Nội dung bài viết với mục tiêu đánh giá kết quả sạch sỏi và các yếu tố liên quan trong điều trị sỏi niệu quản bằng holmium yttrium ‐ aluminum ‐ garnet laser (laser holmium YAG). Nghiên cứu thực hiện với tất cả các bệnh nhân bị sỏi niệu quản có chỉ định tán sỏi nội soi đều được tán sỏi nội soi ngược dòng bằng laser holmium YAG.
Trang 1ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẠCH SỎI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN BẰNG LASER HOLMIUM YAG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỐNG NHẤT ĐỒNG NAI NĂM 2012
Nguyễn Văn Truyện * , Đặng Đức Hoàng * , Nguyễn Đình Nguyên Đức * ,
Trần Phương*, Bùi Khắc Thái *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề và mục tiêu: Sỏi niệu quản là một bệnh khá phổ biến trong niệu khoa Phương pháp điều trị sỏi
niệu quản hiện được ưa chuộng là tán sỏi nội soi ngược dòng bằng laser Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu trong nước đánh giá đầy đủ về kết quả sạch sỏi và các yếu tố liên quan đến tán sỏi laser trong điều trị Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu đánh giá kết quả sạch sỏi và các yếu tố liên quan trong điều trị sỏi niệu quản bằng Holmium Yttrium ‐ Aluminum ‐ Garnet laser (Laser Holmium YAG)
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các bệnh nhân (BN) bị sỏi niệu quản có chỉ định tán sỏi
nội soi đều được tán sỏi nội soi ngược dòng bằng Laser Holmium YAG Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu, thực hiện tại bệnh viện Đa Khoa Thống Nhất Đồng Nai từ 01/01/2012 đến 31/8/2012
Kết quả: 271 BN được đưa vào nghiên cứu bao gồm 161 nam (59,4%) và 110 nữ (40,6%) Tuổi trung bình
44,76 ± 13,13 tuổi Các nhóm tuổi có sự phân bố tương đối đồng đều về vị trí sỏi giữa các nhóm Sỏi niệu quản đoạn chậu 146 trường hợp (TH) (53,8%), đoạn lưng 125 TH (46,2%) Độ ứ nước của thận do sỏi qua siêu âm cho thấy 125 TH (46,2%) thận không ứ nước hoặc ứ nước độ 1, 146 TH (53,8%) thận ứ nước độ 2 hoặc độ 3 Sỏi có kích thước trung bình 10,68 ± 3,08 mm Tỉ lệ sạch sỏi niệu quản chung 93,7% Tỉ lệ sạch sỏi riêng của sỏi niệu quản đoạn chậu và của sỏi niệu quản đoạn lưng tương ứng là 99,3% và 87,2%, p < 0,05
Kết luận: Tán sỏi nội soi laser bằng máy soi cứng niệu quản – thận là một phương pháp điều trị ít xâm hại,
an toàn và hiệu quả trong điều trị sỏi niệu quản Trong số các yếu tố liên quan đến kết quả sạch sỏi, vị trí sỏi và kích thước sỏi là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp (hồi quy logistic đa biến, p < 0,05) Các yếu tố còn lại như giới tính, nhóm tuổi, độ ứ nước ở thận do sỏi có ảnh hưởng không đáng kể đến kết quả tán sỏi (hồi quy logistic đa biến, p > 0,05)
Từ khóa: sỏi niệu quản, sỏi niệu quản đoạn chậu, sỏi niệu quản đoạn lưng, tán sỏi nội soi laser
ABSTRACT
EVALUATING STONE FREE RESULT OF HOLMIUM YAG LASER ENDOSCOPIC LITHOTRIPSY ON URETERAL STONE AND RELATIONSHIP OF FACTORS AT THONG NHAT DONG NAI GENERAL
HOSPITAL IN 2012
Nguyen Van Truyen, Dang Duc Hoang, Nguyen Dinh Nguyen Duc, Tran Phuong, Bui Khac Thai
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 220 ‐ 227
Background and objective: We reported our experience and evaluated our outcome with the use of
Holmium YAG laser endoscopic lithotripsy in management of ureteral stones
Materials and methods: Prospective cohort study, from January 1 st 2012 to August 31 st 2012, 271 patients with ureteral stones were treated by Holmium YAG laser ureteroscopic lithotripsy Our study was conducted at Thong Nhat Dong Nai General Hospital
