1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối liên quan giữa các yếu tố chuyển viện với tình trạng cấp cứu khi nhập viện và tử vong trong 24 giờ đầu ở bệnh nhi chuyển đến khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 06/2012 đến 05/2013

6 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 335,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định mối liên quan giữa các đặc điểm và yếu tố chuyển viện với tình trạng cấp cứu khi nhập viện và tử vong 24 giờ đầu ở bệnh nhi chuyển viện đến khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 06/2012 đến 05/2013. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC YẾU TỐ CHUYỂN VIỆN   VỚI TÌNH TRẠNG CẤP CỨU KHI NHẬP VIỆN VÀ TỬ VONG  

TRONG 24 GIỜ ĐẦU Ở BỆNH NHI CHUYỂN ĐẾN KHOA CẤP CỨU  

BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ 06/2012 ĐẾN 05/2013 

Trang Giang Sang*, Bùi Quốc Thắng** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm và yếu tố chuyển viện với tình trạng cấp 

cứu khi nhập viện và tử vong 24 giờ đầu ở bệnh nhi chuyển viện đến khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng 1 từ  tháng 06/2012 đến 05/2013. 

Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu. 

Kết quả: Trong khoảng thời gian từ 06/2012 đến 05/2013, chúng tôi khảo sát được 574 trường hợp chuyển 

viện đến khoa cấp cứu BV Nhi Đồng 1. Trong nghiên cứu của chúng tôi, khoảng 80% bệnh nhân được chuyển  viện là dưới 5 tuổi, trong đó sơ sinh chiếm tỉ lệ cao nhất 30,7%, không có sự khác biệt giới tính ở bệnh nhân  chuyển viện. Phần lớn bệnh nhân được chuyển từ các cơ sở y tế phía nam 71,3%, và từ  các cơ sở y tế TP.Hồ Chí  Minh là 28,7%. Bệnh nhân được chuyển viện với lý do chính là vượt khả năng chuyên môn 76%. Lúc bắt đầu  chuyển viện, có 40,4% bệnh nhân được chuyển trong tình trạng không ổn định, và 25,3% trường hợp hỗ trợ hô  hấp không phù hợp. Phần lớn bệnh nhân được chuyển bằng xe cấp cứu 95,5%, đa số là có nhân viên y tế theo hộ  tống 99,1%, hầu hết là điều dưỡng theo chuyển bệnh 86,2%. Bệnh lý được chuyển nhiều nhất là bệnh chu sinh  27,9%, kế đó là bệnh lý nhiễm trùng  20,2% và bệnh hô hấp là 20%. Trên đường chuyển có 20,4% trường hợp  xảy ra biến cố và chỉ có 17,1% trường hợp có xử trí biến cố. Khi đến khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng 1, có  44,8% bệnh nhân trong tình trạng không ổn định và 46,7% bệnh nhân cần xử trí cấp cứu ngay. Tử vong trong 

24 giờ đầu nhập viện chiếm 9,9% tổng số bệnh nhân nhập viện.  

Kết  luận: Chuyển bệnh nhi lên tuyến trên để điều trị khi vượt quá khả năng của các cơ sở y tế tuyến 

trước là một nhu cầu thiết yếu, chuyển viện đúng và an toàn sẽ góp phần cải thiện tỉ lệ tử vong ở trẻ em.  Nhưng tỉ lệ bệnh nhi chết trên đường chuyển, cũng như tỉ lệ trẻ nhập viện trong tình trạng cần phải được  cấp cứu và tử vong trong 24 giờ đầu nhập viện vẫn còn cao. Do đó, chúng ta cần xem xét lại vấn đề chuyển  viện sao cho an toàn, việc đào tạo đội ngũ chuyển viện có tính chuyên nghiệp, có kỹ năng chuyên môn kịp  thời ứng phó những biến cố xảy ra trên đường chuyển, đặc biệt chú trọng đào tạo kỹ năng chuyển viện cho  điều dưỡng là điều cần thiết. 

Từ  khóa:  chuyển  viện  an  toàn  trẻ  em,  yếu  tố  nguy  cơ  chuyển  viện,  tử  vong  trong  24  giờ  đầu  ở  trẻ 

chuyển viện. 

