1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả bước đầu điều trị một thì dị dạng hậu môn trực tràng thể cao và trung gian ở nam

5 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 519,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá tính khả thi, an toàn và kết quả bước đầu của phẫu thuật tạo hình hậu môn qua ngã sau, sửa chữa hoàn toàn một thì các trường hợp dị dạng hậu môn trực tràng dạng cao và trung gian ở trẻ nam. Nghiên cứu tiền cứu trên 61 bệnh nhi nam được thực hiện phẫu thuật một thì, tạo hình hậu môn ngả sau từ 01/2007 đến 6/2011,

Trang 1

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ MỘT THÌ DỊ DẠNG HẬU MÔN TRỰC TRÀNG

THỂ CAO VÀ TRUNG GIAN Ở NAM

Đào Trung Hiếu*, Huỳnh Công Tiến*, Huỳnh Thị Phương Anh*, Tạ Huy Cần*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tính khả thi, an toàn và kết quả bước đầu của phẫu thuật tạo hình hậu môn qua ngã

sau, sửa chữa hoàn toàn một thì các trường hợp dị dạng hậu môn trực tràng dạng cao và trung gian ở trẻ nam

Đối tượng phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu 61 bệnh nhi nam được thực hiện phẫu thuật

một thì, tạo hình hậu môn ngả sau từ 01/2007 đến 6/2011, tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 Chúng tôi ghi nhận và phân tích các dữ kiện lâm sàng, cận lâm sàng để chẩn đoán, thuận lợi và khó khăn trong lúc mổ, kết quả sau mổ

và biến chứng

Kết quả: 61 bệnh nhi nam được tạo hình hậu môn trực tràng ngã sau một thì, với tuổi phẫu thuật trung

bình là 3,08 ngày (1 đến 17 ngày) Thời gian phẫu thuật trung bình là 57,38 phút (30 đến 95 phút), với 1,6% phối hợp ngả bụng, 98,4% qua ngả hậu môn đơn thuần Thời gian hậu phẫu trung bình 15,69 ± 7,49 ngày Biến chứng sau mổ: nhiễm khuẩn vết mổ 11,5%, 1,6% tử vong, 1,6% thủng trực tràng, 1,6% rò phân qua vết mổ

Kết luận: Tuy có một số biến chứng, phẫu thuật tạo hình hậu môn ngã sau sửa chữa hoàn toàn các trường

hợp dị dạng hậu môn trực tràng dạng cao và trung gian ở nam cho thấy tính an toàn và khả thi

Từ khóa: Hậu môn không thủng, dị dạng hậu môn trực tràng, tạo hình hậu môn trực tràng ngã sau

ABSTRACT

PRELIMINARY RESULT OF ONE STAGE CORRECTION OF HIGH AND INTERMEDIATE

IMPERFORATE ANUS IN BOY

Dao Trung Hieu, Huynh Cong Tien, Huynh Thi Phuong Anh, Ta Huy Can

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 51 - 55

Objectives: The aim of this study was to examine the feasibility, safety, and short term outcome of complete

one-stage repair of high and intermediate anorectal malformations by posterior sagittal anorectoplasty procedure (PSARP) in boy

Methods: 61 boys underwent one stage PSARP in the period between January 2007 and June 2011 in

Children’s Hospital 1 Noted and analysed clinical and paraclinical data to diagnose; avantages and disavantages during surgery; postoperative outcomes and complications

Results: There were 61 patients The median age at operation was 3.08 days (range from 1 to 17 days)

Mean operating time was 57.38 minutes: 98.4% PSARP approach, 1.6% with abdominal approach

Mean postoperative time was 15.69 days Complications: wound infection in 11.5%, 1% died after surgery, rectal perforation in 1.6%, in 1.6%.entero-cutaneous anstomotic leakage

Conclutions: The 1-stage PSARP in boy involves fewer short-term complications Complete 1-stage repair

using the PSARP to treate high and intermediate-type anorectal malformations is safe and feasible

Key words: Imperforate anus, anorectal malformation, posterior sagittal anorectoplasty

* Bệnh viện Nhi Đồng 1

Tác giả liên lạc: Bs Đào Trung Hiếu, ĐT: 0903750083 Email: thuy070237@yahoo.com.vn

