu thuật vỡ sàn hốc mắt đạt hiệu quả cao, dễ kiếm, dễ sử dụng và tiết kiệm cho bệnh nhân

Vỡ xương hốc mắt là một bệnh phổ

biến do một chấn thương đụng dập tác

động vào sọ và mặt bệnh nhân Vỡ

xương có thể kèm tổn thương các thành

phần của hốc mắt, các cấu trúc nội sọ, và

các xoang cạnh mũi.[1]

Vỡ xương hốc mắt có thể phân loại

như sau: [2]

 Vỡ trong: tổn hại các thành của hốc

mắt

 Vỡ ngoài: tổn hại bờ hốc mắt và

xương kế cận

 Vỡ phối hợp: tác động cả thành hốc

mắt và bờ hốc mắt [3]

 Vỡ blow-out: là một tình trạng vỡ

trong giới hạn ở các thành hốc mắt,và là

một loại vỡ xương gián tiếp thường do

lan rộng của vỡ xương sàn hốc mắt gián

tiếp, cũng có thể kết hợp vỡ xương thành

trong hốc mắt gián tiếp Sự vỡ này có thể

làm các mảnh xương vỡ rơi vào các xoang kế cận.[1.3.5.6]

 Vỡ dạng cửa sập: là tình trạng các thành phần của hốc mắt có thể kẹt hoặc

sa vào xoang hàm qua chỗ xương vỡ của sàn hốc mắt

[1]

Vỡ sàn hốc mắt là một loại vỡ xương phổ biến trong chấn thương hốc mắt, nó có thể bao gồm cả tình trạng vỡ trong và /hoặc vỡ ngoài và/hoặc vỡ dạng cửa sập, tuỳ theo nguyên nhân gián tiếp hay trực tiếp Vỡ xương sàn hốc mắt trực tiếp có thể phát triển từ chỗ vỡ ở bờ dưới hốc mắt Trong những trường hợp này chỉ định phẫu thuật sàn hốc mắt cũng giống như vỡ xương gián tiếp (blow - out)

Phần lớn các trường hợp vỡ sàn hốc mắt gián tiếp hoặc các vỡ xương hốc mắt khác không cần phẫu thuật Chỉ định

Trang 2

phẫu thuật được đặt ra khi có một trong

các dấu hiệu sau:[4]

 Vỡ xương rộng từ 50% sàn hốc mắt

hoặc lớn hơn (xác định bằng cắt lớp vi

tính hoặc Xquang), đặc biệt nếu kèm vỡ

rộng thành trong, vỡ xương hốc mắt rộng

thường bị lõm mắt

 Song thị kèm hạn chế vận nhãn,

test cưỡng bức cơ dương tính 7-10 ngày

sau chấn thương và trên phim Xquang

hoặc CTscan có hình ảnh vỡ xương sàn

hốc mắt

 Lõm mắt trên 2mm mà bệnh nhân

không chấp nhận về mặt thẩm mỹ

Về chất liệu tái tạo sàn hốc mắt

(chèn chỗ khuyết xương) có thể dùng:

- Ghép xương tự thân (mào chậu,

xương sọ, xương sườn): chất liệu này an

toàn, dùng cho những khuyết xương rộng

hoặc để điều chỉnh lõm mắt ở giai đoạn

di chứng

- Implants dị loại: được sử dụng rộng

rãi, tránh phiền phức khi lấy xương Hiện

nay gồm có các loại sau:

- Implants kim khí dứơi kiểu miếng

mỏng đục lỗ Vitallium hoặc Titanium là

miếng đỡ mạnh, mảnh và dễ uốn

- Implants tự tiêu dùng tạo cale

xương: miếng lỗ vicryl, PDS,

hydroxyapatite, san hô

- Implants không tiêu bằng silicon,

supramid hoặc teflon

Tại Bệnh Viện Trung Ương Huế

những chất liệu trên thực sự khó kiếm,

hoặc nếu có thể kiếm được thì giá thành

cũng cao không phù hợp với túi tiền của người bệnh Do đó việc tìm một chất liệu thay thế thích hợp cho phẫu thuật này là rất cần thiết

Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả sử dụng silicon trong phẫu thuật vỡ sàn hốc mắt, qua đó có thể

áp dụng rộng rãi chất liệu này như một chất liệu chọn lựa khi mà các chất liệu khác chúng ta chưa có hoặc không có điều kiện sử dụng

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Đối tượng nghiên cứu:

26 bệnh nhân vỡ sàn hốc mắt được điều trị phẫu thuật tại Khoa Mắt Bệnh Viện Trung Ương Huế từ tháng 1 năm

1998 đến tháng 6 năm 2004

2 Phương pháp nghiên cứu:

Các bệnh nhân được khám, đánh giá tình trạng vỡ sàn hốc mắt theo tiêu chuẩn thường quy bao gồm thăm hỏi bệnh sử, khám mắt tổng quát, đánh giá tình trạng vận nhãn, thực hiện test cưỡng bức cơ, đo độ lồi mắt bằng thước Hertel, chẩn đoán hình ảnh bằng Xquang hoặc CTscan Và được phẫu thuật tạo hình hốc mắt bằng silicon

2.1 Kỹ thuật mổ:

Những bệnh nhân vào viện trong tình trạng còn sưng và xuất huyết hốc mắt được dùng steroid liều 1mg/kg cân nặng/ ngày trong 7 ngày để giảm phù trước khi phẫu thuật

Trang 3

Tất cả bệnh nhân vỡ sàn hốc mắt

đều được gây mê Đặt chỉ cơ trực dưới

(để trắc nghiệm cưỡng bức cơ) Rạch da

đường ngang bờ hốc mắt, bộc lộ bờ hốc

mắt, tách màng xương hốc mắt ra khỏi

sàn hốc mắt, bộc lộ chỗ xương vỡ giải

phóng mô và cơ ra khỏi chỗ xương sàn bị

vỡ, đặt miếng silicon kích thước tuỳ

thuộc vào kích thước lỗ vỡ sàn để ngăn

ngừa tái phát dính và kẹt mô Khâu phục

hồi màng xương, cân cơ bằng chỉ vicryl

5/0, khâu phục hồi da bằng chỉ nylon 6/0

Tra mỡ kháng sinh và băng mắt

2.2 Chất liệu thay thế:

Chất liệu silicon mà chúng tôi sử

dụng là silicon dạng khối sử dụng trong

chỉnh hình sống mũi được gửi cắt tại

khoa giải phẫu bệnh thành từng miếng

mỏng 4x6x1mm được đóng gói và tiệt

trùng bằng EOGas (Etylen Oxid Gas) ở

nhiệt độ thấp (500C) trong vòng 12 giờ

tại khoa chống nhiễm khuẩn Bệnh viện

Trung ương Huế Chất liệu silicon này có

đặc điểm: khá bền chắc, có độ dẻo tốt, dễ

kiếm, rẻ tiền và hơn hết là tính tương hợp

sinh học cao

2.3 Chăm sóc sau mổ:

Bệnh nhân được sử dụng kháng

sinh toàn thân, thuốc chống viêm,

vitamin và tra mỡ kháng sinh tại chỗ 3

lần/ngày Cắt chỉ sau 7 ngày và cho ra viện Bệnh nhân được tái khám theo dõi định kỳ

Kết quả phẫu thuật được đánh giá theo 3 mức độ sau:

 Tốt: bệnh nhân đạt yêu cầu về chức năng và thẩm mỹ Hết song thị, hết hạn chế vận nhãn, hết lõm mắt và không thải miếng silicon

