1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm dịch tể học ngộ độc tại khoa cấp cứu Bệnh viện nhi đồng 1 từ 01/06/2001 đến 31/05/2002

6 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 234,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này ghi nhận được 236 trẻ ngộ độc nhập khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng 1 từ 01/06/2001 đến 31/05/2002. Trong số này có đến 74.1% trẻ dưới 5 tuổi và tỉ lệ nam: nữ là 1:1. Đa số các trường hợp ngộ độc đến từ các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên nhân thường gặp nhất là uống nhầm (47.1%) kế đến là tai biến điều trị (33.1%) và tự tử (12.3%). Phần lớn các trường hợp ngộ độc xảy ra ở những trẻ sống trong gia đình kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp. Các bậc cha mẹ không đủ kiến thức chăm sóc sức khỏe con cái. Khi ngộ độc xảy ra, họ không biết chăm sóc trẻ như thế nào. Một số cha mẹ đã không mang trẻ đến ngay các cơ sở y tế.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỂ HỌC NGỘ ĐỘC TẠI KHOA CẤP CỨU

BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ 01/06/2001 ĐẾN 31/05/2002

Bùi quốc Thắng*

TÓM TẮT

Công trình nghiên cứu này ghi nhận được 236 trẻ ngộ độc nhập khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng 1 từ 01/06/2001 đến 31/05/2002 Trong số này có đến 74.1% trẻ dưới 5 tuổi và tỉ lệ nam: nữ là 1:1 Đa số các trường hợp ngộ độc đến từ các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh Nguyên nhân thường gặp nhất là uống nhầm (47.1%) kế đến là tai biến điều trị (33.1%) và tự tử (12.3%) Phần lớn các trường hợp ngộ độc xảy ra ở những trẻ sống trong gia đình kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp Các bậc cha mẹ không đủ kiến thức chăm sóc sức khỏe con cái Khi ngộ độc xảy ra, họ không biết chăm sóc trẻ như thế nào Một số cha mẹ đã không mang trẻ đến ngay các cơ sở y tế

SUMMARY

EPIDEMIOLOGIC FEATURES OF POISONING IN EMERGENCY DEPARTMENT OF

CHILDREN HOSPITAL N 0 1 FROM 1 ST JUNE 2001 TO 31 MAY 2002

Bui Quoc Thang * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 7 * Supplement of No 1: 51 - 56

We had 236 cases hospitalized in Emergency Department of the Children Hospital N 0 1 from 1 st June

2001 to 31 May 2002 In which, 74.1% were children under 5 years old and the boy:girl ratio is 1:1 The most of cases came from the districts of Ho Chi Minh city The most common cause is the poisoning accidents (47.1%) followed by the iatrogenic poisoning (33.1%) and the suicide (12.3%) The majority of poisoning cases are occurred in low income, low level educated families Their parents are lack of knowledge of the health care When the poisoning occurs, they don’t known how to take care of the child Some of them didn’t bring up the child to the hospital immediately

* Giảng viên bộ môn Nhi – Trường Đại học Y Dược TP.HCM

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay số trẻ bị ngộ độc nhập khoa cấp cứu

BV Nhi đồng 1 chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số tất

cả trẻ nhập cấp cứu Nguyên nhân có thể do trẻ

uống nhầm thuốc, tự tử,hoặc do điều trị quá liều

Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời trẻ có

thể được cứu sống, ngược lại nếu phát hiện trể hoặc

điều trị không đúng nhất là xử trí bước đầu có thể

gây tử vong ccho trẻ hoặc để lại những di chứng rất

đáng tiếc

Tại Việt nam các công trình nghiên cứu ngộ độc

trước đây cho biết ngộ độc thức ăn đứng hàng đầu

kế đến là thuốc và hóa chất Tuy nhiên trong những

năm gần đây thứ tự các tác nhân gây ngộ độc đã thay đổi, đứng đầu là hóa chất kế đến là thuốc và thức ăn