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kể từ khi Penã và De Vries mô tả kỹ thuật

tạo hình hậu môn trực tràng qua ngã sau thì

phương pháp này nhanh chóng được áp dụng

rộng rãi ở nhiều trung tâm trên thế giới trong

điều trị dị dạng hậu môn trực tràng

Vấn đề tạo hình hậu môn trực tràng theo

Penã kinh điển thường được chia làm nhiều giai

đoạn trong vài tuần hoặc vài tháng Bệnh nhi

thường được làm hậu môn tạm lúc sơ sinh, sau

đó khảo sát túi cùng trực tràng có cản quang để

phân loại dị dạng, tạo hình hậu môn và cuối

cùng là đóng hậu môn tạm Như vậy, với ba giai

đoạn, ba lần phẫu thuật, gánh nặng cho bệnh

nhi và gia đình về phương diện tâm lý, sinh lý

và kinh tế sẽ là rất lớn

Chúng tôi áp dụng phẫu thuật tạo hình hậu

môn theo ngã sau (có cải biên) một thì điều trị dị

dạng hậu môn trực tràng dạng cao và trung gian

từ năm 2006 Trong phạm vi bài báo cáo này

chúng tôi trình bày một số kinh nghiệm cũng

như kết quả bước đầu thực hiện phẫu thuật này

ở trẻ nam

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tính khả thi, an toàn và kết quả

bước đầu của phẫu thuật tạo hình hậu môn qua

ngã sau, sửa chữa hoàn toàn một thì các trường

hợp dị dạng hậu môn trực tràng dạng cao và

trung gian ở trẻ nam

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Tất cả các bệnh nhi nam dị dạng hậu môn

trực tràng thể cao và trung gian được phẫu thuật

tạo hình hậu môn một thì từ tháng 01/2007 đến

tháng 01/2011 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu mô tả

Thời gian nghiên cứu: 01/2007 đến tháng

6/2011

Các dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

Tuổi thai, cân nặng, dị tật phối hợp, phân

loại dị dạng, tình trạng nhiễm khuẩn trước mổ Thời điểm và thời gian mổ, vị trí dò vào đường tiết niệu, vị trí túi cùng, biến chứng trong lúc mổ

Thời điểm cho ăn sau mổ, đi tiêu sau mổ, biến chứng sớm, thời gian nằm viện sau phẫu thuật

Tái khám theo dõi tình trạng hẹp hậu môn

và chức năng đi tiêu

Phương pháp phẫu thuật:

Hình 1: Rạch da theo đường dọc sau và bóc tách bộc

lộ túi cùng trực tràng

Trang 3

Hình 2: Bóc tách di động túi cùng trực tràng

Hình 3: Tạo đường hầm và đưa túi cùng xuyên co

thắt

Hình 4: Đính trực tràng vào lỗ hậu môn mới tạo và

khâu lại vết mổ

KẾT QUẢ

Trong vòng ba năm, chúng tôi tiến hành phẫu thuật tạo hình hậu môn một thì theo ngã sau trên 61 bệnh nhi nam

Các yếu tố về dịch tễ

Tuổi thai: 90,2% (55 trường hợp) trẻ sinh đủ tháng và 9,8% (6 trường hợp) trẻ sinh thiếu tháng

Sanh thường 77% (47 trường hợp), sanh mổ 23% (14 trường hợp)

Con so 49,2% (30 trường hợp), con rạ 50,8 (31 trường hợp)

Cân nặng trung bình 2959 ± 487 g (từ 1800 g đến 4200 g)

Triệu chứng lâm sàng

Vàng da 16,4% (10 trường hợp), không vàng

da 83,6% (51 trường hợp)

Rò phân qua đường tiết niệu trong 8,2% (5 trường hợp), không rò 91,8% (56 trường hợp) Nôn gặp trong 8,2% (5 trường hợp), không nôn 91,8% (56 trường hợp)

Bụng trướng nhẹ trong 19,7% (12 trường hợp), trướng vừa 72,1% (44 trường hợp), trướng nặng 8,2% (5 trường hợp)

Không có dị tật phối hợp trong 37,7% (23 trường hợp), có dị tật 60,23% (38 trường hợp) Trong những bệnh nhi có dị tật phối hợp, tim bẩm sinh chiếm đa số, 89,47% (34/38 trường hợp), kế đến là hội chứng Down 26,32% (10/38 trường hợp)

