1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ các nhóm bệnh lý thận tiết niệu và phân loại bệnh thận mạn theo mức lọc cầu thận ước tính ở bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa thận tiết niệu 2008-2010

6 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 321,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm mục tiêu tìm hiểu tỷ lệ các nhóm bệnh lý thận tiết niệu và phân loại bệnh thận mạn theo mức lọc cầu thận ước tính ở bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa thận tiết niệu từ 2008 đến 2010.

Trang 1

TỶ LỆ CÁC NHÓM BỆNH LÝ THẬN-TIẾT NIỆU VÀ PHÂN LOẠI BỆNH THẬN MẠN THEO MỨC LỌC CẦU THẬN ƯỚC TÍNH Ở BỆNH NHÂN

ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI KHOA THẬN-TIẾT NIỆU 2008-2010

Vương Tuyết Mai*, Đinh Thị Kim Dung**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề:Bệnh thận mạn là một vấn đề y tế toàn cầu trong đó chi phí của điều trị thay thế cho bệnh thận

giai đoạn cuối là gánh nặng mang tính xã hội Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi nhằmmục tiêu: tìm hiểu tỷ lệ các

nhóm bệnh lý Thận-Tiết niệu và phân loại bệnh thận mạn theo mức lọc cầu thận ước tính ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa Thận-Tiết Niệu từ 2008 đến 2010

Đối tượng và phương pháp:Nghiên cứu hồi cứu 7614 bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Thận- Tiết niệu,

Bệnh viện Bạch Mai từ 01/2008 đến 12/2010

Kết quả:Tuổi trung bình là 44,2± 17,3 (16-93 tuổi), nam: 51,6% (n=3926), nữ: 48,4% (n=3688) Phân loại

theo nhóm bệnh lý thì tỷ lệ cao nhất là bệnh thận giai đoạn cuối 58,9% (n=4488), sau đó là bệnh cầu thận: 29,6% (n=2257) Phân bố loại bệnh nhân theo mức lọc cầu thận thì bệnh nhân với mức lọc cầu thận <15 ml/phút/1.73m 2

chiếm tỷ lệ cao nhất: 60,9%, tiếp theo là ở các giai đoạn bệnh thận giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 là 10,8%, 11,2%, 9,8% và 7,3%

Kết luận:Bệnh nhân vào viện chủ yếu ở giai đoạn muộn, giai đoạn 5 là 60,9% Như vậy, một số lượng lớn

bệnh nhân cần điều trị thay thế thận và rất cần thiết lập kế hoạch để điều trị cho nhóm bệnh nhân này

Từ khoá: Bệnh thận mạn, bệnh thận giai đoạn cuối

ABSTRACT

THEPROPORTION OFNEPHRO-UROLOGY DISEASES ANDCLASSIFICATIONOFCHRONIC

KIDNEY DISEASEBYEGFRIN THE IN-PATIENTS WHO WEREHOSPITALIZEDINTHEDEPARTMENTOFNEPH-UROLOGY FROM2008TO2010

Vuong Tuyet Mai, Dinh Thi Kim Dung* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 3 - 2013: 242 - 246

Background:Chronic kidney diseasehas been beingaglobalhealthproblemin whichthecostof renal replacement

therapyforend-stage renaldiseaseis asocialburden Therefore, theaim of this study wastofindouttheproportion

ofnephro-urology diseases andclassificationofchronic kidney diseasebyestimatedglomerular filtration rate (eGFR)in the in-patients who werehospitalizedintheDepartmentofNeph-Urology from2008to2010.