 Đạt: bệnh nhân còn lõm mắt hoặc/

và song thị hoặc/ và hạn chế vận nhãn nhưng có cải thiện hơn trước phẫu thuật

và không thải miếng silicon

 Chưa đạt: vẫn còn song thị và hạn chế vận nhãn dù có cải thiện hơn trước

mổ và có dấu hiệu thải miếng silicon

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Tình hình bệnh nhân nghiên cứu:

Chúng tôi tiến hành điều trị cho 26 bệnh nhân [20 nam (77%), 6 nữ (23%)],

3 trường hợp mắt phải (11,5%), 23 trường hợp mắt trái (98,5%)

Bảng 1 Phân tích tuổi và giới tính của các bệnh nhân chấn thương vỡ sàn hốc mắt

Tuổi <20 tuổi 20-40 tuổi 40-50 tuổi >50 tuổi Tổng số

Trang 4

Tổng cộng 02 19 03 02 26

Tất cả bệnh nhân này đều được

chẩn đoán vỡ sàn hốc mắt và được phẫu

thuật, trong đó nam chiếm 77%, nữ

chiếm 23% Độ tuổi lao động chiếm 19

trường hợp (73%) Chủ yếu là do tai nạn giao thông: 24 trường hợp (92,3%), 2 trường hợp do tai nạn sinh hoạt (7,3%)

Bảng 2 Thời gian từ khi chấn thương đến khi được phẫu thuật

Số bệnh nhân đến nhập viện dưới

15 ngày sau khi chấn thương chỉ chiếm

23%, từ 15 ngày đến 1 năm chiếm 69,1%

và lớn hơn 1 năm là 7,9 %

Bảng 3 Triệu chứng lâm sàng

Có 23 trường hợp có chỉ định phẫu

thuật do kẹt mô và cơ vào chỗ xương vỡ

chiếm 88,5%, có 3 trường hợp chỉ định phẫu thuật do lõm mắt > 2mm

Trang 5

Bảng 4 Kết quả sử dụng chẩn đoán hình ảnh

Kỹ thuật

chẩn đoán hình ảnh

Số lượng bệnh nhân Tỷ lệ (%) có

giá trị chẩn đoán

Có giá trị chẩn đoán

Không có giá trị chẩn đoán

Toàn bộ bệnh nhân đều được chúng

tôi chỉ định cho chụp Xquang hốc mắt

thẳng nghiêng Có 4 trường hợp Xquang

không có giá trị chẩn đoán và 6 trường hợp có tổn thương phối hợp cần phải chỉ định chụp thêm CTscan

Bảng 5 Phương thức điều trị

Phương thức điều trị Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Đặt silicon và phối hợp xử trí với khoa Tai mũi

họng

Trong 26 bệnh nhân vỡ sàn hốc mắt

có 6 trường hợp có tổn thương các thành

hoặc xoang kế cận, chúng tôi đã phối

hợp với Tai Mũi Họng cùng phẫu thuật

Tất cả đều được chúng tôi sử dụng

Silicon trong phẫu thuật

2 Kết quả điều trị:

Tất cả 26 bệnh nhân đều được phẫu thuật an toàn, không xảy ra biến chứng trong quá trình phẫu thuật Kết quả được thể hiện trong bảng 6:

Bảng 6 Kết quả điều trị

Kết quả điều trị 1 tuần sau phẫu thuật 1 tháng sau phẫu thuật

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

Trong 22 bệnh nhân đạt kết quả tốt

có 20 bệnh nhân được điều trị trước 2

tháng kể từ khi chấn thương (xem phân

tích thời gian từ khi chấn thương đến khi được phẫu thuật trong bảng 2)

Trang 6

Có 6 bệnh nhân sau 1 tuần chúng

tôi đánh giá đạt (22,1), nhưng sau 1

tháng có 2 bệnh nhân cải thiện tình trạng

và 4 bệnh nhân không cải thiện thêm

[13,4] (xem phân tích biến chứng trong

bảng 7) Trong 4 bệnh nhân này không

cải thiện này có 2 bệnh nhân bị chấn thương cách ngày nhập viện 2 tháng, cá biệt có 2 bệnh nhân bị chấn thương cách ngày nhập viện > 1 năm [3 năm] (xem phân tích thời gian từ khi chấn thương đến khi được phẫu thuật trong bảng 2)