Tác giả liên lạc: BS CKII. Nguyễn Văn Truyện. ĐT: 0919006593. Email: bsnguyenvantruyen@yahoo.com.vn
Trang 2Results: There were 161 (59.4%) males and 110 (40.6%) females The mean age was 44.76 ± 13.13 years
old Pelvic ureteral stones had 146 (53.8%) and lumbar ureteral stones had 125 (46.2%) Overall stone free rate was 93.7% Stone free rate of pelvic ureteral stones and of lumbar ureteral stones were 99.3% and 87.2%, (p < 0.05) Stones in pelvic ureter or lumbar ureter and size of stones were factors affecting to stone free rate (multivariable logistic regression, p < 0.05)
Conclusion: Holmium YAG laser ureteroscopic lithotripsy is small invasive, safe and effective in treatment
ureteral stones
Key words: Ureteral stone, pelvic ureteral stone, lumbar ureteral stone, laser ureteral lithotripsy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi tiết niệu là một bệnh thường gặp trong
niệu khoa. Trong nhóm bệnh sỏi đường tiết
niệu, sỏi niệu quản chiếm tỉ lệ khá cao, khoảng
28%, chỉ sau sỏi thận(12). Điều trị sỏi niệu quản,
có nhiều phương pháp tùy theo kích thước và vị
trí sỏi. Trong các phương pháp điều trị ngoại
khoa sỏi niệu quản, tán sỏi nội soi ngược dòng
bằng laser là phương pháp hiện được ưa chuộng
vì hiệu quả và tính khả thi. Trong điều kiện Việt
Nam ở thời điểm hiện tại, thường dùng máy nội
soi niệu quản – thận cứng vì có độ bền cao và
giá thành thấp so với máy nội soi mềm. Tuy
nhiên, khi không có máy nội soi niệu quản mềm,
tán sỏi niệu quản laser bằng máy nội soi cứng
thường chỉ được áp dụng cho sỏi niệu quản
đoạn chậu vì khả năng tiếp cận sỏi dễ. Trái lại,
sỏi niệu quản đoạn lưng do nằm cao, khó tiếp
cận, dễ chạy ngược vào bể thận hoặc có khi mất
hút trong các đài thận khi tán nên các phẫu
thuật viên niệu khoa thường ngần ngại chỉ định
tán sỏi nội soi ngược dòng bằng máy nội soi
cứng. Thay vào đó chuộng mổ nội soi hông lưng
hoặc tán sỏi ngoài cơ thể hoặc mổ mở hơn. Do
đó, có ít nghiên cứu đánh giá đầy đủ kết quả
sạch sỏi của tán sỏi nội soi ngược dòng trong
điều trị sỏi niệu quản nói chung và sỏi niệu quản
đoạn lưng nói riêng. Vì thế, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đánh giá kết quả sạch sỏi và các yếu
tố liên quan trong điều trị sỏi niệu quản bằng
Laser Holmium YAG tại bệnh viện Đa Khoa
Thống Nhất Đồng Nai với các mục tiêu sau:
Mục tiêu
Xác định tỉ lệ sạch sỏi chung của tán sỏi laser
sỏi niệu quản.
Xác định tỉ lệ sạch sỏi của tán sỏi laser sỏi niệu quản đoạn lưng.
Xác định tỉ lệ sạch sỏi của tán sỏi laser sỏi niệu quản đoạn chậu.
Kiểm định các yếu tố liên quan đến kết quả sạch sỏi của tán sỏi laser sỏi niệu quản: giới tính, nhóm tuổi, vị trí sỏi, kích thước sỏi, độ ứ nước của thận do sỏi.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Chỉ định
Tất cả các bệnh nhân bị sỏi niệu quản có kích thước từ ≥ 4 mm, có chỉ định tán sỏi nội soi ngược dòng bằng Laser Holmium YAG, không
có chống chỉ định, sau khi được thảo luận, đã đồng ý, được đưa vào nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này, sỏi niệu quản đoạn lưng được xác định là sỏi ở vị trí từ khúc nối
bể thận – niệu quản tới trên mào chậu (tương ứng với sỏi niệu quản 1/3 trên). Sỏi niệu quản đoạn chậu là sỏi ở vị trí từ mào chậu tới bàng quang (tương ứng với sỏi niệu quản 1/3 giữa
và 1/3 dưới).