Patients and methods: One retrospectivestudywith7614 in-patients who were hospitalizedat the

Department ofNeph-Urology, Bach Mai Hospitalfrom01/2008 to12/2010

Results:Mean age of patients were 44.2 ± 17.3 years (range 16-93 years old), the percentage of male was

51.6% (n=3,926) and female was 48.4% (n=3,688) In the proportion of nephro-urology diseases, the most common was the end stage renal disease with 58.9% (n=4,488), following by glomerulonephritis with 29.6% (n=2257) In the classificationbyeGFR, patients with eGFR<15 ml/min/1.73m 2 were the highest percentage, that was 60,9%, chronic kidney disease stage 1 to 4 were 10.8%, 11.2%, 9.8% and 7.3% respectively

Conclusions: There were the most of patients treated in the hospital atthelatestage; chronic kidney disease

* Bộ môn Nội tổng hợp, Đại học Y Hà Nội; **Khoa Thận-Tiết Niệu, Bệnh viện Bạch Mai

Tác giả liên lạc:TS BS Vương Tuyết Mai ĐT: 0915 518 775 Email: vuongtuyetmai@gmail.com

Trang 2

stage5was60.9% Thus, there were a large number ofpatients requiringrenalreplacementtherapyand an essential needfor treatmentplanningforthisgroup of patients

Keywords: Chronic Kidney Disease, End Stage Renal Disease

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, bệnh thận

mạn được công nhận như một vấn đề y tế toàn

cầu, trong đó đặc biệt là gánh nặng của điều trị

thay thế cho bệnh nhân bị bệnh thận giai đoạn

cuối(1) Những dữ liệu từ các khu vực khác nhau

trên toàn thế giới cũng đã cho thấy rõ bệnh thận

mạn là cơ hội cho sự phát triển bệnh lý tim mạch

và gây tăng đáng kể tỷ lệ tử vong(2) Do đó, việc

công bố những cơ sở dữ liệu của bệnh thận mạn

và bệnh thận giai đoạn cuối là việc làm vô cùng

cần thiết để có một kế hoạch quản lý cho những

đối tượng bệnh nhân này Những thông tin về số

lượng bệnh nhân giúp cho việc xác định lĩnh vực

ưu tiên trong các kế hoạch chăm sóc sức khỏe

dài hạn của nghành y tế, thậm chí ở một số nước

việc nộp thông tin về bệnh thận giai đoạn cuối

được liên kết đến cơ quan đăng ký để kinh phí

được dự toán và yêu cầu cả sự hỗ trợ tự nguyện

của bệnh nhân Chính vì vậy nghiên cứu của

chúng tôi nhằm mục tiêu: tìm hiểu tỷ lệ các

nhóm bệnh lý Thận-Tiết niệu và phân loại bệnh

thận mạn theo mức lọc cầu thận ước tính ở bệnh

nhân điều trị nội trú tại Khoa Thận-Tiết Niệu từ

năm 2008 đến 2010

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu hồi cứu tổng kết dữ liệu từ 7614

bệnh nhân được điều trị nội trú tại khoa Thận-

Tiết niệu, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ

tháng 01/2008 đến tháng 12/2010 Các thông tin

thu thập theo theo các thông số thống nhất Các

số liệu được mã hóa và xử lý bằng chương trình

SPSS 17.0

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên

cứu là 44,2 ± 17,3, tuổi thấp nhất là 16, cao nhất là

93 Trong tổng số bệnh nhân trong 3 năm tỷ lệ

bệnh nhân nam là 51,6% (n=3926), bệnh nhân nữ

là 48,4% (n=3688), phân bố đồng đều nam và nữ

trong từng năm Về phân bố về địa dư, bệnh nhân sinh sống chủ yếu ở nông thôn chiếm tỷ lệ 84,4% (n=6421) như vậy tỷ lệ nông thôn/thành thị xấp xỉ 6/1 Tỷ lệ bệnh nhân làm ruộng cao nhất chiếm 53,4% (n=2507), điều này cũng phù hợp với địa dư bệnh nhân sinh sống chủ yếu là vùng nông thôn