Bảng 7 Biến chứng sau phẫu thuật

Sau 1 tuần (n=26) Sau 1 tháng (n=26)

Số lượng Tỷ lệ(%) Số lượng Tỷ lệ(%)

Tất cả bệnh nhân đều được cắt chỉ

và tái khám 1 tuần sau phẫu thuật

BÀN LUẬN

Vỡ xương sàn hốc mắt gián tiếp

không kèm theo vỡ xương bờ dưới hốc

mắt Các thuyết trước đây cho rằng vỡ

xương gián tiếp là do tăng áp lực trong

hốc mắt đột ngột do lực sinh ra bởi một

tác nhân không xuyên thủng, tác nhân

này thường có đường kính nhỏ hơn

đường kính hốc mắt Theo thuyết này,

các tổ chức của hốc mắt bị ép về phía

đỉnh của hốc mắt, do đó xương hốc mắt

bị vỡ ở chỗ yếu nhất, thường là phần sau

trong của sàn hốc mắt ở phần xương hàm

trên Các thành phần của hốc mắt có thể

bị kẹt hoặc sa vào trong xoang hàm qua chỗ xương vỡ Một thuyết mới hơn cho rằng tác nhân va đập lớn hơn đường kính hốc mắt nên tạo ra một lực nén ở bờ hốc mắt, trực tiếp làm cho bờ hốc mắt bị oằn lại làm vỡ xương sàn hốc mắt, mức độ tăng áp lực trong hốc mắt quyết định việc

mô hốc mắt có bị đẩy vào xoang hàm hay không

Chẩn đoán vỡ xương hàm gián tiếp dựa vào bệnh sử, khám thực tế và phim Xquang hoặc CTscan Bệnh nhân thường

có tiền sử chấn thương Khám thực thể

có các dấu hiệu lâm sàng chính:

Trang 7

 Dấu hiệu ở mí mắt: bầm tím và phù

mí đôi khi có thể không có

 Song thị kèm theo hạn chế vận

nhãn Hạn chế vận nhãn lên xuống, song

thị đứng, và đau ở dưới hốc mắt khi nhãn

cầu đưa lên trên chứng tỏ cơ trực dưới

hoặc vách gian cơ bị kẹt vào chỗ xương

vỡ Test cưỡng bức cơ dương tính

 Lõm mắt và sụp mí: gặp trong vỡ

sàn hốc mắt rộng, các mô mềm của hốc

mắt sa vào trong xoang hàm Hoặc sa

vào xoang sàng trong vỡ xương thành

trong kèm vỡ xương sàn hốc mắt

 Giảm cảm giác ở khu vực phân bố

của thần kinh dưới hốc mắt

 Tràn khí hốc mắt và mí: vỡ xương

ảnh hưởng đến các xoang làm cho khí

thoát vào các mô dưới da

CTscan khi những dấu hiệu lâm

sàng và Xquang không đủ chẩn đoán

Phần lớn các trường hợp vỡ sàn hốc

mắt gián tiếp hoặc các vỡ xương hốc mắt

khác không cần phẫu thuật Chỉ định

phẫu thuật được đặt ra khi có một trong

các điều kiện đã nêu trên (xem phần mở

đầu) [4]

Tại Bệnh Viện Trung Ương Huế từ

tháng 1 năm 1998 đến tháng 6 năm 2004,

chúng tôi thống kê được 575 bệnh nhân

bị chấn thương mắt nằm điều trị nội trú

tại khoa Mắt Bệnh viện Trung ương Huế,

tuy nhiên chỉ có 26 trường hợp vỡ sàng

hốc mắt có chỉ định phẫu thuật chiếm tỷ

lệ 4,5% Tỷ lệ này so với điều tra của

ANZAOMS là 68 trường hợp trong vòng

14 năm chiếm 14% là thấp [7] do chúng tôi không lấy số liệu bệnh nhân tại khoa Răng Hàm Mặt