Chống chỉ định
Rối loạn đông máu chưa điều chỉnh được. Nhiễm trùng niệu chưa được điều trị ổn trước. Không gây mê, gây tê tủy sống được.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Đoàn hệ tiền cứu.
Cỡ mẫu
Áp dụng công thức ước lượng sự khác biệt
Trang 3n = z2
1‐α/2 [p1 (1 – p1) + p2 (1 – p2)]/ d2
Trong đó, α = 0.05; Z
1‐α/2 = 1.96; p1 = 0,82; p2
= 0,93 (Theo y văn, qua Guideline 2012 của EAU,
tỉ lệ sạch sỏi của tán sỏi nội soi sỏi niệu quản
đoạn lưng và đoạn chậu tương ứng là 82% và
93%)(13); d = 0,1; ta tính được n = 82.
Vậy, mỗi nhóm phải có tối thiểu 82 BN.
Phương tiện nghiên cứu
Máy tán sỏi Laser Accu‐Tech, máy soi
niệu quản cứng của Karl Storz, guide wire,
basket, thông DJ, thông niệu quản, thông
Foley số 16, dàn máy nội soi chung: màn
hình, nguồn sáng, camera.
Quy trình kỹ thuật tán sỏi
Vô cảm: gây tê tủy sống hoặc gây mê nội
khí quản.
BN nằm tư thế sản phụ khoa.
Rửa, sát trùng vùng mổ.
Đặt máy soi niệu quản theo guide wire.
Tiếp cận sỏi.
Tán sỏi bằng Laser.
Dùng basket bắt các mảnh sỏi lớn. Các mảnh
sỏi nhỏ ≤ 2mm được để lại đào thải qua đường
tự nhiên.
Đặt thông niệu quản hoặc DJ.
Đặt thông tiểu lưu kết thúc cuộc mổ.
Hậu phẫu
Chụp XQ KUB sau 4 – 8 tuần đánh giá kết
quả sạch sỏi và rút DJ theo hẹn.
Siêu âm kiểm tra độ ứ nước thận và kết quả
sạch sỏi.
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả
Sạch sỏi
Khi sỏi được tán nhỏ thành các mảnh sỏi ≤
2mm, tự đào thải ra qua đường tự nhiên. Kiểm
tra sạch sỏi qua phim chụp XQ KUB và siêu âm sau tán sỏi khi BN được hẹn tái khám sau 1 tháng hoặc trước khi rút ống thông DJ.
Thất bại
khi không thể tiếp cận được sỏi, thủng niệu quản khi tán sỏi phải chuyển phương pháp điều trị khác như mổ nội soi hông lưng hoặc mổ mở; sỏi chạy lên thận khi tán; sỏi còn lớn phải đặt DJ
và chuyển tán sỏi ngoài cơ thể.
Thu thập số liệu và xử lý số liệu thống kê
Phần mềm SPSS 19.0 được dùng để nhập và
xử lý số liệu thống kê.
Các biến định lượng như tuổi, kích thước sỏi được mã hoá và phân nhóm thành các biến thứ
tự. Các biến định tính, biến thứ tự được kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương hoặc Fisher.
Phân tích, kiểm định các yếu tố liên quan bằng hồi quy đa biến logistic.
p < 0,05 được xem như có ý nghĩa thống kê.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ 01/01/2012 – 31/8/2012 tại bệnh viện Đa Khoa Thống Nhất Đồng Nai.
KẾT QUẢ
Có 271 BN được đưa vào nghiên cứu.
Giới tính và vị trí sỏi
Nam nhiều hơn nữ (59,4% so với 40,6%). Trong số 110 TH sỏi niệu quản ở nữ, sỏi niệu quản đoạn chậu có 66 TH (60%). Trong số 161
TH sỏi niệu quản ở nam, sỏi niệu quản đoạn chậu chiếm 80 TH (49,7%). Sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (Chi bình phương, p = 0,09).