Phân loại bệnh nhân theo nhóm bệnh lý thận-tiết niệu

Biểu đồ 1: Phân loại bệnh nhân theo theo nhóm bệnh

lý trong cả quần thể nghiên cứu

Phân loại các nhóm bệnh lý theo nhóm bệnh cho thấy chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm bệnh thận giai đoạn cuối, tiếp theo đó là nhóm bệnh cầu thận Bệnh lý tiết niệu và tổn thương thận cấp chiếm khoảng 5,2% và 2,8 % tổng số bệnh nhân được điều trị nội trú tại khoa Thận-Tiết niệu trong thời gian 3 năm 2008-2010

Biểu đồ 2 phân loại theo từng năm cho thấy

tỷ lệ phân bố tương đối đồng đều Tỷ lệ cao nhất trong các năm là nhóm bệnh thận giai đoạn cuối, tiếp theo đó là nhóm bệnh cầu thận Điều này xác định rõ hơn cho nhận xét kết quả của biểu

đồ 1.Bệnh lý tiết niệu và tổn thương thận cấp trong tổng số bệnh nhân được điều trị nội trú tại khoa Thận-Tiết niệu cũng tương tự trong từng năm 2008, 2009 và 2010

Trang 3

Biểu đồ 2: Phân loại bệnh nhân theo theo nhóm bệnh lý trong từng năm

Phân loại bệnh nhân theo phân loại bệnh

thận mạn tính

Trong phân loại bệnh thận mạn tính theo các

mức độ từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5 cho thấy

Trong phân bố bệnh thận mạn, bệnh nhân chủ

yếu vào viện trong tình trạng mức lọc cầu thận

tương đối thấp, ở giai đoạn 5 với mức lọc cầu

thận dưới 15 ml/phút/1.73m2 chiếm tỷ lệ 60,9%,

tiếp theo bệnh nhân vào viện ở các giai đoạn

bệnh thận là tương đối tương đương với tỷ lệ lần

lượt từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 là 10,8%,

11,2%, 9,8% và 7,3%

Biểu đồ 3: Phân loại bệnh nhân theo bệnh thận mạn

tính

Khi chia nhóm phân loại bệnh thận mạn tính

theo các mức độ từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5

theo giới tính cho thấy: Tỷ lệ phân bố các giai

đoạn bệnh thận mạn ở các mức độ ở nam và nữ

là tương đương nhau Bệnh nhân bệnh thận mạn

giai đoạn 5 với mức lọc cầu thận dưới 15

ml/phút/1.73m2 chiếm tỷ lệ khá cao 64,4% ở nam

và 57,3% ở nữ Bệnh nhân ở các giai đoạn giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 cũng phân bố đồng đều ở nam và nữ

Khi chia nhóm phân loại bệnh thận mạn tính theo các mức độ từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5 theo nhóm tuổi cho thấy có sự khác biệt thống kê với (p<0,0001) Tỷ lệ phân bố giai đoạn bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 5 với mức lọc cầu thận dưới 15 ml/phút/1.73m2 thì chiếm tỷ lệ cao nhất là ở nhóm >70 tuổi là 6,9% trong khi đó ở nhóm <20 tuổi chỉ là 0,2% Ngược lại ở bệnh thận giai đoạn 1 chiếm tỷ lệ khá cao ở nhóm bệnh thận trẻ tuổi 20 tuổi là 2,8%, trong khi đó ở nhóm

>70 tuổi là 1,8% Ở các nhóm bệnh thận mạn tính khác từ giai đoạn 2 đến giai đoạn 4 cũng cho thấy ở bệnh nhân lớn tuổi, đặc biệt là nhóm>70 tuổi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, đặc biệt là nhóm <20 tuổi Sự khác biệt này là có ý ngĩa thống kê với p<0,0001

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 44,2 ± 17,3, tuổi thấp nhất là 16, cao nhất là

93, nam và nữ khác biệt không cóý nghĩa thống

kê Kết quả cũng tương tự với tác giả Nguyễn Đăng Quốc(3) và tác giả Nguyễn Thị Thịnh và Trần Văn Chất (1997)(4) và Nguyễn Thị Nga (2001)(5) Tuy nhiên độ tuổi trung bình của Việt Nam khi so sánh với một số nghiên cứu nước