Lứa tuổi vỡ sàn hốc mắt chiếm tỷ lệ cao theo điều tra nghiên cứu của chúng tôi thường xảy ra ở độ tuổi là 20-40 chiếm tỷ lệ 73%, nguyên nhân chủ yếu

do tai nạn giao thông [92,3%] và đây cũng là một lời cảnh báo về sự quan trọng của loại tai nạn này trong tình hình hiện nay

Cũng theo ANZAOMS và BAOMS chẩn đoán hình ảnh vỡ sàn hốc mắt đều bằng CTScan (100%), tại Bệnh viện Trung ương Huế chúng tôi chủ yếu sử dụng hình ảnh Xquang (84,6%) kết hợp tiền sử và thăm khám lâm sàng để tiết kiệm cho bệnh nhân, tuy nhiên có 10 trường hợp (38,5%) không rõ ràng chúng tôi cho chụp thêm CTScan để củng cố chẩn đoán cũng như đánh giá cụ thể tình trạng tổn thương để phẫu thuật

Số bệnh nhân đến nhập viện trên 15 ngày sau khi chấn thương chiếm tỷ lệ thấp (77%), so với thống kê của ANZAOMS là 10%, điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả sau phẫu thuật vì cơ trực dưới có thể bị co cứng hoặc xơ hoá

và các tổ chức hốc mắt bị kẹt hoặc sa vào xoang hàm cũng có thể bị xơ hoá [1, 8] Tại Bệnh viện Trung ương Huế số bệnh nhân đến nhập viện dưới 15 ngày sau khi chấn thương chỉ chiếm 23% , từ 15 ngày đến 60 ngày chiếm 69,1% và lớn hơn 1 năm là 7,9 %, điều đáng chú ý là

tỷ lệ bệnh nhân đạt sau phẫu thuật của

Trang 8

chúng tôi là 84,6% đều có thời gian từ

khi chấn thương đến khi nhập viện dưới

60 ngày

Đường mổ được sử dụng trong

phẫu thuật vỡ sàn hốc mắt có 3 đường

và thường theo thứ tự sau đường dưới

hàng lông mi, đường bờ hốc mắt, và

cuối cùng là đường kết mạc [4] Trong

nghiên cứu này chúng tôi hầu hết sử

dụng đường ngang bờ hốc mắt vì dễ tiếp

cận vị trí tổn thương, phâũ trường rộng rãi có thể quan sát tốt và thực hiện dễ dàng thao tác đặt miếng silicon Ngoài ra trong 6 bệnh nhân chúng tôi phối hợp phẫu thuật với Tai Mũi Họng trong đó có

2 trường hợp vỡ thành trong

Trên lý thuyết chất liệu thay thế để tái tạo sàn hốc mắt theo thứ tự chọn lựa thông thường như sau:[ 7 ]