Các dị tật khác bao gồm: thận nước, thận đôi, thận đa nang, bất sản thận, lỗ tiểu thấp, trào ngược bàng quang niệu quản, dị dạng cột sống, tay, chân khoèo, sứt môi, chẻ vòm

Chẩn đoán trước mổ: 16,4% bất sản hậu môn không dò (10 trường hợp), bất sản hậu môn có dò 1,6% (1 trường hợp), bất sản hậu môn trực tràng không dò 75,4% (46 trường hợp), bất sản hậu môn trực tràng có dò 6,6% (4 trường hợp)

Trang 4

Phẫu thuật

Tuổi phẫu thuật trung bình là 3,08 ± 1,99

ngày tuổi, sớm nhất là 1 ngày và muộn nhất là

17 ngày tuổi, 45,9% trẻ được phẫu thuật ở ngày

tuổi thứ 4 và 96,7% được phẫu thuật trong 4

ngày đầu sau sinh

Phương pháp tiếp cận: 1,6% (1 trường hợp)

có phối hợp ngả bụng, 98,4% (60 trường hợp) chỉ

tiếp cận bằng ngả sau đơn thuần

Thời gian phẫu thuật trung bình 57,38 ± 15

phút, ngắn nhất 30 phút, dài nhất 95 phút

Đánh giá vị trí túi cùng so với xương cụt:

19,7% (12 trường hợp) dưới xương cụt, 34,4% (21

trường hợp) ngang xương cụt, 45,9% (28 trường

hợp) trên xương cụt

Phân loại dị dạng trong lúc mổ: không có rò

50,8% (31 trường hợp), rò niệu đạo hành 19,7%

(12 trường hợp), rò niệu đạo tiền liệt tuyến

29,5% (18 trường hợp)

Hậu phẫu

Ăn đường miệng sau mổ: trung bình 4,34 ±

3,85 ngày, sớm nhất là một ngày, muộn nhất là

23 ngày, 52,5% (34 trường hợp) cho ăn trong

vòng 3 ngày đầu sau phẫu thuật, 77% (49 trường

hợp) trong vòng 5 ngày sau mổ

Biến chứng sau mổ

Nhiễm khuẩn vết mổ 11,5% (7 trường hợp),

Các biến chứng khác bao gồm: tử vong 1

trường hợp (1,6%) do nhiễm khuẩn huyết và suy

thận cấp, nhiễm khuẩn huyết 3 trường hợp

(4,8%), thủng trực tràng 1 trường hợp (1,6%), rò

phân qua vết mổ 1 trường hợp (1,6%), vỡ manh

tràng 1 trường hợp (1,6%), (1,6%), viêm phổi 1

trường hợp (1,6%)

Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 15,69

± 7,49 ngày, ngắn nhất 4 ngày, lâu nhất 33 ngày

55,7% (34 trường hợp) xuất viện trong vòng 2

tuần sau phẫu thuật

BÀN LUẬN

Phương pháp tạo hình hậu môn ngã sau

theo Penã là một tiến bộ lớn trong điều trị dị tật

hậu môn trực tràng Phương pháp này nhanh

chóng được chấp nhận rộng rãi và là sự chọn lựa hàng đầu trong điều trị dị dạng hậu môn trực tràng dạng cao và trung gian Phương pháp tạo hình hậu môn theo kinh điển được chia làm ba giai đoạn trong vài tuần đến vài tháng sau sinh, bao gồm: làm hậu môn tạm, tạo hình hậu môn

và đóng hậu môn tạm Nhiều tác giả cho rằng hậu môn tạm được thực hiện là để bảo vệ nơi

mổ, giảm bớt tình trạng nhiễm khuẩn và giảm bớt tình trạng tổn thương các cơ vùng đáy chậu Bên cạnh đó, qua hậu môn tạm cho phép chụp cản quang đại tràng để xác định loại dị dạng Thêm vào đó, nhiều tác giả cho rằng cơ thắt hậu môn ở trẻ sơ sinh rất mỏng nên khó phân biệt và như vậy dễ bị làm tổn thương Với các dữ kiện đưa ra thì phẫu thuật tạo hình hậu môn một thì chưa được chấp nhận

Tuy nhiên, theo tác giả Albasnese thì việc khôi phục tính liên tục sớm sẽ giúp các cơ vùng đáy chậu hoạt động tốt hơn và cải thiện tình trạng đi tiêu về sau(1). Ngược lại, nếu tạo hình hậu môn muộn thời gian hồi phục qua đi và khi