Một số bậc phụ huynh rất bận rộn trong cuộc sống nên họ thường tìm đến các nhà thuốc tự mua thuốc điều trị cho trẻ và có thể tăng liều vô tội vạ gây nên những trường hợp ngộ độc rất đáng tiếc Hơn nữa, thái độ chủ quan khi trẻ ngộ độc không được kịp thời đưa đến bệnh viện đã gây rất nhiều khó khăn trong việc cấp cứu và điều trị kịp thời cho trẻ

Do đó chúng tôi mạnh dạn thực hiện công trình này nhằm mục tiêu sau:

Trang 2

Mục tiêu tổng quát

Xác định mối liên quan giữa ngộ độc và các yếu

tố dịch tể: tuổi, giới, nguyên nhân, trình độ học vấn

của cha mẹ, hoàn cảnh gia đình

Mục tiêu cụ thể

- Xác định sự phân bố ngộ độc trẻ em theo tuổi,

giới, địa phương, lý do ngộ độc, trình độ học vấn,

nghề nghiệp của cha mẹ, tác nhân gây ngộ độc

- Xác định thời gian từ khi trẻ tiếp xúc tác nhân

ngộ độc đến khi được phát hiện

- Xác định thời gian từ khi phát hiện ngộ độc

đến khi trẻ được nhập viện

- Xác định thái độ xử trí ngộ độc tại nhà của các

bậc cha mẹ

- Xác định tác nhân gây ngộ độc thường gặp

nhất tại khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Đối tượng nghiện cứu

Tất cả các trẻ nhập khoa cấp cứu BV Nhi đồng 1

từ 01/06/2001 đến 31/05/2002 có triệu chứng ngộ

độc do thuốc, hóa chất hay thực phẩm

Phương pháp nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu cắt ngang, mô tả

và phân tích (descriptive and analytic cross-sectional

study)

Thu thập dữ kiện bằng Bảng phỏng vấn

Xử lý số liệu bằng chương trình Epi-Info 2000

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Lứa tuổi

Nhận xét: Đa số trẻ ngộ độc dưới 5 tuổi chiếm

175 trường hợp (74.1%)

Giới tính

Nam 117 49.6 Nữ 119 50.4

Nhận xét: Tỉ lệ ngộ độc ở trẻ nam và nữ như nhau

Địa phương

Tỉnh 46 19.5

Nhận xét: Các trẻ ngộ độc nhập cấp cứu đến từ thành phố Hồ Chí Minh chiếm 190 trường hợp

Phân bố theo tháng

Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Số ca 21 20 23 14 27 23 22 22 16 16 16 16

Nhận xét: Các trường hợp ngộ độc rãi đều trong năm

Hình thức nhập viện

Số ca Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Đa số trẻ nhập viện tự đến khoa Cấp cứu

Thời điểm phát hiện ngộ độc

Chiều 62 26.3 Tối 65 27.5 Đêm 14 05.9

Nhận xét: Trẻ nhập viện rãi đều từ sáng đến tố

Lý do ngộ độc

Theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi (tuổi) Lý do ngộ độc

<1 1-<2 2 - <

5

5 - <

10

10 Tổng số

Tỉ lệ (%)

Uống nhầm do trẻ 2 7 74 5 0 88 37.3 Uống nhầm do cha

mẹ

2 3 9 2 0 16 06.8

Trang 3

Nhóm tuổi (tuổi) Lý do ngộ độc

<1 1-<2 2 - <

5

5 - <

10

10 Tổng số

Tỉ lệ (%)

Uống nhầm do người

khác

2 1 3 1 0 07 03.0

Do tai biến điều trị 48 9 9 6 6 78 33.1

Do người bán thuốc 1 0 0 0 1 02 00.8

Nhận xét: Đa số trẻ ngộ độc là do uống nhầm

(111 trường hợp) kế đó là do điều trị

Theo giới tính và địa phương:

Giới tính Địa phương Lý do ngộ độc

Na

m

Nữ Tổng số

Nội thành

Ngoại thành

Tỉnh Tổng số

Uống nhầm do

trẻ

Uống nhầm do

cha mẹ

Uống nhầm do

người khác

Do tai biến

điều trị

Do người bán

thuốc

Tổng số 117 119 236 148 42 46 236

Trình độ học vấn của cha mẹ

CHA ME Trình độ

Số ca Tỉ lệ (%) Số ca Tỉ lệ (%)ä

Nghề nghiệp của cha mẹ

CHA MẸ Nghề nghiệp

Số ca Tỉ lệ (%) Số ca Tỉ lệ (%)

Thời gian từ khi uống đến đến khi phát hiện

Thời gian phát hiện (giờ) Lý do ngộ độc

Ngay < 1 1 - < 6 6 -

<12

12

-< 24

Tổng số

Uống nhầm do trẻ 36 14 35 2 1 88

Uống nhầm do người khác

4 0 3 0 0 7

Nhận xét: Đa số trẻ được phát hiện ngộ độc trước 6 giờ chiếm 216 trường hợp (91.5%) và có 87 trường hợp đến trước 1 giờ

Thời gian từ khi phát hiện đến khi nhập viện

Nhận xét:Trẻ được nhập viện ngay trong vòng 1 giờ chiếm 64.8 % (153 trường hợp)

Thái độ xử trí tại nhà

Không 195 82.6 Đúng 25 10.6 Sai 16 06.8

Nhận xét: Có đến 82.6 % trẻ không được xử trí

gì sau khi ngộ độc

Thái độ khi nhập tuyến trước

Không 37 15.7 Có 199 84.3

Nhận xét: Chỉ có 15.7% trẻ ngộ độc khi vào tuyến trước không được xử trí

Trang 4

Tác nhân gây ngộ độc

Địa phương Tác nhân

Nội thành

Ngoại thành

Tỉnh Tổng số

Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Đa số các trường hợp ngộ độc có tác

nhân là thuốc

Các thuốc gây ngộ độc

Thuốc không đặc hiệu

(hoặc không rõ)

37 21.76

Các hóa chất gây ngộ độc:

BÀN LUẬN

Trong 236 trường hợp ngộ độc nhập cấp cứu

Bệnh viện Nhi đồng 1 chúng tôi nhận thấy ngộ độc

có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chiếm tỉ lệ cao nhất

là các trẻ dưới 5 tuổi (175 trường hợp) Đặc biệt ở lứa

tuổi từ 2 tuổi đến 5 tuổi là lứa tuổi trẻ luôn muốn

tìm tòi và khám phá sự vật nên ngộ độc khá nhiều

chiếm 98 trường hợp (41.5%) Chỉ cần một thoáng

sơ ý của các bậc cha mẹ là trẻ có thể đưa ngay những thứ vừa tìm được lên miệng và nuốt ngay khi cha mẹ chưa kịp phát hiện

Riêng trong nhóm trẻ từ 10 tuổi trở lên, có 39 trẻ ngộ độc thì đến 29 trẻ tự tử Đây là lứa tuổi dậy thì, chưa chín chắn trong suy nghĩ và hành động Sau những xung đột trong gia đình như bị cha mẹ la mắng, đánh đập hay những xung đột nơi trường học như mặc cảm học kém bị bạn bè trêu chọc, thách đố hoặc trong một phút giận hờn trẻ có thể nghĩ đến cái chết và tìm cách kết thúc đời mình bằng cách tự tử mà không không cần biết hậu quả sẽ ra sao !

Trong lô nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ ngộ độc

ở trẻ nam và trẻ nữ như nhau, hoàn toàn không có sự khác biệt (117 so với 119) Điều này hoàn toàn trái ngược với nhận xét của các tác giả Chanty, Dutta -AK, Fernando, Hoy-JL, Kent R Olson, Yang –

CC, Nguyễn thị Kim Thoa

Tuy nhiên trẻ nam là những trẻ thường uống hay ăn nhầm các tác nhân gây ngộ độc hơn trẻ nữ đơn giản là vì trẻ nam tinh nghịch,hiếu động thường hay phá phách hơn trẻ nữ Ngược lại, về vấ đề tự tử thì trẻ nữ lại chiếm ưu thế hơn với tỉ lệ 2 nũ: 1 nam Điều này cũng giống với nhận định của Nguyễn Lê Anh Tuấn, Bùi Quốc Thắng trong nghiên cứu khảo sát 41 trường hợp tự tử trẻ em tại khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1

