Nội dung bài viết trình bày hình X quang kỹ thuật số giúp chúng ta khảo sát trung thất tốt hơn phim cổ điển. Chúng tôi xin được đưa ra vài trường hợp bệnh lý trung thất, được kiểm chứng bởi kỹ thuật Cắt Lớp Điện Toán.
Trang 1Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 7 * Phụ bản của Số 1 * 2003 Nghiên cứu Y học
KHẢO SÁT TRUNG THẤT BẰNG X QUANG KỸ THUẬT SỐ
MỘT SỐ HÌNH ẢNH BỆNH LÝ ĐƯỢC SO SÁNH VỚI KỸ THUẬT CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN
Nguyễn Văn Công*
TÓM TẮT
Hình X quang kỹ thuật số giúp chúng ta khảo sát trung thất tốt hơn phim cổ điển Chúng tôi xin được đưa ra vài trường hợp bệnh lý trung thất, được kiểm chứng bởi kỹ thuật Cắt Lớp Điện Toán
SUMMARY
INVEST MEDIASTINUM BY DIGITAL RADIO GRAPHY
Nguyen Van Cong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 7 * Supplement of No 1 * 2003: 16 - 18
Digital radiography can show us better detail of the mediastinum than classic Chest X ray, so we present here somes cases of mediastinal pathologies demonstrated by digital Chest X ray and compared with CT scan
ĐẠI CƯƠNG
Hình X quang phổi qui ước cho đến nay vẫn là
kỹ thuật được chỉ định nhiều nhất để chẩn đoán
bệnh lý phổi tại Trung tâm Y khoa Medic Trung
thất là vùng khó khảo sát trên phim X quang phổi
cổ điển, vì để thấy rõ trung thất, tia X cần phải đủ
cứng để xuyên thấu cấu trúc mật độ cao hơn nhu
mô phổi, lúc đó phế trường bị đen nhiều, nên bác sĩ
X quang có thể không thấy các tổn thương tổn tinh
tế của nhu mô phổi Ngược lại, khi chụp tia mềm để
khảo sát nhu mô phổi, các cấu trúc trong trung thất
vì có mật độ cao, sẽ trắng gần như đồng nhất, khó
có khả năng thấy rõ các bờ và đường trung thất,
nhất là khi các yếu tố phô xạ Kv thấp và mAs cao
(chỉ thấy rõ 4 đốt sống ngực trên như cách chụp
xưa) Như vậy, đối với hệ thống phim cổ điển,
muốn khảo sát đầy đủ nhu mô phổi và trung thất
tốt, bệnh nhân phải chịu phô xạ 2 lần Ngày nay,
với hình X quang kỹ thuật số với chất lượng cao hơn
nhờ các phần mềm xử lý ảnh, cho phép ta nhìn rõ
cả nhu mô phổi lẫn trung thất
Vừa qua, hệ thống X quang kỹ thuật số tại
Medic đã hoạt động, chúng tôi thu thập một số
trường hợp có bệnh lý trung thất được phát hiện
bằng ảnh kỹ thuật số sau đó được kiểm chứng bằng
CT scan
TRIỆU CHỨNG HỌC X QUANG TRUNG THẤT
Các đường và bờ trung thất
- Bờ mạch máu trên bên phải: thường lõm hoặc thẳng, nếu phồng ra ngoài phải nghi ngờ có mass
- Cung tĩnh mạch đơn (azygos), thấy được khoảng 95% các phim, móc qua phế quản gốc phải, đường kính không vượt quá 1 cm, nếu kích thước hơn 1 cm phải nghi ngờ do hạch azygos phía trong chèn đẩy, hoặc do ứ máu tĩnh mạch
- Bờ phải tim thường đều và rõ, nếu bị phồng bất thường, phải nghi có khối choán chỗ, thường là hạch Nếu có bờ đôi mà đường thứ hai chạy xuống ổ bụng, nên nghĩ đến
co thắt tâm vị (achalasia)
- Đường cạnh khí quản phải (right paratracheal line), thấy rõ trên 95% các phim phổi, bề dày đo cách cựa phế quản (carina) 2 cm thường không quá 4 mm
* Trung tâm Y khoa MEDIC TP Hồ Chí Minh
Trang 2Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 7* Phụ bản của Số 1* 2003
Nếu đường này bị xóa đi hoặc dày lên, nghi
có hạch trung thất
- Cựa phế quản (Carina) cũng là vùng cần quan sát vì có nhóm hạch dưới cựa
Sơ đồ các đường và bờ trung thất
1: đường dính màng phổi sau 2: đường dính màng phổi trước 3: bờ cạnh động mạch chủ 4&5: đường cạnh cột sống 6: đường cạnh khí quản 7: cung azygos 8 bờ ngách tỉnh mạch đơn-thực quản
- Bờ thực quản-tĩnh mạch đơn
(Azygo-esophageal recess) thấy 88% trên các phim
phổi, thường là một đường thẳng hay lõm
nhẹ bên phải Nếu phồng lên hoặc tăng
đậm độ, hoặc bị đẩy lệch, nên nghĩ đến khối
choán chỗ các cơ quan lân cận như hạch,
phình ĐMC xuống, thoát vị hoành, bệnh lý
thực quản
- Đường cạnh khí quản trái (Left paratracheal
line) khó thấy do bị che bởi các mạch máu
lớn, có khoảng 21% tên phim phổi, nếu bị