đó các chức năng của hệ thống thần kinh và synapes sẽ kém Theo Moore, sự thành lập phản

xạ đi tiêu từ não bộ cũng rất quan trọng, chính vì vậy việc tái lập lưu thông đường tiêu hoá càng sớm càng tốt(4)

Ngày nay với những tiến bộ trong lĩnh vực gây mê và hồi sức sơ sinh đã giúp các phẫu thuật sơ sinh trở nên an toàn hơn Tỷ lệ tử vong sau mổ tạo hình hậu môn rất thấp, theo Goon với 32 bệnh nhi trong lô nghiên cứu của ông thì tỷ lệ tử vong là 0%(3), 65 bệnh nhi trong

lô nghiên cứu của Guochang Liu cũng không

có trường hợp nào tử vong(2) Trong 61 bệnh nhi của chúng tôi, có một trường hợp tử vong, nhưng do nhiễm khuẩn huyết, sau khi tình trạng phẫu thuật đã ổn định

Một vấn đề khác được đặt ra là phẫu thuật tạo hình hậu môn một thì có dễ thực hiện ở trẻ

sơ sinh không và có nhiều tai biến không? Theo tác giả Guochang Liu, 65 bệnh nhi trong lô nghiên cứu của ông không có tai biến, trừ 2 cas túi cùng trực tràng nằm cao phải tạo hình hậu

Trang 5

môn qua ngã bụng(2) 61 bệnh nhi trong lô nghiên

cứu của chúng tôi được tiến hành phẫu thuật

trong thời gian từ 30-95 phút và hầu như không

có tai biến tổn thương bàng quang, ống dẫn tinh,

niệu đạo trong khi mổ Trong quá trình phẫu

thuật, với đường rạch da từ đỉnh xương cụt 1 cm

đến 0,5 cm trên vết tích hậu môn (với đường mổ

này, chúng tôi có cải biên phương pháp của

Penã do chúng tôi không cắt cơ thắt), phẫu

trường này cho phép chúng tôi giải phóng

xương cụt, cắt các dây dính và bộc lộ túi cùng

trực tràng

Trong lô nghiên cứu của chúng tôi có một

trường hợp túi cùng nằm quá cao, phải kết

hợp ngã bụng để đưa túi cùng xuống tạo hình

hậu môn

Phẫu thuật tạo hình hậu môn 3 thì theo kinh

điển với thì đầu làm hậu môn tạm có khá nhiều

biến chứng Theo Patwardhan tỷ lệ biến chứng

liên quan đến hậu môn tạm là 32% và nhiễm

khuẩn tiểu là 29%(5) Theo Novr thì biến chứng là

28-72% và Guochang Liu(2) biến chứng trong lô

nghiên cứu của ông là 39,6% bao gồm sa hậu

môn tạm, tắc ruột, hăm lở da, nhiễm khuẩn tiểu

Chính vì vậy mặc dù việc làm hậu môn tạm

giúp tránh tình trạng nhiễm khuẩn và bảo vệ

miệng nối nhưng lại có khá nhiều biến chứng

Với phẫu thuật tạo hình hậu môn một thì, biến chứng thường gặp nhất là nhiễm trùng vết mổ, nhưng thật ra hầu hết các vết mổ này thường tự lành nhờ khả năng liền sẹo khá mạnh trong thời kỳ sơ sinh 11,5% trẻ có nhiễm khuẩn vết mổ trong lô nghiên cứu nhưng đều

tự lành sau khi được chăm sóc tại chỗ và nong hậu môn tốt

KẾT LUẬN

Phẫu thuật tạo hình hậu môn một thì giúp giảm các yếu tố nguy cơ của nhiều lần mổ, nhiều lần gây mê (đặc biệt ở những bệnh nhi có dị tật phối hợp) đồng thời giúp giảm gánh nặng về sinh lý, tâm lý và kinh tế cho bệnh nhi, gia đình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

imperate anus trong the male neonate J Pediatr Surg 34:

834-836

anorectal malformations: one stage or there proceduces J Pediatr Surg 39: 1466-1471

neonatal period Pediatr Surg Int 5: 246-249

anoplasty operation for imperforate anus at birth J Pediatr Surg 25: 276-277

anomalies: High incidence of complications J Pediatr Surg 36: 795-798

Ngày đăng: 21/01/2020, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w