Giới tính và kết quả sạch sỏi
Tỉ lệ sạch sỏi ở nam và nữ tương ứng là 93,2% và 94,5%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (Chi bình phương, p = 0,64) (bảng 1).
Bảng 1 Giới tính và kết quả sạch sỏi
Trang 4Giới tính
χ 2 ,
p = 0,64
Tuổi, nhóm tuổi và vị trí sỏi
Tuổi trung bình 44,76 ± 13,13 tuổi (thấp nhất
21 tuổi, cao nhất 82 tuổi). Sự khác biệt giữa các
nhóm tuổi và vị trí sỏi không có ý nghĩa thống
kê (Chi bình phương, p = 0,21).
Nhóm tuổi và kết quả sạch sỏi
Tỉ lệ sạch sỏi ở nhóm tuổi ≤ 49 và ≥ 50 tương ứng là 94,1% và 93,1%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (Chi bình phương, p = 0,75) (bảng 2).
Bảng 2 Nhóm tuổi và kết quả sạch sỏi
Nhóm tuổi
χ 2 ,
p = 0,75
Vị trí sỏi và kết quả sạch sỏi
Sỏi niệu quản đoạn chậu có kết quả sạch sỏi
cao hơn sỏi niệu quản đoạn lưng (99,3% so với
87,2%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Chi bình phương, p = 0,001) (bảng 3).
Bảng 3 Vị trí sỏi và kết quả sạch sỏi
Vị trí sỏi
χ2 ,
p = 0,001
Độ ứ nước ở thận qua siêu âm và kết quả
sạch sỏi
Có 125 TH (46,2%) thận không ứ nước hoặc
ứ nước độ 1 có tỉ lệ sạch sỏi là 98,4%. Còn lại 146
TH (53,8%) thận ứ nước độ 2 hoặc độ 3 có tỉ lệ sạch sỏi 89,7%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Chi bình phương, p = 0,003) (bảng 4).
Bảng 4 Độ ứ nước ở thận qua siêu âm và kết quả sạch sỏi
Liên quan giữa độ ứ nước của thận qua siêu âm và kết quả
sạch sỏi
Kết quả sạch sỏi
Tổng cộng Kiểm định, giá trị p
Trang 5nước độ 1 Tỉ lệ (%) 1,6% 98,4% 100,0% p = 0,003
Kích thước sỏi và kết quả sạch sỏi
Sỏi có kích thước trung bình 10,68 ± 3,08 mm
(nhỏ nhất 6 mm, lớn nhất 23 mm). Tỉ lệ sạch sỏi
giảm dần theo kích thước sỏi. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Chi bình phương, p = 0,001) (bảng 5).
Bảng 5 Kích thước sỏi và kết quả sạch sỏi
Liên quan giữa kích thước sỏi và kết quả sạch sỏi
Kết quả sạch sỏi
Tổng cộng Kiểm định, giá trị p
Kích thước sỏi
χ 2 ,
p = 0,001
Kích thước sỏi từ 11 - 15
mm
Liên quan giữa kết quả sạch sỏi và các yếu
tố
Như giới tính, nhóm tuổi, kích thước sỏi, độ
ứ nước của thận do sỏi và vị trí sỏi (hồi quy
logistic đa biến) cho thấy vị trí sỏi và kích thước
sỏi ảnh hưởng đến kết quả tán sỏi laser sỏi niệu quản (Hồi quy logistic, p < 0,05). Các yếu tố khác như giới tính, nhóm tuổi, độ ứ nước ở thận do sỏi không ảnh hưởng nhiều đến kết quả tán sỏi (Hồi quy logistic, p > 0,05) (bảng 6).
Bảng 6 Liên quan giữa kết quả sạch sỏi và các yếu tố
Kết quả sạch sỏi và các
Ngày nằm viện: Trung bình 3 ± 1,23 ngày
(ngắn nhất 2 ngày, dài nhất 13 ngày).
BÀN LUẬN
Giới tính
Sỏi niệu quản thường gặp ở nam hơn nữ
(59,4% so với 40,6%) phù hợp với nghiên cứu
của Chiến, Tuấn, Ca(9,8,14). Trong nghiên cứu,
chúng tôi chưa thấy có sự khác biệt về kết quả
sạch sỏi khi tán ở cả 2 giới (93,2% ở nam và 94,5% ở nữ). Tuy nhiên, theo Tuấn, Ca, tán sỏi ngược dòng cho BN nữ thuận lợi nhiều hơn so với nam giới(8,14).
Tuổi
Tuổi trung bình 44,76 ± 13,13 tuổi. Nghiên cứu của Ca có tuổi trung bình ở BN sỏi niệu quản là 49,71 ± 10,59(14). Riêng của Chiến có tuổi
Trang 6trung bình 41,52(9). Các nhóm tuổi có tỉ lệ sỏi ở
đoạn lưng và đoạn chậu tương đương nhau. Về
kết quả sạch sỏi khi tán sỏi bằng laser ở cả 2
đoạn tương quan với nhóm tuổi, không có sự
khác biệt có ý nghĩa. Như vậy, tuổi không phải
là yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả tán sỏi.
Theo Tuấn, BN nữ, cao tuổi, máy tán sỏi dễ tiếp
cận sỏi hơn do niệu đạo nữ ngắn và phải chăng
tuổi cao niệu quản dãn rộng hơn(8).
Vị trí sỏi và kết quả sạch sỏi
Tỉ lệ sạch sỏi chung 93,7%. Sỏi niệu quản
đoạn chậu có kết quả sạch sỏi cao hơn sỏi niệu
quản đoạn lưng (99,3% so với 87,2%, p < 0,05).
Tham khảo kết quả tỉ lệ sạch sỏi của các tác giả
khác dao động từ 85,8% ‐ 93,26%: Chiến 87,2%;
Thể 88,8%; Sang 93,26%; Tuấn 85,8%; Ca 88,9%
(9,3,5,8,14). Atar trong 35 TH tán sỏi niệu quản laser,
có tỉ lệ thành công 97%(9). Dũng có tỉ lệ sạch sỏi
khi tán sỏi niệu quản đoạn lưng và đoạn chậu
bằng laser tương ứng là 94% và 100%(11). Như
vậy, tán sỏi niệu quản bằng laser có tỉ lệ thành
công rất cao và năng lượng Holmium laser được
xem như “tiêu chuẩn vàng” của máy tán sỏi nội
soi hiện nay(9). Trong 17 TH thất bại của chúng
tôi, có 16 TH sỏi nằm ở đoạn lưng và chỉ có 1 TH
sỏi ở đoạn chậu. Thất bại trong loạt nghiên cứu
của chúng tôi hoặc do không tiếp cận được sỏi
phải chuyển mổ nội soi hông lưng hoặc mổ mở,
hoặc do sỏi lớn lại nằm ngang, khi tán sỏi bị
thủng niệu quản phải chuyển mổ mở hoặc sỏi
chạy ngược lên thận khi bơm nước để thấy rõ
sỏi hoặc khi đang tán sỏi, sỏi đã vỡ được một
phần, lỏng ra khỏi vị trí khảm, không bắt lại kịp,
phải đặt DJ và chuyển qua tán sỏi ngoài cơ thể
sau đó. Sỏi niệu quản đoạn chậu do nằm ở vị trí
thấp hơn so với sỏi niệu quản đoạn lưng nên dễ
tiếp cận sỏi hơn. Ngoài ra, để sỏi chạy lên bể
thận do áp lực nước bơm nhằm làm rõ phẫu
trường khi tán, cần phải một đoạn đường dài
mà máy soi có thể lên theo và khống chế sỏi
được. Sỏi niệu quản đoạn lưng thì ngược lại.
Tuy nhiên khi khống chế được sỏi trong rọ, thì
kết quả tán sỏi của hai đoạn là như nhau. Theo
Chiến, sử dụng ống soi cứng hạn chế hiệu quả
trong việc tán sỏi ở vị trí niệu quản 1/3 trên và tác giả đề nghị sử dụng ống soi mềm để khắc phục tình trạng này(9). Sử dụng ống nội soi mềm
là hợp lý nhưng trang bị ống soi mềm lại là vấn
đề lớn trong thực tế vì giá thành cao lại dễ hỏng
so với ống soi cứng. Để giảm tỉ lệ thất bại khi tán sỏi laser sỏi niệu quản đoạn lưng bằng máy soi cứng, theo chúng tôi, một khi đã tiếp cận được sỏi, bơm nước áp lực vừa đủ thấy, không được lui máy soi cho đến khi kết thúc cuộc mổ, tán sỏi laser cho vỡ nhỏ sỏi và sử dụng sớm basket khi
có thể được để cố định sỏi. Tán sỏi cho vỡ nhỏ ≤ 2mm và không cần bắt lấy sỏi đã vỡ, đặt DJ. Sỏi
đã vỡ thành mảnh nhỏ sẽ được đào thải qua đường tự nhiên. Nhờ đó, rút ngắn được thời gian phẫu thuật và không làm tổn thương thêm niệu quản do phải lên máy và lùi máy khi bắt lấy các mảnh sỏi lớn ra ngoài. Theo Đức, lý tưởng nhất là tán sỏi vỡ thành những mảnh vụn
2 – 3mm để sỏi vụn tự trôi ra ngoài, không cần dùng rọ bắt sỏi(9). Goktas có 238 TH bị sỏi niệu quản được điều trị bằng tán sỏi nội soi ngược dòng thành những mảnh sỏi nhỏ < 4mm, không bắt sỏi ra ngoài bằng rọ ngay mà cho tự đào thải qua đường tự nhiên, tác giả nhận thấy tỉ lệ sạch sỏi là 95% sau 5 ngày. 5% còn lại phải tán sỏi nội soi bổ sung lần hai và tác giả đề nghị chỉ cần tán cho vỡ sỏi < 4mm là đủ, không cần bắt sỏi, cho loại bỏ tự nhiên nhằm giảm thời gian phẫu thuật
và giảm tai biến biến chứng do tổn thương niệu quản do thao tác máy nhiều lần trên niệu quản(4).
Độ ứ nước ở thận qua siêu âm và kết quả sạch sỏi
Có 125 TH (46,2%) thận không ứ nước hoặc
ứ nước độ 1 có tỉ lệ sạch sỏi là 98,4%. Còn lại 146
TH (53,8%) thận ứ nước độ 2 hoặc độ 3 có tỉ lệ sạch sỏi 89,7%. Nghiên cứu của Sang với 89 TH sỏi niệu quản tán sỏi nội soi laser, đa số ứ nước
độ 2 hoặc 3 (87, 64%)(5). Hùng với 50 TH sỏi niệu quản đoạn chậu khảm tán sỏi laser chỉ có 2% thận ứ nước độ 1, tỉ lệ sạch sỏi 100%(2). Tùng có
131 TH sỏi niệu quản đoạn lưng trong đó thận không ứ nước hoặc ứ nước độ 1 chiếm 53%, tỉ lệ sạch sỏi 89,3%(6).
Trang 7Sỏi có kích thước trung bình 10,68 ± 3,08 mm
(nhỏ nhất 6 mm, lớn nhất 23 mm). Tỉ lệ sạch sỏi
giảm dần theo kích thước sỏi. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê. Nghiên cứu của các tác giả khác
về kích thước sỏi niệu quản trung bình trong tán
sỏi laser như Thể và Sang lần lượt là 10,88 ±
3,1mm và 11,4 ± 2,3mm(3,5). Tuy nhiên, các tác giả
này không cho biết kích thước sỏi có ảnh hưởng
đến kết quả tán sỏi hay không. Chen có 26 TH bị
sỏi niệu quản đoạn lưng khảm, kích thước lớn >
2cm, tán sỏi nội soi laser bằng máy soi bán cứng
niệu quản – thận có tỉ lệ sạch sỏi 84%(1). Theo
chúng tôi, sỏi càng lớn tán càng lâu, càng có
nguy cơ chạy ngược lên thận khi sỏi đã vỡ được
một phần do bơm nước để làm trong phẫu
trường và sỏi đã bị lỏng ra khỏi vị trí khảm nếu
không được cố định bằng rọ để giữ sỏi. Do đó,
kích thước sỏi là một yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến kết quả tán sỏi.
Liên quan giữa kết quả sạch sỏi và các yếu
tố
Như giới tính, nhóm tuổi, kích thước sỏi, độ
ứ nước của thận do sỏi và vị trí sỏi (hồi quy
logistic đa biến) cho thấy vị trí sỏi và kích thước
sỏi ảnh hưởng đến kết quả tán sỏi laser sỏi niệu
quản (hồi quy logistic, p < 0,05). Còn các yếu tố
khác như giới tính, nhóm tuổi, độ ứ nước ở thận
do sỏi không ảnh hưởng nhiều đến kết quả tán
sỏi (hồi quy logistic, p > 0,05). Như vậy, độ ứ
nước ở thận khi phân tích đơn biến, ảnh hưởng
có ý nghĩa đến kết quả sạch sỏi chỉ là yếu tố gây
nhiễu do tác động của yếu tố vị trí sỏi ở đoạn
lưng hoặc đoạn chậu và kích thước sỏi như đã
phân tích ở phần trên.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 271 trường hợp sỏi niệu
quản được tán sỏi nội soi laser bằng máy soi
cứng niệu quản – thận, chúng tôi nhận thấy đây
là một phương pháp điều trị ít xâm hại, an toàn
và hiệu quả trong điều trị sỏi niệu quản:
Tỉ lệ sạch sỏi niệu quản chung 93,7%.
Tỉ lệ sạch sỏi riêng của sỏi niệu quản đoạn chậu và của sỏi niệu quản đoạn lưng tương ứng
là 99,3% và 87,2%.
Trong số các yếu tố liên quan đến kết quả sạch sỏi, vị trí sỏi và kích thước sỏi là hai yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Các yếu tố còn lại như giới tính, nhóm tuổi, độ ứ nước ở thận do sỏi không có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tán sỏi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
H, Bozkurt Y, et al. (2012). Comparison of pneumatic and laser
lithotripsy in the treatment of pediatric ureteral stones. J Pediatr
Urol, 21(3): 23‐34.
sỏi niệu quản nội soi ngược dòng bằng máy tán laser. Y học TP
Hồ Chí Minh, tập 16(3), tr. 520‐522.
Holmium:YAG Lasertripsy with semirigid ureterorenoscope
for upper‐ureteral stones > 2 cm. J Endourol, 19(7): 780‐784.
soi tán sỏi bằng Laser trong điều trị sỏi niệu quản chậu khảm.
Y học TP Hồ Chí Minh, tập 14(1), tr. 458‐471.
sỏi niệu quản bằng laser Ho:YAG trên 107 bệnh nhân sỏi niệu
quản. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 16(3), tr. 318‐322.
K (2011). Fragmentation without extraction in ureteral stones:
outcomes of 238 cases. Urol Res.: 29‐34.
sỏi qua nội soi ngược dòng trên máy Holmium YAG Laser.
Kết quả và những kinh nghiệm rút ra. Y học thực hành (Số 769 +
770), tr. 148‐153.
nội soi tán sỏi bằng Laser Sphinx trong điều trị sỏi niệu quản
đoạn lưng tại bệnh viện quận Thủ Đức. Y học TP Hồ Chí Minh,
tập 16(1), tr. 229‐233.
nội soi. In: Trần Lê Linh Phương. Điều trị sỏi niệu bằng phẫu
thuật ít xâm lấn, tr. 65‐85. Nhà xuất bản y học, TP. Hồ Chí
Minh.
10 Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (2012). Đánh giá kết quả tán
sỏi niệu quản nội soi bằng laser tại bệnh viện E. Y học TP Hồ
Chí Minh, tập 16(3), tr. 419‐422.
11 Nguyễn Văn Trí Dũng và cộng sự (2011). So sánh hai phương
pháp tán sỏi niệu quản ngược dòng bằng siêu âm và laser. Y
học TP HCM, tập 15(3), tr. 151‐155.
12 Trần Văn Hinh (2008). Cơ chế bệnh sinh hình thành sỏi tiết
niệu. In: Trần Lê Linh Phương. Điều trị sỏi niệu bằng phẫu thuật
ít xâm lấn, tr.8‐19. Nhà xuất bản y học, TP. Hồ Chí Minh.
13 Türk C, Knoll T, Petrik A, Sarica K, Straub M & Seitz C (2012).
Guidelines on Urolithiasis. European Association of Urology –
Guidelines.
14 Vũ Nguyễn Khải Ca và cộng sự (2012). Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi Holmium Laser tại
bệnh viện Việt Đức. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 16(3), tr. 311‐
334.
Trang 8