1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Theo dõi và điều trị các dị tật thận ‐ tiết niệu được chẩn đoán sớm trước sinh tại khoa nhi Bệnh viện HN Việt Đức

6 86 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 482,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật dị tật thận ‐ tiết niệu ở nhóm trẻ em được chẩn đoán từ trước sinh và có được theo dõi liên tục sau sinh. Nghiên cứu tiến hành trên 79 bệnh nhi có siêu âm chẩn đoán trước sinh và hội chẩn tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh bệnh viện Phụ sản Trung Ương.

Trang 1

ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN SỚM TRƯỚC SINH   TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN HN VIỆT ĐỨC 

Nguyễn Việt Hoa*, Trần Ngọc Bích*, Hồng Quý Quân* 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu: Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật dị tật thận ‐ tiết niệu ở nhóm trẻ em được chẩn đoán từ 

trước sinh và có được theo dõi liên tục sau sinh. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu 79 bệnh nhi có siêu âm chẩn đoán trước sinh và hội chẩn 

tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh bệnh viện Phụ sản Trung Ương. Sau sinh  được chẩn đoán, theo dõi và điều  trị tại khoa Nhi bệnh viện Việt‐ Đức trong thời gian từ 1/1/2010 đến 31/12/2012. 

Kết quả: Từ tháng 1/2010 – 12/2012 có 79 bệnh nhi được siêu âm trước sinh và tiếp tục theo dõi sau sinh 

phát hiện dị tật thận‐tiết niệu bẩm sinh. Các biện phát phát hiện trong thời gian theo dõi sau sinh bao gồm siêu 

âm (100%), chụp niệu đồ TM (60,8%), chụp bàng quang ‐ niệu đạo ngược dòng (27,8%), chụp BQ ‐ NĐ xuôi  dòng (13,9%), chụp CLVT (11,4%), đồng vị phóng xạ (10,1%) và chụp MRI (8,9%). Hai loại dị tật thường gặp  nhất là hẹp khúc nối bể thận ‐ niệu quản: 44/79 bệnh nhi (55,7%) và hẹp khúc nối niệu quản ‐ bàng quang: 9/79  bệnh nhi (11,4%). 16/79 bệnh nhi (20,3%) có mắc 2 dị tật tiết niệu hoặc phối hợp với dị tật các cơ quan khác. Có 

49 bệnh nhi (62%) đã được phẫu thuật sửa chữa dị tật trong độ tuổi từ dưới 1 tháng đến 24 tháng tuổi. Số còn  lại tiếp tục được theo dõi hoặc chỉ dẫn lưu tạm thời. Kết quả sau mổ của những bệnh nhi này được xếp loại tốt có 

42 bệnh nhi (85,7%), trung bình 5 bệnh nhi (10,2%) và xấu là 2 bệnh nhi (4,1%) trong đó có 1 bệnh nhi tử vong  sau mổ (2,0%). 

Kết luận: Dị tật thận tiết niệu có thể được chẩn đoán sớm từ trong bào thai. Việc tầm soát lại sau sinh bằng 

siêu âm và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác có tầm quan trọng trong việc quyết định thái độ xử trí  sớm tránh nguy cơ suy giảm chức năng thận.  

Từ khóa: Dị tật bẩm sinh, dị tật thận tiết niệu bẩm sinh, hẹp khúc nối bể thận‐niệu quản. 

ABSTRACT 

FOLLOW UP AND TREATMENT OF CONGENITAL ANOMALIES OF THE KIDNEY  

AND URINARY TRACT (CAKUTS) EARLY DIAGNOSED DURING THE PRENATAL PERIODE:  

PRIMARY EXPERIENCES OF THE PEDIATRIC SURGERY DEPARTMENT  

AT VIET DUC HOSPITAL  

Nguyen Viet Hoa, Tran Ngoc Bich, Hong Quy Quan  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 129 ‐ 134 

Objective:  To  evaluate  the  surgical  outcomes  of  congenital  anomalies  of  the  kidney  and  urinary  tract 

(CAKUT)  by  children  who  were  detected  by  antenatal  sonography  and  continuously  followed  up  at  Viet  Duc  Hospital  