Trang 4

ngoài thì cho thấy độ tuổi của bệnh nhân tương

đối trẻ hơn Nghiên cứu của tác giả Rajapurkar

M.M và CS năm 2012 thực hiện ở 52,273 đối

tượng nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của

bệnh nhân bệnh nhân mạn là 50,1±14,6năm, tuy

nhiên độ tuổi bệnh thận mạn ở nam và nữ thì

khác biệt không cóý nghĩa thống kê(50,9±14,6

tuổi và48,3±14,4tuổi)(6)

Phân loại bệnh nhân theo nhóm bệnh lý

thận-tiết niệu

Phân loại các nhóm bệnh lý theo nhóm bệnh

cho thấy rõ Chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm bệnh

thận giai đoạn cuối, tiếp theo đó là nhóm bệnh

cầu thận Bệnh lý tiết niệu và tổn thương thận

cấp chiếm khoảng 5,2% và 2,8% tổng số bệnh

nhân Kết quả tương tự như số liệu đã công bố

của Nguyễn Đăng Quốc cho tỷ lệ bệnh lý ống kẽ

thận là 6,15% và suy thận cấp chiếm tỷ lệ

5,05%(3) Tuy nhiên theo nghiên cứu của Nguyễn

Thị Thịnh và Trần Văn Chất thì tỷ lệ thì tỷ lệ

bệnh lý ống kẽ thận cao hơn, chiếm khoảng

15,9% trong mô hình bệnh lý thận tiết niệu(4)

Bệnh lý cầu thận với hai chẩn đoán chính

trong nghiên cứu của chúng tôi là viêm cầu thận

có hội chứng thận hư là 20,7% và viêm cầu thận

lupus là 6,6%, chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số

bệnh nhân nhập viện điều trị, chỉ sau chẩn đoán

bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối Điều này

cũng tương đối phù hợp với thống kê chẩn đoán

lâm sàng của tác giả Nguyễn Đăng Quốc với tỷ

lệ chẩn đoán viêm cầu thận có hội chứng thận

hư là 14,79% và chẩn đoán viêm cầu thận lupus

là 12,03%(3)

Tỷ lệ 58,9% bệnh nhân bệnh thận giai đoạn

cuối trong nghiên cứu của chúng tôi cũng là một

tỷ lệ khá cao Do vậy, quản lý để điều trị bảo tồn

cũng như điều trị thay thế cho nhóm bệnh nhân

này là một vấn đề vô cùng khó khăn về tài

chính, việc mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối

thậm chí có thể đẩy nhiều gia đình và tình cảnh

đói nghèo Trong một đất nước đang phát triển

như Việt Nam có quá nhiều vấn đề là quan trọng

đối với ngành y tế như gánh nặng của bệnh

truyền nhiễm, của nhiễm khuẩn, của tình trạng

kháng kháng sinh thì việc giải quyết hết được yêu cầu điều trị thay thế thận cho bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối là cả một thách thức cho ngành y tế cũng như cho mỗi nhân viên

y tế khi phải giải thích trực tiếp cho người bệnh

Phân loại bệnh nhân theo phân loại bệnh thận mạn tính

Trong thời gian gần đây, vấn đề phân loại bệnh thận mạn theo mức lọc cầu thận đã dần đi đến thống nhất vàhội đồng về cải thiện tiên lượng bệnh lý thận toàn cầu (KDIGO) đã đưa ra phân nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn theo một

số tiêu chí mà và mức lọc cầu thận ước tính Châu Á, trong đó có Việt Nam là một trong những khu vực hiện tại đang có tỷ lệ bệnh thận giai đoạn cuối tương đối cao trên thế giới chính

vì vậy mà việc thử nghiệm ứng áp dụng công thức để tính toán phân loại bệnh thận mạn chung theo sự đồng thuận trên thế giới là việc làm cần thiết Công thức tính mức lọc cầu thận

có điều chỉnh trong bệnh lý thận (the modification of diet in renal disease-MDRD) với

hệ số tiêu chuẩn được tạm thời áp dụng trong nghiên cứu của chúng tôi để tiến hành tính toán mức lọc cầu thận cho bệnh nhân theo công thức thống nhất và phân loại mức lọc cầu thận theo 5 giai đoạn của bệnh thận mạn tính