Thứ tự

ưu tiên

ANZAOMS

BAOMS

2 Xương tự thân Titanium dạng lưới Tấm silicon

3 Titanium dạng lưới Màng tự tiêu Titanium dạng lưới

Tuy nhiên hiện tại những chất liệu

trên thực sự khó kiếm hoặc nếu có thể

kiếm được thì giá thành cũng cao không

phù hợp với túi tiền của người bệnh hoặc

phức tạp khi thực hiện như chất liệu ghép

xương tự thân Do đó chúng tôi chọn sử

dụng silicon như một chất liệu thay thế

cho tất cả bệnh nhân được điều trị phẫu

thuật vỡ sàn để ngăn ngừa tái phát dính

và kẹt mô và tạo hình hốc mắt Chất liệu

silicon dạng khối sử dụng trong chỉnh

hình sống mũi được gửi cắt tại khoa giải

phẫu bệnh thành từng miếng mỏng

4x6x1mm được đóng gói và tiệt trùng

bằng EOGas, miếng silicon mảnh nhưng

vẫn đảm bảo độ bền chắc và dẻo, không

gây cộm xốn, không gây các phản ứng

viêm, nhiễm trùng và hoàn toàn không

có tình trạng thải miếng silicon sau phẫu thuật trên 26 bệnh nhân chúng tôi đã phẫu thuật

Trong thời gian hậu phẫu 3 biến chứng chính mà chúng tôi gặp nhiều nhất 1 tuần sau phẫu thuật là hạn chế vận nhãn (15,4%), song thị (15,4%), và lõm mắt (7,7%) Tuy nhiên biến chứng hạn chế vận nhãn và song thị cải thiện hơn sau 1 tháng [hạn chế vận nhãn (7,7), song thị (7,7%)] có thể do tình trạng sưng hoặc xuất huyết nhẹ hốc mắt sau phẫu thuật Biến chứng co kéo mí dưới (7,7%) sau phẫu thuật do dính vách ngăn hốc mắt vào bờ hốc mắt Những biến chứng còn tồn tại sau phẫu thuật do đến muộn (lớn hơn 1năm) chiếm 7,7%, do vỡ

Trang 9

sàn lớn kết hợp vỡ thành trong hốc mắt

chiếm 7,7%

Trong đánh giá kết quả của chúng

tôi bệnh nhân được theo dõi lâu nhất là 5

năm 6 tháng và chưa có trường hợp nào

có dấu hiệu không dung nạp silicon

KẾT LUẬN

Lứa tuổi vỡ sàn hốc mắt chiếm tỷ lệ

cao thường xảy ra ở người trẻ tuổi (20-40

tuổi), nguyên nhân chủ yếu do tai nạn

giao thông

Triệu chứng lâm sàng chủ yếu

trong vỡ sàn hốc mắt là song thị, hạn chế

vận nhãn và test cưỡng bức cơ dương

tính

CTscan vẫn là chẩn đoán phát hiện chính xác nhất

Kết quả sau phẫu thuật vỡ sàn rất tốt [84,6%], và kết quả dung nạp silicon

là 100%, mặt khác chất liệu silicon này

dễ kiếm, dễ sử dụng và kinh tế Vì vậy chúng tôi nghĩ rằng đây là chất liệu thay thế thích hợp trong phẫu thuật vỡ sàn hốc mắt

Tuy nhiên cần phải tiếp tục theo dõi lâu dài để đánh giá thêm về kết quả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 NERAD JA., KERSTEN RC., NEUHAUS RW., NOWINSKI TS.: Basic and clinical science course, vol 7, part 1, 104-108 1998 - 1999

2 ABEL AD., MEYER DR.: Blow - out in adults and children, pp 1 2003

3 SMITH B., REGAN WF.: Blow-out fracture of the orbit,in Am J Ophthamol., chap 44, 733.1957

4 DUTTON JJ.: Management of the orbital floor, in Surv Ophthalmol 1991

Jan-Feb; chap 35, 279

5 NESI FA., SPOOR TC.: Orbital fracture in Ophthamic Plastic and Reconstructive Surgery 1987; 473 - 476

6 SIRE BS., STANLEY RB., LEVINE LM.: Oculocardiac reflex caused by

orbital floor trapdoor fracture; an indication for urgent repair Arch Ophthamol 1998; 116: 955 - 956

7 LYNHAM AJ., CHAPMAN P.J., MONSOUR F.NT.: Clinical and Experimental 2004,chap 32, 42-43

8 GOLDBERG RA.: Commentary Arch Facial and Plasty Sugery 2002; 2; 61

- 62

Ngày đăng: 21/01/2020, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w