Methods:  A  retrospective  observational  study  of  79  childrens  with  prenatal  diagnosis  of  congenital 

anomalies of the kidney and urinary tract, conducted at Prenatal Diagnosis Center, National Central Hospital of  Gynecology and Obstetrics. All those patients have been continuously followed up during the postnatal period at 

* Bệnh viện HN Việt Đức 

Tác giả liên lạc: TS BS. Nguyễn Việt Hoa, ĐT: 0912079955, Email: nvhoa96@yahoo.com.vn 

Trang 2

Results: During the postnatal periode follow‐up, differents measures were performed to detect and confirm 

the  congenital  malformations  by  above  mentioned  children:  Intravenous  urography  (UIV),  retrograde 

urethrocystophy  (UCR),  cystourethrography  (CUG),  computed  tomography,  scintigraphy  and  magnetic 

resonance  imaging  were  applied  in  60.8%,  27.8%,  13.9%,  11.4%,  10.1%,  8.9%,  respectively.  Pyelo‐urethral 

junction obstruction (UJO) and ureterocystic junction obstruction (UCJ) were two most predominantly seen in 

our research with 44/79 (55.7%) and 9/79 (11.4%) respectively. There were 16/79 (20.3%) with two kidney and 

urinary anomalies or combined with other organ anomalies. Fourty ‐ nine in total 79 patients (62%) received the 

surgical repair at age ranges from 01 to 24 months. Thirty patients received temporarily drainage or follow‐up. 

The surgical outcome was classified as good, average and bad with 85.7%, 10.2%, 4.1%, respectively. There was 

one patient died (2%) among those who were operated on 

Conclusion:  The prenatal congenital anomalies of the kidney and urinary tract can be early detected. The 

postnatal screening by ultrasound and other diagnostic imaging measures play an important role in determining 

the treatment strategies to avoid decrease in the renal function. 

Key words: Cogenital malformations, congenital anomalies of the kidney and urinary tract, Pyelo‐urethral 

junction obstruction. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Dị  tật  thận  ‐  tiết  niệu  ở  trẻ  em  (không  bao 

gồm dị tật lỗ đái thấp) là một nhóm bệnh không 

hiếm, thường được phát hiện muộn hơn so với 

các  dị  tật  bẩm  sinh  khác  như  dị  tật  bẩm  sinh 

đường  tiêu  hóa,  tim  mạch  do  phần  nhiều  các 

triệu  chứng  khởi  đầu  âm  thầm,  mơ  hồ.  Ngày 

nay  nhờ  tiến  bộ  của  siêu  âm  chẩn  đoán  trước 

sinh  người  ta  có  thể  phát  hiện  sớm  các  dị  tật 

thận tiết niệu từ khi thai nhi còn trong bụng mẹ. 

Câu  hỏi  được  đặt  ra  ở  đây  là  sau  khi  sinh  cần 

phải  theo  dõi  và  tiến  hành  các  phương  pháp 

chẩn đoán như thế nào để có chỉ đinh can thiệp 

kịp thời tránh nguy cơ suy giảm chức năng thận 

dẫn đến phải cắt thận. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật dị tật 

thận ‐ tiết niệu ở nhóm trẻ em được chẩn đoán 

từ trước sinh và có được theo dõi liên tục sau 

sinh  

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên cứu hồi cứu 79 bệnh nhi có siêu âm 

chẩn đoán trước sinh và hội chẩn tại Trung tâm 

chẩn đoán trước sinh bệnh viện Phụ sản Trung 

ương.  Sau  sinh  được  chẩn  đoán,  theo  dõi  và 

Phân  bố  dị  tật  thận  tiết  niệu  phát  hiện  ở  3  tháng  giữa  hoặc  3  tháng  cuối  của  thời  kỳ  thai  nghén  được  hội  chẩn  tại  Trung  tâm  chẩn  đoán  trước sinh bệnh viện Phụ sản Trung Ương.  

Sau sinh đánh giá lại bằng các phương pháp  chẩn đoán hình ảnh, theo dõi và chỉ định điều trị  phẫu thuật tại khoa Nhi Việt ‐ Đức:  

KẾT QUẢ 

Dị tật thận‐ tiết niệu phát hiện trên siêu âm  trước sinh  

Bảng 1. Dị tật thận ‐ tiết niệu phát hiện trên siêu âm  trước sinh. 