Các đối tượng nghiên cứu được phân loại theo tiêu chuẩn bệnh thận mạn tính theo mức lọc cầu thận và phân chia các mức độ từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5 Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi phân bố tỷ lệ bệnh thận mạn

ở các giai đoạn cho thấy: bệnh nhân chủ yếu vào viện trong tình trạng mức lọc cầu thận tương đối thấp, ở giai đoạn 5 với mức lọc cầu thận dưới 15 ml/phút/1,73m2 chiếm tỷ lệ 60,9%, tiếp theo bệnh nhân vào viện ở các giai đoạn bênh thận mạn là tương đối tương đương với tỷ lệ lần lượt từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 là 10,8%, 11,2%, 9,8% và 7,3%

Kết quả nghiên cứu trình bày ở đây có thể có một số hạn chế của một nghiên cứu hồi cứu, tuy nhiên, kết quả chúng tôi muốn trình bày như là những dữ liệu đóng góp cho các bác sỹ và các

Trang 5

chuyên gia có quan tâm đến bệnh thận mạn và

các giai đoạn tiến triển của bệnh Thận-Tiết niệu

Chính vì lý do đó, chúng tôi đã nỗ lực để hoàn

thành nghiên cứu để có thêm một đóng góp

trong việc từng bước xây dựng được một công

thức tính mức lọc cầu thận thống nhất hơn và

phân loại bệnh thận mạn theo cùng tiêu chuẩn

chung đế có sự phân loại bệnh tốt hơn cho bệnh

nhân bị bệnh thận mạn Về mặt lý thuyết có thể

nói rằng mỗi nghiên cứu nhỏ góp một tiếng nói

chung để cùng có một cách nhìn tổng quát hơn

về các mặt của bệnh lý và sự cảnh báo sớm về

hậu quả bệnh với hy vọng có những bằng chứng

thuyết phục đến với công chúng để khuyến

khích được sự khám bệnh sớm hơn của bệnh

nhân đến với bác sỹ chuyên khoa

Đâylà một nghiên cứucắt ngangnên có

thểrằngmột sốbệnh nhân bệnh thận mạn giai

đoạn điều trịđiều trị bảo tồn trong nghiên cứu

của năm trước đã bước vào giai đoạn điều trị

thay thế ở năm tiếp theo nhưng cũng chính vì

vậy mà chúng tôi hy vọng nghiên cứu của chúng

tôi là một sự nỗ lực để có những thông tin về

bệnh thận mạn tính và được đóng góp một phần

vào những kế hoạch dài hạn trong quản lý bệnh

nhân bệnh thận mạn

KẾT LUẬN

Phân loại bệnh nhân theo nhóm bệnh lý trên

chẩn đoán lâm sàng thì chiếm tỷ lệ cao nhất là

nhóm bệnh thận giai đoạn cuối, tiếp theo đó là

nhóm bệnh cầu thận Phân loại bệnh thận mạn

với MLCT ước tính theo công thức MDRD thì tỷ

lệ bệnh thận mạn gđ 5 chiếm tỷ lệ 60,9% Điều này cho thấy một số lượng lớn bệnh nhân cần điều trị thay thế thận và rất cần thiết có kế hoạch quản lý và kế hoạch dài hạn cho nhóm bệnh nhân này