ABSTRACT  

THE RELATIONSHIP BETWEEN THE CHARACTERISTICS   AND FACTORS REFERRED TO A HOSPITAL FOR EMERGENCY ADMISSION  

AND MORTALITY IN THE FIRST 24 HOURS OF PATIENTS REFERRED  

TO EMERGENCY DEPARTMENTS OF CHILDREN 1 HOSPITAL FROM 06/2012 TO 05/2013 

Trang Giang Sang, Bui Quoc Thang  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 448 ‐ 453 

* Khoa Cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng  ** Đại học Y Dược TP.HCM 

Tác giả liên lạc: ThS. BS. Trang Giang Sang   ĐT: 0982960906  Email: bsgiangsang@yahoo.com.vn 

Trang 2

Objective:  To  determine  the  relationship  between  the  characteristics  and  factors  referred  to  emergency 

admission to hospital and mortality in the first 24 hours of patients to hospital emergency departments Children 

1 from 06/2012 to 05 / 2013. 

Design: Prospective cohort study. 

Results:  In  the  period  from  06/2012  to  05/2013,  we  investigated  574  referral  cases.  In  our  study, 

approximately 80% of patients referred to hospital is less than 5 years old, including infants accounted for the  highest rate of 30.7%, with no gender differences in patient referral. 71.3%, of patients were transferred from the  southern medical facility and from Ho Chi Minh City is 28.7%. Primary reason for 76% of referral cases is over  expertise. At the start of referral, 40.4% of patients were transferred in unstable condition, and 25.3% was in  inappropriate respiratory support. 95.5% of patients were transferred with ambulance, referral with medical staff  was  99.1%,  mostly  86.2%  was  referred  with  nurse.  Most  of  transferred  patients  get  perinatal  disease  27.9%,  infectious  and  respiratory  diseases  are  20.2%  and  20%.  On  the  way  of  referral,  there  were  20.4%  of  cases  occurred events and only 17.1% were treated. The emergency department 1 Childrenʹs Hospital, with 44.8% of  patients in unstable condition and 46.7% of patients required emergency management. Mortality in the first 24  hours of hospitalization accounted for 9.9% of all hospitalized patients.  

Conclusions: Referring patients to a higher level for treatment in case of over expertise is necessary. But the 

death  rate  of  patients  on  the  move,  as  well  as  the  rate  of  hospitalized  children  in  emergency  cases  and  the  mortality in the first 24 hours of hospitalization still remain high. Therefore, we need to reconsider referrals safety  and staff training to ensure that they are professional and competent to response to events occurring on the move,  especially focus on training for referral nurse is required. 

Key words: Transport of children, Factors referred, Mortality in the first 24 hours of patients referred 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Những  năm  qua  tuy  tỉ  lệ  tử  vong  ở  trẻ  em 

ngày  một  giảm  thấp  nhưng  tỉ  lệ  tử  vong  trong 

24 giờ đầu nhập viện vẫn không giảm. Có nhiều 

lý do làm tăng tỉ lệ tử vong 24 giờ đầu như do 

bệnh nhi đến bệnh viện muộn, khám chữa bệnh 

cấp cứu ở cơ sở kém, còn một lý do khác không 

kém  phần  quan  trọng  trong  đó  là  chuyển  viện 

không an toàn(5,8).  

Mặc  dầu  vấn  đề  chuyển  viện  ở  trẻ  em  đã 

được thực hiện bởi nhiều tác giả, hầu hết các tác 

giả mô tả tỷ lệ % có được từ những xử lý thống 

kê một yếu tố, và nhất là thiết kế nghiên cứu đều 

là mô tả trường hợp bệnh. Xuất phát từ thực tế 

đó,  chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  này  để  xác 

định  mối  liên  quan  giữa  tình  trạng  lâm  sàng 

không  ổn  định  khi  chuyển  viện  và  các  yếu  tố 

chuyển  viện  khác  với  tình  trạng  cấp  cứu  khi 

nhập  viện  và  tử  vong  24  giờ  đầu  ở  bệnh  nhi 

được chuyển  viện  đến  khoa  cấp  cứu  bệnh  viện 

Nhi  Đồng  1  để  làm  cơ  sở  cho  công  tác  chỉ  đạo 

tuyến cũng như đưa ra những đề nghị góp phần 

đảm bảo an toàn trong quá trình chuyển viện. 

Mục tiêu tổng quát 

Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm 

và  yếu  tố  chuyển  viện  với  tình  trạng  cấp  cứu  khi  nhập  viện  và  tử  vong  24  giờ  đầu  ở  bệnh  nhi  chuyển  viện  đến  khoa  cấp  cứu  bệnh  viện  Nhi Đồng 1. 

Mục tiêu chuyên biệt 

Xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ học, đặc  điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến quá  trình chuyển viện. 