Bệnh lý trước sinh n %

Thận niệu quản đôi 2 2,6

*  Nhận  xét:  Sau  khi  sinh,  những  trường  hợp  trên 

Trang 3

trước  sinh,  có  thêm  1  trường  hợp  sau  sinh  phát 

hiện  dị  tật  bàng  quang  lộ  ngoài  nhưng  siêu  âm 

trước  sinh  chỉ  có  hình  ảnh  thoát  vị  trong  dây  rốn 

(omphalocele)  lớn  nên  vẫn  được  xếp  vào  nhóm  dị 

tật tiết niệu. Như vậy có 79 bệnh nhi có dị tật tiết 

niệu  sau  sinh  với  65  trẻ  trai  và  14  trẻ  gái,  tỉ  lệ 

trai/gái là 4,6:1. 

Trong  thời  gian  3  năm,  siêu  âm  trước  sinh 

phát hiện dị tật thận ‐ tiết niệu bẩm sinh ở 78 bà 

mẹ mang thai. 

Bảng 2. Phân bố dị tật thận‐ tiết niệu sau sinh. 

Bệnh lý sau sinh n %

Hẹp khúc nối niệu quản- bàng quang 9 11,4

* Nhận xét: Sau khi sinh trẻ được đánh giá lại các dị 

tật thận‐ tiết niệu bằng siêu âm (100% BN) và tùy 

vào mức độ, tình trạng bệnh mà tiến hành các 

phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác: Chụp niệu đồ 

TM: 48/79 BN (60,8%), chụp bàng quang ‐ niệu đạo 

ngược dòng: 22/79 BN (27,8%), chụp BQ ‐ NĐ xuôi 

dòng: 11/79 BN (13,9%), chụp CLVT: 979 BN 

(11,4%), đồng vi phóng xạ: 8/79 BN (10,1%) và 

chụp MRI: 7/79 BN (8,9%).  

Hầu  hết  các  bệnh  nhi  có  1  dị  tật  thận  ‐  tiết 

niệu, một số mắc 2 dị tật tiết niệu hoặc phối hợp 

với dị tật các cơ quan khác (bảng 3) 

Bảng 3. Dị tật phối hợp. 

Dị tật phối hợp n %

* Nhận xét: Kế hoạch giám sát và điều trị các dị tật 

thận ‐ tiết niệu cần được quan tâm ngay sau sinh. 

Thời gian can thiệp phẫu thuật tùy thuộc bệnh lý và  chức năng thận bị ảnh hưởng, đặc biệt đánh giá mức 

độ ứ nước thận để có chỉ định can thiệp trước khi  thận bị suy giảm chức năng. Điều trị phẫu thuật kịp  thời các dị tật thận ‐ tiết niệu được chẩn đoán sớm  trước sinh tránh được những hậu quả đáng tiếc  (bảng 4) 

Bảng 4. Mức độ thận ứ nước và thái độ điều trị. 

Thận ứ nước Điều trị n (%)

Phẫu thuật Đang theo dõi

Bảng 5. Xử trí các dị tật thận ‐ tiết niệu sau sinh. 

Bệnh lý tạm thời Dẫn lưu

Phẫu thuật

Đang theo dõi

≤ 1 tháng

2- 12 tháng

13- 24 tháng

Hẹp BT- NQ

Hẹp NQ- BQ

Thận- NQ đôi

Thận loạn sản

(n = 11)

1 0 2 3 6 Van NĐS

U thận

BQ lộ ngoài

N (%) 11 (13,9) 7 (8,9) 36 (45,6) 6 (7,6) 30 (37,9)

Bảng 6. Kết quả điều trị phẫu thuật dị tật thận ‐ tiết  niệu. 

Bệnh lý n Kết quả

Tốt Trung bình Xấu

N (%) 49 42 (85,7) 5 (10,2) 2 (4,1)

Trang 4

A  B 

Hình 1. Minh họa: Thai 30 tuần với thận trái ứ nước trên siêu âm: ĐK trước sau bể thận 31mm (Hình A). Siêu 

âm sau sinh 10 ngày: ĐK trước sau bể thận 41 mm (Hình B). Chụp UIV: Bể thận phải giãn, hẹp chỗ nối bể thận,  niệu quản (Hình C). Sau phẫu thuật 6 tháng (Hình D). 