Lời cảm ơn: Tôi xin chân thành cảm ơn các em sinh viên đã cùng

tôi thực hiện các đề tài nghiên cứu về bệnh Thận-Tiết niệu Tôi xin cảm ơn ban chủ nhiệm, các bác sỹ và điều dưỡng khoa Thận-Tiết niệu và phòng kế hoạch tổng hợp, phòng lưu trữ hồ sơ bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

and poverty: a growing global challenge American journal of

kidney diseases : the official journal of the National Kidney Foundation 53:166-74

Chronic kidney disease and the risks of death, cardiovascular

events, and hospitalization The New England journal of

medicine 351:1296-305

niều điều trị nội trú tại khoa Thận-Tiết niệu, Bệnh viện Bạch

Mai năm 2003 Khóa luận tốt nghiệp bác sỹ đa khoa

thận tiết niệu điều trị nội trú tại khoa Thận-Tiết niệu, Bệnh

viện Bạch Mai từ 1991-1995 Công trình NCKH 1995-1996

ở bệnh nhân suy thận mạn Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa

Agarwal SK, et al (2012) What do we know about chronic kidney disease in India: first report of the Indian CKD

registry BMC nephrology 13:10

Trang 6

SEQUENTIAL THERAPY IN COMPERISON WITH THE STADARD TRIPLE THERAPY FOR ERADICATING

Truong Van Lam, Mai Thanh Binh, Nguyen Minh Ngoc, Nguyen Kim Loi, Nguyen Ngoc Rang * Y Hoc TP Ho Chi

INAPPROPRIATE PRESCRIBING IN THE HOSPITALIZED ELDERLY PATIENT OF THONG NHAT HOSPITAL- HO

Phung Hoang Dao, Pham Hoa Binh, Nguyen Van Tri * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 4 - 2013: 199 - 205

199 EVALUATION APPARENT DIFFUSION COEFFICIENT VALUES OF SOME FREQUENT FOCAL HEPATIC

Ho Hoang Phuong, Pham Ngoc Hoa, Nguyen Duy Hue * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 3 - 2013: 206 - 212

206 PRESENTING A FAMILY CARRYING THE SAME DELETION MUTATIONS OF THE DYSTROPHIN GENE 214

Đo Thi Thanh Thuy, Tran Thuy Van Ngoc * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 4 - 2013: 213 - 217 214 STUDYING THE CLINICAL CHARACTERISTICS AND SURGICAL RESULTS OF SECONDARY EXTERNAL STRABISMUS IN OVER 15-YEAR-OLD PATIENTS AT CENTRAL OPTHALMOLOGY HOSPITAL FROM 2011 TO

Nguyen Xuan Hiep, Nguyen Huu Quoc Nguyen * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 3 - 2013: 218 - 221 219 CHANGES OF DENTAL CARIES AND ENAMEL FLUOROSIS AMONG 8-YEAR-OLD CHILDREN AFTER ADJUSTED FLUORIDE LEVEL IN DRINKING WATER IN HOCHIMINH CITY, VIETNAM 223 Hoang Trong Hung, Ngo Dong Khanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 4 - 2013: 222 - 229 223

Nguyen Thi Dieu Thuy, Le Thi Minh Huong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 4 - 2013: 229 - 233 231 ANALYSIS OF LOW DENSITY LIPOPROTEIN PHENOTYPES BY POLYACRYLAMIDE TUBE GEL

Tran Thanh Vinh, Dang Van Phuoc, Phan Thi Danh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 4 - 2013: 234 - 241 235 THE PROPORTION OF NEPHRO-UROLOGY DISEASES AND CLASSIFICATION OF CHRONIC KIDNEY DISEASE

BY EGFR IN THE IN-PATIENTS WHO WERE HOSPITALIZED IN THE DEPARTMENT OF NEPH-UROLOGY

Vuong Tuyet Mai, Dinh Thi Kim Dung* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - No 3 - 2013: 242 - 246 243

Ngày đăng: 21/01/2020, 13:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w