Đa số các bệnh nhi ngộ độc nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1 đến từ thành phố Hồ Chí Minh (190 trường hợp chiếm 80.5%) do tính chất địa phương lân cận và niềm tin của các bậc cha mẹ Bệnh nhi đến từ các địa phương khác chỉ chiếm 19.5% các trường hợp và đó thường là những trường hợp nặng quá khả năng điều trị hoặc tại tuyến tỉnh không có đủ trang thiết bị, thuốc men cần thiết cho những trường hợp ngộ độc hiếm gặp

Các trường hợp ngộ độc nhập viện liên tục trong cả năm và các tháng mùa hè có số bệnh nhi ngộ độc nhiều hơn nhưng không rõ rệt lắm Đa số các trường hợp nhập cấp cứu là tự đến do các bậc

Trang 5

cha mẹ quá lo lắng về tình trạng con mình nên

thường bế các cháu vào thẳng khoa cấp cứu bệnh

viện Nhi đồng 1 Hơn nữa, yếu tố địa phương lân

cận cũng góp phần quan trọng trong vấn đề này

Thời điểm phát hiện ngộ độc thường diễn ra

suốt từ sáng đến đêm nhưng nhiều nhất là buổi

chiều và tối Đây là thời điểm mà các cháu đi nhà

trẻ, mẫu giáo hoặc đi học về nhà cùng với cha mẹ

sau khi tan sở Do đó ngộ độc dễ xảy ra và các bậc

cha mẹ cũng phát hiện được ngay

Đa số trẻ ngộ độc sống trong gia đình lao động

chân tay, trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh kinh tế

khó khăn phải vất vả mưu sinh, họ không có thời

gian quan tâm chăm sóc con cái Khi phát hiện các

loại thuốc hay hóa chất không được cất cẩn thận trẻ

cho vào miệng ngay vì chúng không đủ trí khôn để

phân biệt thuốc, hóa chất hay thực phẩm, nước

uống Bên cạnh đó, việc tự ý mua thuốc uống và

tăng liều thuốc tùy ý của các bậc phụ huynh cũng

góp phần đáng kể vào việc gây ngộ độc cho trẻ nhất

là các trẻ nhỏ

Hơn nữa, phương pháp giáo dục con cái bằng roi

vọt, la mắng dễ làm cho trẻ thất vọng, chán nãn

như bị dồn vào chân tường nên chọn cách tự tử để

giải quyết cuộc sống

Thời gian từ khi uống đến khi phát hiện thường

khá sớm, 216 trường hợp được phát hiện trước 6 giờ

sau khi trẻ tiếp xúc với tác nhân gây ngộ độc Đặc

biệt có đến 87 trường hợp được phát hiện trước 1 giờ

chiếm tỉ lệ 37%

Đa số trẻ khi được phát hiện ngộ độc đều nhập

viện ngay, thường trước 1 giờ sau khi phát hiện,

chiếm 64.8% các trường hợp.Không có trẻ nào nhập

viện trể sau 24 giờ Điều này hoàn toàn phù hợp vơi

cuộc sống vỉ khi phát hiện trẻ bị ngộ độc các bậc

cha mẹ đều vội vã cho con mình đi đến bệnh viện

để được xử trí kịp thời Tuy nhiên vẩn còn một số ít

các bậc cha mẹ chủ quan nghĩ rằng liều lượng thuốc

và hóa chất không đủ sức hủy hoại cở thể trẻ hay trẻ

sẽ không sao vì uống nhầm những loại thuốc thông

thường với liều lượng thấp

Khi phát hiện ngộ độc, trẻ hoàn toàn không được xử trí bước đầu tại nhà (82.6%) hay xử trí sai (6.8%) phần lớn do trình độ dân trí còn thấp, học vấn các bậc cha mẹ chưa đủ Thậm chí tại các cơ sở

y tế tuyến đầu có 15.7% các trường hợp trẻ không được xử trí kịp thời và đúng mức

Tác nhân gây ngộ độc đứng hàng đầu trong lô nghiên cứu này là thuốc kế đến là hóa chất vì trong lô nghiên cứu này, đa số các trẻ đều ở thành phố nên việc mua thuốc tại các nhà thuốc khá dễ dàng Trong số các thuốc gây ngộ độc cần đặc biệt quan tâm đến thuốc chống nôn, thuốc kháng histamine và thuốc an thần Với thuốc chống nôn, đây là loại thuốc thường gặp nhất vì khi điều trị các bác sĩ, thường là bác sĩ đa khoa đã không tuân thủ đúng liều lượng và các bậc cha mẹ lại sốt ruột khi trẻ vãn ói sau khi uống thuốc nên lại tiếp tục dùng nhiều lần hơn hoặc tăng liều

Trẻ đến từ các tỉnh và ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thường có tác nhân ngộ độc là hóa chất nhất là thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, diệt chuột…do đặc điểm cuộc sống và nghề nghiệp làm ruộng làm vườn, làm rẫy các loại hóa chất trên có sẵn trong nhà trẻ dễ dàng tìm thấy hoặc do bất cẩn của người

nhà để các hóa chất trên trong tầm tay trẻ

KẾT LUẬN

Ngộ độc trẻ em thường gặp ở tất cả mọi lứa tuổi Nguyên nhân ngộ độc ở trẻ nhỏ thường do trẻ uống nhầm, trái lại ở trẻ lớn hầu hết do trẻ tự tử Các trẻ

bị ngộ độc thường sống trong những gia đình lao động chân tay, kinh tế khó khăn, cha mẹ không có thời gian chăm sóc trẻ Bên cạnh đó, yếu tố chủ quan của các bậc cha mẹ cũng góp phần quan trọng vào việc gia tăng tần suất ngộ độc của trẻ

Do đó, các bậc cha mẹ hãy quan tâm chăm sóc các cháu nhất là các trẻ ở lứa tuổi dậy thì và các cháu nhỏ nhằm hạn chế tối đa các tác nhân gây ngộ độc cho trẻ, kịp thời phát hiện các biểu hiện bất thường của trẻ nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí đúng lúc

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 9 NGUYỄN THI KIM THOA: Đặc điểm dịch tể học và lâm sàng ngộ độc cấp trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng 1

từ 1997-2001

1 BẠCH VĂN CAM: Xử trí ngộ độc ở trẻ em, Cấp cứu

cấp cứu và gây mê trẻ em, Nhà xuất bản Y học 2001: 360-369

Nhi khoa 2000: 55-59

3 BÙI QUỐC THẮNG: Ngộ độc Paraquate, Tài liệu

thuốc bảo vệ thực vật, Cẩm nang thuốc bảo vệ thực vật, Nhà xuất bản nông nghiệp 2000: 9-68

4 DOROSZ Ph.: Analgésiques périphériques dérivés du

para-amino-phénol: Paracétamol, Dorosz 1991: 6-7

5 HERY J., WISEMAN H.: How poisoning happens,

Management of poisoning, A handbook for health care

workers 1997: 13-19

12 TRẦN QUANG HÙNG: Hiểu biết chung về thuốc bảo vệ thực vật, Thuốc trừ dịch hại bảo vệ cây trồng 1991: 5-19

6 HERY J., WISEMAN H.: How to prevent poisoning,

Management of poisoning, A handbook for health care

workers 1997: 20-38

13 VIDAL: Primpéran, Vidal 1996 Việt nam: 1289-1390

14 VÕ CÔNG ĐỒNG: Ngộ độc tổng quát, Bài giảng Nhi khoa tập 2, 1998: 939-965

7 JAMES V WRITER: Epidemiology and Prevention,

8 JAEGER A., FLESCH F.: Les intoxications aigues:

épidémiologie, diagnostic et traitement, Intoxications

aigues 1999: 13-37

Ngày đăng: 21/01/2020, 13:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w