dày lên hoặc di lệch thường do hạch trung
thất trên
- Cửa sổ phế chủ (Aortopulmonic window) là
phần lõm dưới cung ĐMC và trên ĐM phổi,
nếu phồng lên thường do hạch di căn của
ung thư thùy trên phổi trái
- Đường cạnh động mạch chủ (para-aortic
line) thấy được 100% trên phim, thường liên
tục và đều, nếu mất liên tục hoặc phồng
khu trú nghĩ đến phình ĐMC ngực
- Hai đường cạnh cột sống (paravertebral lines) bên trái (41%) dễ thấy hơn bên phải (21%) Thường bị đẩy ra xa cột sống do khối choán chỗ như hạch hoặc áp-xe cạnh cột sống
- Đường cạnh khí quản sau thấy được 91% trên phim phổi nghiêng Không dày quá 4
mm
- Đường dính màng phổi sau (Posterior junction line) thấy được khoảng 32% trên phim, bắt đầu từ lỗ vào ngực (thoracic inlet) trên đến cung ĐMC Thường thẳng
- Đường dính màng phổi (anterior junction line) trước thấy khoảng 25%, ở sau xương ức, thường lõm, nếu ngách trên hoặc dưới thường do u trung thất trước hoặc hạch
- Rốn phổi là vùng khó định bệnh, nhưng quan trọng do di căn hạch thường đến rốn phổi trước tiên, sự tăng đậm độ hoặc dãn rốn phổi phải nghĩ đến hạch rốn phổi Một dấu hiệu khá quan trọng khác là dấu phế
Trang 3Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 7 * Phụ bản của Số 1 * 2003 Nghiên cứu Y học
quản phân thùy trước (anterior bronchus
sign), khoảng 50% phim X quang phổi cho
thấy cạnh ngoái rốn phổi 2 bên thấy được
hình tròn là khí quản phân thùy trên trước,
phần mềm phía ngoài phế quản không hơn
3 mm, khi độ dày phần mềm hơn 5 mm
phải nghi ngờ có bệnh lý vùng đó
Các trường hợp bệnh lý
Tóm tắt hình các trường hợp bệnh lý được
trình bày trong bài báo cáo Power Point
1 Bệnh nhân nam 4 tuổi: ho, sốt X quang có đám
mờ vùng đáy phổi P kèm tăng đậm rốn phổi P
và dày đường cạnh khí quản P do hạch Hình
cắt lớp điện toán xác nhận đông đặc S6 & S10
kèm hạch rốn phổi và trung thất P
2 Bệnh nhân nữ 18 tuổi gầy, chụp hình phổi kiểm
tra thấy cửa sổ phế chủ phồng, nghi là hạch
trung thất Hình Cắt lớp điện toán cho thấy khối
choán chổ nhưng bắt thuốc dạng viền nghi là
cystic teratoma
3 Bệnh nhân nam 60 tuổi dãn lớn rốn phổi phải
trên phim X quang nghi do hạch được xác định
bằng CT
4 Bệnh nhân nam 60 tuổi có khối tròn 3 cm vùng
dưới phổi phải, kèm dãn, tăng đậm rốn phồi và
mất đường cạnh khí quản chẩn đoán X quang là
u phổi P có di căn hạch rốn phổi và trung thất
cạnh khí quản T2N2
5 Bện nhân nữ 49 tuổi, gầy ốm, điều trị lao tại
bênh viện tĩnh, không giãm Đến Medic chụp
hình thấy có khối choán chổ trung thất trên
phải có mực thủy khí, nghi ngờ bất thường thực quản, cho chụp kèm baryte, thuốc vào khối choán chổ nhanh, xác định bằng CT scan
6 Vài trường hợp khác
KẾT LUẬN
X quang kỹ thuật số cho đáp số bài toán nan giải của X quang cổ điển khi chỉ với một lần phô xạ, nhờ các phần mềm chỉnh sửa ảnh như tăng cường dải rộng (MUSICA), tăng cường bờ nét (Edge enhancement) v.v X quang kỹ thuật số giúp ta thấy rõ hơn các bờ và đường trung thất, đồng thời không bỏ sót các tổn thương nhu mô Tuy ngày nay đã có CT scan, nhưng không phải lúc nào người bệnh có đủ điều kiện để được chụp, X quang phổi qui ước thường là xét nghiệm hình ảnh học được làm đầu tiên, do đó các bác sĩ nên nắm được những dấu hiệu là tinh tế của bệnh lý trung thất, để có chẩn đoán đúng và có cách xử lý thích hợp nhất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 STEPHEN J SWENSEN, LARRY R BROWN Conventional Radiography of the hilum and mediastinum in Bronchogenic Carcinoma The radiologic Clinics of North America May 1990 p
521-538
2 JOSÉ REMY, RAYMOND CAPDEVILLE, ALAIN COUSSEMENT Le poumon pathologique 3e édition A Coussement 06000 Nice
3 MICHAEL J LANDAY Interpretation of the Chest Roentgenogram 1st edition Little, Brown and Company Boston/Toronto 1987 p 56-97
4 SPIZARNY D L., CAVANAUGH B The anterior bronchus sign: the new clue to hilar abnormality American of Roengenology Volume 145 August 1985 p 265-267.