  Hình 2. Hình ảnh minh họa phẫu thuật dị tật Thận – 

niệu quản đôi ở trẻ 9 tháng tuổi 

BÀN LUẬN 

Phát hiện dị tật thận‐ tiết niệu bằng siêu âm 

tất  cả  các  dị  tật  thận‐  tiết  niệu  phát  hiện  trước  sinh đều được hội chẩn tại Trung tân chẩn đoán  trước sinh bệnh viện Phụ sản Trung Ương. Gia  đình  và  bà  mẹ  mang  thai  được  tư  vấn  về  tình  trạng bệnh và hướng xử trí sau sinh. Dị tật thận  tiết  niệu  phát  hiện  trong  thời  kỳ  bào  thai  bằng  siêu  âm  chiếm  tỉ  lệ  9% (1)  và  giá  trị  chẩn  đoán  chính xác của siêu âm phát hiện dị tật thận ‐ tiết  niệu  so  với  sau  sinh  là  91%.  Trong  nghiên  cứu  này tỉ lệ chẩn đoán đúng các dị tật tiết niệu trước  sinh là 62,6%, trong đó bệnh lý van niệu đạo sau 

có thể chẩn đoán chính xác trước sinh, thận niệu  quản  đôi  tỉ  lệ  chẩn  đoán  đúng  trước  sinh  chỉ  28,6%.  Hình  ảnh  siêu  âm  trước  sinh  giúp  chẩn  đoán chính xác một số bệnh lý tiết niệu là 35,9%.  Phần lớn dị tật thận ‐ tiết niệu là hiện tượng  thận ứ nước với hình ảnh giãn đài ‐ bể thận ở 34  bệnh  nhi(43,6%),  giãn  khu  trú  bể  thận  chiếm  20,5%, thận ứ nước kết hợp phình to niệu quản 

Trang 5

có  bệnh  lý  sau  khi  sinh (2).  Điều  quan  trọng  là 

phải có kế hoạch theo dõi ngay sau sinh như thế 

nào  để  đưa  ra  chỉ  định  can  thiệp  đúng  thời 

điểm, tránh nguy cơ suy giảm chức năng thận. 

Đánh  giá  lại  các  dị  tật  thận  tiết  niệu  phát 

hiện  trong  thời  kỳ  báo  thai.  Hầu  hết  gặp  các 

bệnh  nhi  mắc  1  dị  tật  thận  ‐  tiết  niệu.  Số  bệnh 

nhi mắc 2 dị tật thận ‐ tiết niệu chiếm 6,3%, kết 

hợp với dị tật sinh dục chiếm 5,1%, phối hợp dị 

tật tiêu hóa chiếm 7,6%. 

Siêu âm đánh giá lại các dị tật sau sinh là rất 

cần  thiết  và  có  thể  phải  làm  lại  nhiều  lần  ở  các 

các  thời  điểm  2  –  3  ngày,  2  tuần,  2  tháng,  4 

tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. 

Để  đánh  giá  chức  năng  thận  cần  làm  các 

phương  pháp  chẩn  đoán  hình  ảnh  khác:  chụp 

niệu  đồ  tĩnh  mạch,  chụp  cắt  lớp  vi  tính,  chụp 

cộng  hưởng  từ.  Thời  gian  và  chỉ  định  làm  các 

phương  pháp  chẩn  đoán  hình  ảnh  tùy  thuộc 

bệnh lý và mức độ ảnh hưởng được chẩn đoán 

trên siêu âm sau sinh. 

Siêu  âm  là  phương  pháp  chẩn  đoán  hình 

ảnh  dễ  thực  hiện,  không  gây  ảnh  hưởng  nhiều 

đặc  biệt  là  ở  trẻ  sơ  sinh   Theo  một  số  nghiên 

cứu ngay sau sinh trẻ được kiểm tra lại thấy các 

dị tật phát hiện trong thời kỳ bào thai không có 

sự thay đổi khác biệt (3). Bệnh lý hẹp khúc nối bể 

thận  ‐  niệu  quản  gặp  nhiều  nhất  chiếm  tỉ  lệ 

55,7%, sau đó là hẹp khúc nối niệu  quản‐  bàng 

quang 11,4%. Phần lớn các dị tật tiết niệu là thận 

ứ  nước  do  các  tắc  nghẽn  lưu  thông  nước  tiểu 

nên việc đánh giá mức độ thận ứ nước là quan 

trọng để có thái độ xử trí(5). 

