1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài giảng Hội chứng tăng áp lực trong sọ - TS. BS Lề Điền Nhi

5 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áp lực trong sọ bình thường ở vị trí nằm ngửa là 10-15mmHg, đo ở vị trí ngang mực lỗ Monro. Tăng áp lực trong sọ liên hệ trực tiếp với các thành phần chứa trong sọ. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này mời các bạn tham khảo Bài giảng Hội chứng tăng áp lực trong sọ do TS. BS Lề Điền Nhi biên soạn.

Trang 1

1

HỘI CHỨNG TĂNG ÁP LỰC TRONG SỌ

TS BS Lề Điền Nhi ĐHYK Phạm Ngọc Thạch

Sinh lý bệnh:

Áp lực trong sọ bình thường ở vị trí nằm ngửa là 10-15mmHg, đo ở vị trí ngang

mực lỗ Monro Tăng áp lực trong sọ liên hệ trực tiếp với các thành phần chứa trong

sọ Thành phần trong sọ gồm có:

- Não: tế bào thần kinh chiếm thể tích 500-700ml, mô thần kinh đệm

700-900ml

- Dịch não tủy: 100-150ml

- Máu: 100-150ml

- Khoang ngoại bào: 100-150ml (200ml)

Tăng áp lực trong sọ có thể do:

- Tăng thể tích các thành phần bình thường trong sọ Có thể do:

 Não:

o Phù não

o Tăng áp lực trong sọ lành tính

 Dịch não tủy:

o Tràn dịch não thất

 Thể tích máu:

o Giãn mạch máu não do ưu thán (Chú thích: thán là CO 2 )

- Một thương tổn choán chỗ: u não, abscess não, máu tụ trong sọ

LƯU LƯỢNG MÁU NÃO:

Trong khoảng sinh lý bình thường của huyết áp, não duy trì một lưu lượng máu não

không đổi, gọi là sự tự điều chỉnh Sau khi bị các thương tổn não nặng (Ví du:ï xuất

huyết dưới nhện) khả năng tự điều chỉnh bị tổn thương và áp lực tưới máu não tùy

thuộc vào áp lực động mạch trung bình Lưu lượng máu não bình thường độ

800ml/phút (20% cung lượng tim)

Áp lực tưới máu não phụ thuộc vào áp lực động mạch toàn thân trung bình và áp

lực trong sọ

Trang 2

2

Vì vậy, để duy trì áp lực tưới máu não trong trường hợp tăng áp lực trong sọ, thì

huyết áp toàn thân phải tăng

TỤT NÃO:

Ba loại tụt não chính là:

1 Tụt não qua lều tiểu não

2 Tụt não qua lỗ chẩm

3 Tụt não dưới liềm não

Tụt não qua lều tiểu não:

Làm xê dịch não, hồi móc

của thùy thái dương lọt qua lỗ

của lều tiểu não gây chèn ép

thần kinh III và não giữa, ban

đầu gây giãn đồng tử cùng

bên và chèn ép bó tháp ở nền

cuống não (Crus cerebri) gây

liệt ½ người đối bên Tuy vậy,

thân não bị xê dịch ra bên có

thể làm nền cuống não đối

bên cũng bị chèn ép vào bờ

sắc chắc của lều tiểu não gây

ra liệt ½ người cùng bên tổn thương Tương tự, động mạch não sau có thể bị xoắn

vặn, làm thiếu máu não đưa đến mù nửa bên (hemianopia) Chèn ép thân não và

hệ thống lưới kích hoạt làm trạng thái trí giác xấu đi đưa đến hôn mê, tăng huyết

áp và nhịp tim chậm (đáp ứng Cushing) và suy hô hấp, thường biểu hiện qua nhịp

thở Cheyne-Stokes

Tụt não qua lỗ chẩm:

Tăng áp lực trong sọ ở hố sau làm tụt hạnh nhân tiểu não vào lỗ chẩm và chèn ép

hành tủy Nếu diễn tiến chậm dần dần thì bệnh nhân có thể phát triển dấu tư thế

bất thường ở gáy Trẻ bị u não hố sau có thể có dấu hiệu ưỡn gáy Cứng cổ là do

kích thích màng cứng quanh lỗ chẩm Chèn ép hành tủy có thể gây ra suy hô hấp

nhanh, gây ngưng thở hoặc bất thường nhịp thở và tần số thở (ví dụ nhịp thở

Cheyne-Stokes) Các điều này có thể xảy ra mà không có rối loạn đáng kể nào về

tình trạng tri giác Tụt hạnh nhân tiểu não gây chèn ép có thể làm yếu liệt chi đột