Xác định tỉ lệ trẻ nhập viện trong tình trạng  cấp  cứu  và  tử  vong  trong  24  giờ  đầu  ở  trẻ  chuyển viện. 

Xác định mối tương quan giữa các đặc điểm 

và yếu tố chuyển viện với tình trạng cấp cứu khi  nhập viện. 

Xác định mối tương quan giữa các đặc điểm 

và yếu tố chuyển viện với tử vong 24 giờ đầu. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu  

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu 

Dân số mục tiêu 

Tất cả bệnh nhi dưới 15 tuổi được chuyển từ 

các cơ sở y tế đến khoa cấp cứu bệnh viện Nhi 

đồng 1. 

Dân số chọn mẫu 

Tất  cả  bệnh  nhi  dưới  15  tuổi  được  chuyển 

viện từ các cơ sở y tế đến khoa cấp cứu BV Nhi 

đồng  1  có  giấy  giới  thiệu  chuyển  viện  trong 

khoảng thời gian từ tháng 06/2012 đến hết tháng 

05/2013. 

Cỡ mẫu 

Chúng tôi sử dụng phần mềm Epi info 2007 

để  tính  cỡ  mẫu,  với  khoảng  tin  cậy  95%,  độ 

mạnh  (1‐  ß)  99%,  tỷ  lệ  chuyển  viện  an  toàn: 

chuyển viện không an toàn là 2,6:1; tỷ lệ tử vong 

trong nhóm chuyển viện an toàn là 0,2%, tỷ lệ tử 

vong trong nhóm chuyển viện không an toàn  là 

11,3%, nguy cơ tương đối (RR) là 57,08. 

Tính được cỡ mẫu với số liệu trên là: n= 432 

KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Trong  khoảng  thời  gian  từ  06/2012  đến 

05/2013,  theo  phương  pháp  lấy  mẫu  hệ  thống 

với  khoảng  cách  mẫu  là  8,  chúng  tôi  đã  tiến 

hành khảo sát chuyển viện trong 45 ngày và 574 

trường hợp chuyển viện đã được khảo sát. 

Phân bố tuổi 

Bảng 1:  

< 1 tuổi 137 23,9

1 – 5 tuổi 142 24,7

> 5 tuổi 119 20,7

Nhận  xét:  Trẻ  sơ  sinh  được  chuyển  viện 

chiếm tỉ lệ khá cao 30,7% trường hợp. 

Giới tính 

Bảng 2:  

Nam 338 58,9

Nữ 236 41,1

Nhận  xét:  Không  có  sự  khác  biệt  về  giới  ở 

bệnh nhi chuyển viện. 

Địa phương chuyển viện 

Bảng 3:  

Tỉnh 409 71,3

Nhận  xét:  Phần  lớn  bệnh  nhân  được  chuyển 

từ  các  cơ  sở  y  tế  của  các  tỉnh  thành  phía  Nam  71,3%. 

Các loại phương tiện dùng để chuyển viện 

Bảng 4:  

Nhận xét: Hầu hết bệnh nhân được chuyển 

viện bằng xe cấp cứu của bệnh viện. Có một tỉ lệ  nhỏ  bệnh  nhân  được  chuyển  bằng  máy  bay  từ  các tỉnh xa xôi như Phú Quốc, Đà Nẵng. 

Nhân viên hộ tống chuyển viện 

Bảng 5:  

Nhận  xét: Phần lớn các  trường  hợp  chuyển 

viện đều có nhân viên hộ tống (99,1%). 

Thành phần nhân viên hộ tống chuyển viện 

Bảng 6:  

Bác sĩ 34 6 Điều dưỡng 495 86,2

Tổng cộng 574 100

Nhận  xét:  Thành  phần  hộ  tống  chuyển 

viện chủ yếu là điều dưỡng (86,2%). 

Trang 4

Theo  dõi  bệnh  nhân  trong  quá  trình 

chuyển viện 

Bảng 7:  

Có 344 59,9

Không 230 40,1

Nhận  xét:  Gần  ½  bệnh  nhân  chuyển  viện 

không  được  theo  dõi  trong  quá  trình  chuyển 

viện. 

Biến cố xảy ra trong quá trình chuyển viện 

Bảng 8:  

Có 117 20,4

Không 457 79,6

Nhận  xét:  trong  quá  trình  chuyển  viện  có 

20,4% trường hợp có xảy ra biến cố. 

Phân bố các loại biến cố 

Bảng 9:  

Nhận  xét:  Biến  cố  thường  gặp  khi  chuyển 

viện là sốc 12,4%, kế đó là tím tái (11,8%), đặc 

biệt  có  5,4%  trường  hợp  chết  trên  đường 

chuyển viện. 

Xử trí biến cố 

Khi  có  xảy  ra  biến  cố  chỉ  có  17,1%  trường 

hợp được xử trí. 

Bảng 10:  

Có 20 17,1

Không 97 82,9

Bệnh  nhân  được  cấp  cứu  ngay  khi  nhập  viện 

Bảng 11:  

Có 268 46,7 Không 306 53,3

Tình trạng cấp cứu 

Bảng 12:  

Nhận  xét:  Bệnh  nhân  được  chuyển  viện 

trong  tình  trạng  không  ổn  dịnh  cần  xử  trí  cấp  cứu  ngay  khi  nhập  viên  còn  khá  cao  (46,7%). 

Trong  đó  bệnh  nhi  bị  suy  hô  hấp  chiếm  đa  số  (41,8%).  Trong  đó  có  một  tỉ  lệ  không  nhỏ  5,4% 

bệnh nhi chết trước nhập viện. 

Tử vong trong 24 giờ đầu nhập viện 

Bảng 13:  

Tử vong trong 24 giờ đầu nhập viện Số ca Tỉ lệ (%)

Nhận xét: tỉ lệ bệnh nhi tử vong trong 24 giờ 

đầu từ khi nhập viện là 9,9%. 

Phân bố tử vong theo chẩn đoán ra viện 

Bảng 14:  

Nhận xét: bệnh chuyển viện có tỉ lệ tử vong 

cao nhất đó là bệnh lý sơ sinh (45,6%). 

Trang 5

Mối  tương  quan  giữa  các  yếu  tố  chuyển 

viện với tình trạng cấp cứu khi nhập viện 

khi phân tích đa biến 

Suy  hô  hấp  khi  chuyển  viện  là  có  mối  liên 

quan  mạnh  nhất  với  tình  trạng  xử  trí  cấp  cứu 

khi  nhập  viện,  kế  đó  là  có  thực  hiện  thủ  thuật  trước  khi  chuyển,  tình  trạng  bệnh  nhân  không 

ổn  định  khi  chuyển  viện,  hỗ  trợ  hô  hấp  không  phù hợp, có xảy ra biến cố khi chuyển viện, và  cuối cùng là tuổi  ≤ 1 tuổi. 

Bảng 15 

Mối tương quan giữa các yếu tố chuyển viện 

với tử vong 24 giờ khi phân tích đa biến 

Bảng 16:  

Suy hô hấp nặng có

đặt NKQ CV 30,121 (4,020-225,7) 0,001

Hỗ trợ hô hấp không

phù hợp 39,421 (10,442-148,816) < 0,0001

Có xảy ra biến cố lúc

CV

11,935 (3,291-43,278) < 0, 0001

Nhận xét: hỗ trợ hô hấp không phù hợp, và 

có  xảy  ra  biến  cố  trên  đường  chuyển  viện  là  2 

yếu tố liên quan mạnh nhất với tử vong 24 giờ, 

cuối  cùng  là  bệnh  nhân  bị  suy  hô  hấp  nặng  có 

đặt nội khí quản khi chuyển viện. 

BÀN LUẬN 

Trong  khoảng  thời  gian  1  năm,  chúng  tôi 

khảo sát được 574 trường hợp chuyển viện từ 

các cơ sở y tế đến khoa cấp cứu bệnh viện Nhi 

Đồng  1,  chúng  tôi  nhận  thấy  lứa  tuổi  thường 

được chuyển viện là < 1 tuổi (54,6%), điều này 

phù hợp với mô hình bệnh tật ở trẻ em, đa số 

các bệnh tật và tử vong xảy ra ở năm đầu tiên 

của trẻ(6).  

Đa  số  bệnh  nhân  được  chuyển  từ  các  tỉnh 

(71,3%),  phần  lớn  từ  bệnh  viện  đa  khoa  tỉnh 

(54,1%),  cho  thấy  hơn  một  nửa  tổng  số  bệnh 

nhân chuyển viện là nặng, quá khả năng điều trị 

của  bệnh  viện  tuyến  tỉnh.  Phần  lớn  bệnh  nhi 

được  chuyển  viện  bằng  xe  cấp  cứu  (95,5%),  và 

có nhân viên y tế theo hộ tống (99,1%), đa phần 

là  điều  dưỡng  (86,2%),  tuy  nhiên  chỉ  có  59,9% 

trường  hợp  nhân  viên  chuyển  viện  có  theo  dõi  bệnh  nhi  trong  quá  trình  chuyển  viện.  Điều  đáng quan tâm là biến cố xảy ra trong quá trình  chuyển  viện  là  rất  cao  (20,4%),  qua  khảo  sát  chúng  tôi  thấy,  không  xử  trí  biến  cố  do  không  phát hiện biến cố là rất cao 82,9%, ngoài ra còn  một tỉ lệ không nhỏ là 6,4% phát hiện ra biến cố  nhưng nằm ngoài khả năng xử trí của nhân viên  chuyển  viện.  Xem  lại  thành  phần  nhân  viên  chuyển  viện,  chúng  tôi  nhận  thấy  phần  lớn  chỉ 

có 1 điều dưỡng hoặc 1 nữ hộ sinh theo chuyển  viện.  Tuy  nhiên  trong  điều  kiện  bị  hạn  chế  về  nhân lực như hiện nay, thành phần chuyển viện  không thể nào khác hơn được. Vì vậy, việc huấn  luyện  kỹ  năng  xử  trí  cấp  cứu  chuyển  viện  cho  đội ngũ y tế là một nhu cầu thiết yếu, đặc biệt là  đào tạo chuyển viện cho điều dưỡng. 

Tử  vong  24  giờ  đầu  nhập  viện  còn  khá  cao  9,9%  tổng  số  bệnh  nhi  chuyển  viện,  trong  đó  bệnh  lý  sơ  sinh  tử  vong  nhiều  nhất  45,6%.  Do 

đó,  chúng  ta  cần  tăng  cường  năng  lực  cho  các  đơn  nguyên  sơ  sinh.  Cần  chú  trọng  hơn  trong  hoạt động huấn luyện, chuyển giao kỹ thuật về 

sơ sinh cho các tuyến. 

Qua phân tích đa biến chúng tôi thấy, bệnh  nhân trong quá trình chuyển viện có xảy ra biến 

cố,  hoặc  được  hỗ  trợ  hô  hấp  không  phù  hợp  trong quá trình chuyển, đặc biệt là những bệnh  nhân bị suy hô hấp nặng cần đặt nội khí quản có  mối liên quan mật thiết đến tử vong 24 giờ đầu. 

Do đó, để giảm thiểu tử vong trong 24 giờ đầu,  thực  hiện  chuyển  viện  an  toàn  là  một  trong 

Trang 6

Điều này chứng minh cho các báo cáo đã được 

công bố(5,9,10). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Advanced  peadiatric  life  support,  The  practice  approach, 

third edition, BMJ publish group, London, pp.255‐259. 

transport”, BMJ Publishing Group. 

transfer of the critically ill”, Arch Dis Child, 71(1), pp.8‐11. 

transport”,  Textbook  pediatric  emergency  procedures, 

Edited by Fred M. Henretig, William & Wilkins, Baltimor, 

pp.1401‐1406. 

em  Việt  Nam  năm  2001”,  Giáo  trình  bài  giảng  nhi  khoa 

sau đại học 

interhospital transport: physiologi deterioration associated 

with pretransport severity of  illness”, Pediatrics, 84(1), pp. 

43‐8. 

pediatric  life  support,  second  edition,  Mosby  –  year  book, 

Baltimore, pp. 539‐554 

và mô hình bệnh tật trẻ em Việt Nam, đề xuất các biện pháp  khắc phục”,Nhi khoa, Hội Nhi Khoa Việt Nam, Nhà xuất bản 

y học, Hà Nội, 10 (số đặc biệt), tr.1‐19 

khoa chương trình đại học, Nhà xuất bản y học, TP.HCM, tập 

1, tr. 409 – 419 

1991 – 2000 và định hướng chiến lược chăm sóc sức khoẻ trẻ 

em  giai  đoạn  2001‐  2010”,  Hội  nghị  nhi  khoa  toàn  quốc  lần  thứ XVII, 6‐11‐2000, Hà Nội 

cứu nhi khoa, Tài liệu lưu hành nội bộ, Bệnh viện Nhi Đồng 

2, tr. 43‐44. 

cứu nhi tại các tuyến trong thành phố”, Nhi khoa, Hội nhi  khoa  Việt  Nam,  Nhà  xuất  bản  y  học,  Hà  Nội,  10  (số  đặc  biệt), tr. 30‐35. 

 

 Ngày nhận bài báo: 01/11/2013   Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/11/2013   Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 13:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w