Sau sinh nếu siêu âm chẩn đoán thận ứ nước 

độ  III  và  IV  do  nguyên  nhân  tắc  nghẽn,  hoặc 

thận ứ nước độ II có dấu hiệu tiến triển mới chỉ 

định chụp niệu đồ tĩnh mạch để đánh giá chức 

năng  và  mức  độ  tắc  nghẽn.  Các  phương  pháp 

chẩn  đoán  hình  ảnh  ở  trẻ  em  vẫn  là  những 

phương pháp kinh điển vì ở trẻ em đặc biệt trẻ 

nhỏ  cần  hạn  chế  tối  đa  ảnh  hưởng  của  tia 

Xquang. Siêu âm thực hiện trước tiên cho tất cả 

bệnh nhi, chụp niệu đồ tĩnh mạch (cho 60,8% số 

BN),  chụp  bàng  quang  ‐  niệu  đạo  ngược  dòng 

chiếm 13,9% khi nghi ngờ có trào ngược. Chụp  cắt  lớp  vi  tính  hoặc  cộng  hưởng  chủ  yếu  với  những trường hợp bệnh lý nhu mô thận (khối u  thận) để đưa ra chẩn đoán chính xác (7). Những  trường  hợp  loạn  sản  thận,  đánh  giá  chức  năng  trước khi quyết định điều trị bảo tồn hay cắt bỏ  cần  phải  tiến  hành  chụp  đồng  vị  phóng  xạ  (chiếm 10,1%). Chỉ định cắt thận khi chức năng  thận còn lại <5%.  

Chỉ định điều trị: Các dị  tật  thận  ‐  tiết  niệu  nói  chung  không  gây  nên  các  bệnh  lý  cấp  tính  cần  phải  phẫu  thuật  cấp  cứu  ngay  sau  sinh (7).  Chỉ định phẫu thuật sớm với những tắc nghẽn ở  thấp: cắt van niệu đạo hoặc mở thông thận giảm 

áp lực ở thận niệu quản ứ nước, ứ mủ do tắc cấp  tính.  Trong  nghiên  cứu  này  chúng  tôi  dẫn  lưu  thận tạm thời dưới hướng dẫn của siêu âm bằng  dụng  cụ  chuyên  biệt  là  ống  thông  mono  J  với  những trường hợp trẻ sơ sinh, thận ứ nước nặng  nhu mô thận mỏng  do  nguyên  nhân  tắc  nghẽn  lưu  thông  nước  tiểu  cho  11  BN  (13,9%),  có  thể  coi việc dẫn lưu thận tạm thời là một cấp cứu có  trì  hoãn.  Trong  số  này  có  1  trường  hợp  u  thận  nhưng ở dạng thận ứ nước nên đã được chỉ định  lưu  thận.  Sau  2  tháng    theo  dõi  không  ra  nước  tiểu qua dẫn lưu nên chỉ định cắt thận, kết quả  giải phẫu bệnh lý là u Wilms. Còn 1 trường hợp  thận đa nang và 1 trường hợp thận ‐ niệu quản  đôi cả 2 thận giãn nên siêu âm chẩn đoán nhầm  với hẹp khúc nối bể thận ‐ niệu quản do vậy đã  làm  dẫn  lưu  thận  tạm  thời.  Điều  trị  bằng  phẫu  thuật  cho  49  BN  (62,1%),  chủ  yếu  được  phẫu  thuật  ở  lứa  tuổi  2‐12  tháng  cho  36  BN  (45,6%),  đây là lứa tuổi thích hợp cho phẫu thuật các dị  tật  thận  ‐  tiết  niệu  vì  phẫu  thuật  muộn  sẽ  ảnh  hưởng  đến  chức  năng  thận.  Phẫu  thuật  ngay  trong  giai  đoạn  sơ  sinh  (≤  1  tháng)  với  bệnh  lý  van niệu đạo sau (2 BN), bàng quang lộ ngoài (2  BN) và 3 trường hợp ứ nước thận do hẹp khúc  nối. Còn lại 10 BN (37,9%) đang tiếp tục theo dõi  định  kỳ  phần  lớn  là  bệnh  lý  hẹp  khúc  nối  bể  thận‐ niệu quản với 19 BN (24,1%) chỉ giãn khu  trú bể thận với đường kính trước sau bể thận ≤ 

20 mm hoặc giãn nhẹ đài thận và không có dấu  hiệu  ứ  nước  thận  tiến  triển.  Với  1  trường  hợp 

Trang 6

bàng  quang  lộ  ngoài  kết  hợp  còn  ổ  nhớp  gia 

đình chưa đồng ý phẫu thuật và 1 trường hợp u 

thận  điều  trị  hóa  chất  khối  u  nhỏ  lại  gần  như 

không  thấy  trên  chụp  cắt  lớp  vi  tính  chúng  tôi 

xếp  vào  nhóm  theo  dõi.  Một  số  tác  giả  khi 

nghiên cứu về dị tật bẩm sinh nhận xét “sự bất 

thường  tiết  niệu  phát  hiện  được  đôi  khi  không 

gây nguy hiểm cho đứa trẻ và rất  nhiều  sự  bất 

thường được cải thiện một cách ngẫu nhiên (6). 

Kết  quả  điều  trị  phẫu  thuật  các  dị  tật  tiết 

niệu tốt là 85,7%, 2 BN (4,1%) kết quả xấu trong 

đó  1  trường  hợp  tử  vong  trong  thời  gian  hậu 

phẫu sau mổ do BN bị đa dị tật: thoát vị trong 

dây rốn lớn kết hợp bàng quang lộ ngoài và còn 

ổ nhớp, 1 BN còn lại hẹp khúc nối bể thận ‐ niệu 

quản phải mổ lại lần 2 cho kết quả tốt (bảng 7). 

KẾT LUẬN 

Dị  tật  thận  ‐  tiết  niệu  là  bệnh  không  hiếm 

gặp ở trẻ sơ sinh, có thể được chẩn đoán sớm từ 

trong  bào  thai.  Việc  tầm  soát  lại  sau  sinh  bằng 

siêu  âm  và  các  phương  pháp  chẩn  đoán  hình 

ảnh  khác  có  tầm  quan  trọng  trong  việc  quyết 

định  thái  độ  xử  trí.  Chỉ  định  can  thiệp  ngoại 

khoa tránh nguy cơ suy giảm chức năng thận là  cần thiết 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Capello SA, Kogan BA, Giorgi LJ, Kaufman RP (2005). Prenatal  ultrasound  has  led  to  earlier  detection  and  repair  of  ureteropelvic junction obstruction. J Urol, 174(4): pp 1425‐1428.  

2 Dejter  SW  Jr,  Gibbons  MD  (2005).  The  fate  of  infant  kidneys  with  fetal  hydronephrosis  but  initially  normal  postnatal  sonography. J Urol, 142(2): pp 661‐662; discussion  pp 667‐668.  

3 Duckett  JW  (1993).  When  to  operate  on  neonatal  hydronephrosis. Urology, 42(6): pp 617‐619.  

4 El‐Ghoneimi  A,  Farhat  W,  Botduc  S,  Bagli  D,  McLorie  G,  Aigrain Y, et al (2003). Laparoscopic dismembered pyetoplasty 

by a retroperitoneal approach in children. BJU Int, 92: pp 104‐

108. 

5 Fernbach SK, Maizels M, Conway JJ (1998). Ultrasound grading 

of  hydronephrosis:  introduction  to  the  system  used  by  the  Society for Fetal Urology. Pediatr Radiol, 23(6): pp 478‐480. 

6 Gearhart  PJ,  Rink  RC,  Mouriquand  PD,  Saunders  WB  (2001).  Pediatric urology. Pennsylvania, pp 161‐186.  

7 Lê Công Thắng, Lê Thanh Tùng, Lê Tấn Sơn (2004). Tổng kết 10  năm phẫu thuật tiết niệu ‐ sinh dục tại bệnh viện nhi đồng, Hội  nghị ngoại nhi lần I ‐ Bệnh viện Nhi Đồng 1, tr 227‐235. 

8 Nguyễn  Thanh  Liêm  (2000).  Phẫu  thuật  tiết  niệu  trẻ  em,  Nhà  xuất bản Y học Hà Nội, tr 7‐23. 

  Ngày nhận bài        01/07/2013.  Ngày phản biện nhận xét bài báo  25/07/2013.  Ngày bài báo được đăng:    15–09‐2013 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 13:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w