ngột và rối loạn cảm giác

Tăng áp lực trong sọ dần dần về sau gây thoát vị thân não vào lỗ chẩm, làm rách

các động mạch xuyên tưới máu cho thân não và gây chảy máu trong (Duret

hadmorrhage) Các cấu trúc trong sọ tụt xuống dưới với tăng áp lực trong sọ gây

Hình: tụt não: một khối choán chỗ trên liều tiểu não có thể

di lệch các não thất bên với: (3) Tụt não dưới liềm não: hồi viền tụt xuống dưới liềm não; (1) Tụt não qua liều tiểu não: Hồi móc tụt qua lỗ của lều tiểu não; (2) Thân não bị tụt xuống dưới; (6) Tụt não qua lỗ chẩm: tăng áp lực trong sọ hố sau làm tụt hạnh nhân tiểu não vào lỗ chẩm

Chú thích: Trong hình của thầy chỉ có (1), (2), (3), (6) hình

này lấy trên mạng nên hơi khác.

Trang 3

3

tổn thương kéo căng cuống tuyến yên, đưa đến đái tháo nhạt Với thoát vị não dần

dần và sự phá hủy của thân não, đồng tử thay đổi từ giãn và cố định sang kích

thước trung bình và không phản xạ với ánh sáng Hiện tượng này đưa dần đến chết

não

TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA TĂNG ÁP LỰC TRONG SỌ:

Các triệu chứng chính: nhức đầu, buồn nôn, ói mửa, ngủ gà, phù gai thị

- Nhức đầu: nhức đầu trong tăng áp lực trong sọ thường gia tăng vào lúc thức

dạy, buổi sáng sớm, giảm sau khi ói Áp lực trong sọ khi ngủ có lẽ do giãn

mạch máu vì ứ đọng CO2 Nguyên nhân nhức đầu trong tăng áp lực trong sọ

do kéo căng các mạch máu nhạy cảm với đau và chèn ép màng cứng nhạy

cảm với đau ở đáy sọ

- Buồn nôn và nôn: thường nặng về buổi sáng sớm

- Tình trạng ngủ gà: là dấu hiệu lâm sàng qua trọng, là điềm báo của diễn

tiến xấu rất nhanh về thần kinh, đừng bao giờ bỏ qua một cách đơn giản, cho

là bệnh nhân buồn ngủ

- Phù gai thị: dấu hiệu chắc chắn của tăng áp lực trong sọ, do sự truyền áp lực

trong sọ bị tăng dọc theo bao dưới nhện của dây thần kinh thị giác Người có

kinh nghiệm thấy được tĩnh mạch võng mạc mất nhịp đập bình thường và

tĩnh mạch bị ứ phù Khi áp lực trong sọ tăng cao, soi đáy mắt thấy đầu thần

kinh thị bị phù, bờ gai thị bị mờ, nhiều hơn nữa sẽ có những đốm xuất huyết

dọc theo mạch máu và xuất tiết dịch ở võng mạc Tăng áp lực trong sọ kéo

dài sẽ dẫn đến teo gai thị thứ phát

- Phản xạ Cushing: khi tăng áp lực trong sọ, để duy trì áp lực tưới máu não

không đổi, có sự gia tăng huyết áp toàn thân để bù lại, kết hợp với mạch

chậm (nhịp tim chậm) Cushing là tên của phẫu thuật viên thần kinh tài giỏi,

Harvey Cushing, người đầu tiên đã mô tả phản xạ này

- Liệt dây thần kinh VI, dẫn đến nhìn đôi có thể xảy ra trong tăng áp lực trong

sọ, do kéo căng dây thần kinh VI bởi sự xê dịch xuống phía dưới của thân

não

- Ở trẻ con, tăng áp lực trong sọ làm thóp trước căng phồng

ĐO ÁP LỰC TRONG SỌ:

Chỉ định đo áp lực trong sọ:

- Chấn thương sọ não

- Sau phẫu thuật trong sọ nặng, đo áp lực trong sọ để theo dõi và xử trí, đặc

biệt sau phẫu thuật ở hố sọ sau để theo dõi tràn dịch não thất

- Để chẩn đoán tăng áp lực nội sọ lành tính

Trang 4

4

Áp lực nội sọ bình thường có đường cơ bản giữa 10-15mmHg với nhịp đập nhỏ do

hô hấp và nhịp tim Biên độ bình thường do thay đổi nhịp tim và hô hấp độ

3-5mmHg Khi tăng áp lực trong sọ thì áp lực mạch sẽ tăng, gây ra sống áp lực bất

thường:

- “Sóng bình nguyên”: Sóng “A” là áp lực >50mmHg, kéo dài ít nhất 5 phút,

thường là đến 20 phút, có lẽ do tăng lưu lượng máu não và tăng thể tích máu

não

- Sóng “B”: độ cao nhỏ hơn, kéo dài khoảng 1-2 phút

Đặt dụng cụ đo áp lực trong sọ: trong não thất, trong nhu mô não, dưới màng nhện,

dưới màng cứng, ngoài màng cứng

Biến chứng chính của đặt dụng cụ đo áp lực trong sọ là nhiễm trùng, tùy theothoi27

gian lưu dụng cụ đo lâu ngày hay không

XỬ TRÍ TĂNG ÁP LỰC TRONG SỌ:

Điều trị tăng áp lực trong sọ tùy thuộc vào nguyên nhân: ví dụ mổ lấy khối choán

chỗ (u não), hoặc đạt shunt nếu bị tràn dịch não thất

Trong trường hợp khẩn, khi bệnh nhân hôn mê và suy hô hấp, nếu cần phải hỗ trợ

hô hấp và đặt nội khí quản Trong khi chờ đợi điều trị nguyên nhân gây tăng áp lực

trong sọ, có thể điều trị tạm thời bằng cách tăng thông khí (giúp giảm CO2 máu

động mạch và làm giảm bớt giãn mạch) và dùng thuốc lợi tiểu (Mannitol hoặc

Furosemide)

TĂNG ÁP LỰC NỘI SỌ LÀNH TÍNH:

Tăng áp lực nội sọ lành tính, còn được gọi là “giả u não”, là một bệnh lý mà tăng

áp lực nội sọ có diễn biến tự giới hạn, thường xảy ra ở phụ nữ béo phì Tuy nói là

lành tính nhưng bệnh cũng có thể gây mù mắt do phù gai thị nặng Cơ chế bệnh

sinh chưa biết rõ

Nguyên nhân:

Thường gặp ở những phụ nữ trẻ, béo phì, đang sử dụng thuốc tránh thai hoặc kinh

nguyệt không đều Một số các trường hợp tìm được nguyên nhân như:

- Thiểu năng tuyến cận giáp

- Dùng quá nhiều sinh tố A (dùng trị mụn)

- Thiếu máu ác tính

- Phản ứng với thuốc: Tetracycline, Sulfamethoxazole, thuốc tránh thai

- Do tắc xoang tĩnh mạch

Triệu chứng lâm sàng:

Phần lớn các bệnh nhân là phụ nữ mập mạp, có các triệu chứng:

Trang 5

5

- Nhức đầu: nặng hơn về buổi sáng, gia tăng khi ho, rặn, cúi khom người

- Rối loạn nhìn: phù gai thị, teo gai thị thứ phát, nhìn đôi do liệt thần kinh sọ

VI

- Một biến chứng ít gặp của tăng áp lực nội sọ lành tính là rò dịch não tủy ở

mũi tự phát, thường phối hợp với hội chứng hố yên trống

Chẩn đoán:

CT scan và MRI não không tìm thấy nguyên nhân của phù gai thị giác và não thất

thường nhỏ hơn bình thường

Chụp DSA hoặc chụp tĩnh mạch MRI có thể thực hiện để loại trừ nguyên nhân tắc

1 xoang tĩnh mạch não

Nếu CT scan và MRI đều không tìm thấy khối choán chỗ thì có thể chọc dò cột

sống thắt lưng lấy dịch não tủy Dịch não tủy bình thường Nếu có nghi ngờ về

chẩn đoán, đôi khi có thể đo và theo dõi áp lực dịch não tủy

Điều trị:

Thường là bệnh tự giới hạn, có thể đáp ứng với điều trị nội khoa đơn thuần:

- Giảm cân (bệnh nhân thường mập mạp)

- Ngưng các loại thuốc có thể gây ra bệnh này, ví dụ thuốc tránh thai đường

uống, tetracycline

- Dùng thuốc lợi tiểu

- Dùng thuốc acetazolamide (làm giảm sự sản xuất dịch não tủy)

Đo nhuệ độ thị giác, thị trường (đặc biệt là kích thước lớn của điểm mù) và chụp

ảnh đáy mắt để theo dõi diễn tiến bệnh

Nếu các phương thức điều trị trên không hiệu quả, có thể điều trị với glycerol hoặc

steroids (tuy vậy cá thuốc này có thể làm mập)

Các chỉ định điều trị phẫu thuật:

- Tiếp tục bị phù gai thị nặng dù đã điều trị nội khoa như trên

- Không nhìn thấy (thị lực giảm nhiều)

- Nhức đầu dữ dội dù có dùng điều trị nội khoa

Các phương pháp phẫu thuật:

- Mổ giải áp bao thần kinh thị giác

- Mổ đặt shunt thắt lưng-phúc mạc

Ngày đăng: 21/01/2020, 12:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm