Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm phân tích các biến chứng sau làm dính màng phổi bằng bơm talc qua ống dẫn lưu ngực trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát (TKMPTP) biến chứng. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.
Trang 1PHÂN TÍCH BIẾN CHỨNG VÀ TỈ LỆ TÁI PHÁT TRÀN KHÍ
MÀNG PHỔI SAU LÀM DÍNH MÀNG PHỔI BẰNG TALC
Ngô Thanh Bình*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Phân tích các biến chứng sau làm dính màng phổi bằng bơm talc qua ống dẫn lưu ngực trong
điều trị tràn khí màng phổi tự phát (TKMPTP) biến chứng
Phương pháp nghiên cứu: Thực nghiệm can thiệp điều trị lâm sàng
Kết quả: Từ 01/2002 đến 12/2006, có 197 trường hợp TKMPTP biến chứng (gồm 74 TKMPTP nguyên
phát và 123 TKMPTP thứ phát) Có 174 trường hợp nam và 23 trường hợp nữ Tuổi trung bình là 51,83 (từ 17 – 85 tuổi) Phần lớn TKMPTP nguyên phát xảy ra ở lứa tuổi dưới 40 tuổi và ngược lại, TKMPTP thứ phát xảy
ra ở lứa tuổi trên 40 tuổi TKMPTP tái phát gặp nhiều hơn TKMPTP lần đầu tiên nhưng không đáp ứng với đặt ODLMP (thời gian đặt ODLMP kéo dài quá 7 – 10 ngày) (81,73% so với 18,27%) Tỉ lệ thành công của LDMP bằng talc qua ODLMP (tính đến thời điểm xuất viện) là 95,94% với thời gian trung bình lưu ODLMP là 3,34 ngày (giới hạn từ 1 – 21 ngày) Ba biến chứng sớm là đau ngực (53,81%), sốt (26,9%) (xảy ra ngay trong vòng 4 giờ đầu tiên) và ho khan (29,95%) (xảy ra trong khoảng 4 – 12 giờ) sau bơm talc màng phổi Ngoài ra, có 3 trường hợp mủ màng phổi nhưng đáp ứng tốt với điều trị kháng sinh Sau thời gian theo dõi từ 1 – 4 năm, tỉ lệ TKMP tái phát là 9,09% và biến chứng muộn là đau ngực nhẹ (42,61%) và khó thở nhẹ (chỉ xảy ra khi gắng sức nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động hàng ngày) Không trường hợp tử vong nào có liên quan đến nguyên nhân gây ra do talc Đồng thời, không có xảy ra những biến chứng trầm trọng (suy hô hấp cấp, tụt huyết áp,…) trong thời gian theo dõi sau LDMP bằng talc
Kết luận: Làm dày dính màng phổi bằng talc qua ODLMP có hiệu quả, an toàn và ít biến chứng trong điều
trị TKMPTP biến chứng
ABSTRACT
ANALYSIS OF COMPLICATIONS AFTER PLEURODESIS BY TALC THROUGH CHEST TUBE
IN THE TREATMENT OF COMPLICATED SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX
Ngo Thanh Binh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 - Supplement of No 4 - 2008: 146 - 151
Objective: to analyse complications after pleurodesis by talc through chest tube in the treatment of
complicated spontaneous pneumothorax (CSP)
Method: Clinical experimental study
Result: From 01/2002 to 12/2006, there were 179 cases of CSP (included 74 primary SP and 123 secondary
SP) There were 174 male and 23 female patients The average age was 51.83 (range, 21 to 85) Primary SP often occurred in age group under 40, and on the contrary, secondary SP occurred in age group over 40 Recurrent SP occurred more than first SP (which didn’t response with chest drainage; time for chest drainage lasted over 7 – 10 days) (81.73% % versus 18.27%) Rate of success of talc pleurodesis at discharged time was 95.94%, with an average duration of drainage chest tube was 3.34 days (range, 1 to 21) Three early complicated signs were chest pain (53.81%), fever (26.9%) (occurred in the first four- hour time) and cough (29.95%) (occurred in a 4 – 12 hour time) after talc pleurodesis Besides, there were 3 cases of empyema but they had good responses to antibiotic therapies After monitoring in 1-4 year period, rate of recurrent pneumothorax was 9.09% and lately complication was light chest pain (42.61%) and light dyspnea (only occurred after excessive actions but they
* Bộ Môn Lao và Bệnh phổi – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2didn’t influence patient’s activities significantly) The causes of death were unrelated to the pleurodesis Simultaneously, we haven’t detected orther severe complications (acute respiratory failure, hypotension,…) in the follow-up after talc pleurodesis
Conclusion: Pleurodesis by talc through chest drainage tube was high effective, safe and low complicative in
the treatment of CSP
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Tràn khí màng phổi tự phát biến chứng bao gồm
những trường hợp TKMPTP tái phát và những
trường hợp TKMPTP lần đầu tiên nhưng không
đáp ứng với điều trị đặt ống dẫn lưu màng phổi
(ODLMP) (thời gian đặt ống dẫn lưu kéo dài quá
7 – 10 ngày(5,10) Trong y văn, làm dính màng
phổi (LDMP) bằng talc là một trong số các
phương pháp LDMP bằng hóa chất, đã được
ứng dụng ở nhiều nước như Mỹ, Anh và các nơi
khác trên thế giới(1-3,5,8,10) Tại Việt nam, chưa có
nhiều nghiên cứu LDMP bằng bơm talc qua
ODLMP trong điều trị TKMPTP Chính vì vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu phân tích các
biến chứng xảy ra sau khi LDMP bằng bơm
dung dịch talc qua ODLMP trong điều trị
TKMPTP biến chứng
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân TKMPTP tái phát và
những trường hợp TKMPTP lần đầu tiên nhưng
không đáp ứng với điều trị đặt ODLMP (thời
gian đặt ống dẫn lưu kéo dài quá 7 – 10 ngày) sẽ
được bơm dung dịch talc qua ODLMP để LDMP
từ 01/2002 đến 12/2006 tại bệnh viện Phạm Ngọc
Thạch và được theo dõi tiếp về hiệu quả điều trị,
biến chứng và tỉ lệ tái phát trong vòng từ 1 đến 4
năm theo kiểu cuốn chiếu
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có tiền sử hoặc đang mắc các
bệnh lý nặng sau: nhồi máu cơ tim, rối loạn
nhịp tim; suy thận, suy gan cấp và mạn; rối
loạn thăng bằng kiềm toan; rối loạn đông máu;
nhiễm HIV/AIDS; tiền sử dị ứng với thuốc tê,
hóa chất…
Loại hình nghiên cứu
Thực nghiệm điều trị can thiệp lâm sàng
Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Chuẩn bị bệnh nhân và dung dịch talc trước khi tiến hành bơm vào khoang màng phổi
Tất cả bệnh nhân đều đã được đặt ODLMP
để giải thoát hết khí trong khoang màng phổi (KMP) và có đủ điều kiện trước khi được điều trị LDMP bằng talc như cải thiện triệu chứng lâm sàng (hết đau ngực, hết khó thở) và hết TKMP trên X-quang phổi thẳng
Giải thích cho bệnh nhân rõ ràng về tình trạng bệnh và phương pháp điều trị Đo dấu hiệu sinh tồn Chụp X-quang phổi thẳng kiểm tra và lấy khí máu động mạch Tiền mê (tiêm dưới da 0,25 – 0,5 mg Atropin; và uống 5 – 10
mg Diazepam) 30 phút trước khi thực hiện thủ thuật
Bột talc được sử dụng có nguồn gốc sản xuất từ Pháp có độ tinh khiết cao, không chứa amiăng, được dùng trong ngành y tế Liều bột talc dùng để LDMP là 2g, được tiệt trùng ở nhiệt độ cao 1360C trong 6 – 8 giờ Sau đó, pha loãng bột talc với 50 ml nước muối sinh lý thành dung dịch talc, được đựng trong ống tiêm loại 50 ml, và được lắc cho thật đều trước khi bơm vào KMP
Các bước tiến hành bơm dung dịch talc vào khoang màng phổi
Sau khi nhu mô phổi nở hoàn toàn, bệnh nhân được bơm 100 mg lidocaine2% qua ODLMP
15 phút sau, bơm từ từ 50 ml dung dịch talc qua ODL vào KMP Kẹp ODL khoảng 1 – 2 giờ,
Trang 3chỉ dẫn bệnh nhân xoay đổi tư thế mỗi 15 phút
để dung dịch talc tráng đều khắp bề mặt màng
phổi Sau đó mở ODLMP trong 24 giờ
Các bước theo dõi sau bơm dung dịch talc
LDMP
Ghi nhận các dấu hiệu của biến chứng sớm
(sốt, đau ngực, ho, khó thở…) Theo dõi dấu
hiệu sinh tồn ngay sau khi thực hiện thủ thuật
và tại các thời điểm 4 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ,
72 giờ và trên 72 giờ (nếu thấy cần) Đồng thời
xử trí kịp thời các biến chứng sớm xảy ra (nếu
có)
Theo dõi tình trạng hoạt động của
ODLMP, chụp X-quang phổi và đo khí máu
kiểm tra 24 giờ sau Nếu nhu mô phổi nở
hoàn toàn, ODLMP ngưng hoạt động thì rút
ODLMP Tiếp tục theo dõi thêm 24 giờ sau
đó, kiểm tra lâm sàng, X-quang phổi, nếu tiến
triển thuận lợi thì cho bệnh nhân xuất viện
Nếu sau 48-72 giờ sau LDMP bằng talc lần
thứ nhất, mà ODLMP vẫn còn hoạt động, thì
tiến hành LDMP lần thứ hai, nếu vẫn thất bại
thì chuyển sang phương pháp khác
Nếu 7 – 14 ngày sau khi LDMP bằng talc,
ODLMP vẫn còn thoát khí thì xem như phương
pháp này thất bại cần chuyển sang dùng
phương pháp điều trị khác Tuy nhiên, kéo dài
thời gian lưu ODLMP sau bơm talc còn tùy
thuộc vào tổng trạng bệnh nhân
Sau khi xuất viện, tất cả bệnh nhân đều được
theo dõi định kỳ sau mỗi 1 tháng, 3 tháng, 6
tháng, 1 năm, 2 năm, 3 năm, và 4 năm qua tái
khám sức khỏe định kỳ, hoặc qua liên lạc thư từ,
điện thoại (trong trường hợp bệnh nhân không
tái khám định kỳ) được nhằm đánh giá hiệu quả
điều trị, biến chứng và tỉ lệ tái phát trong vòng
từ 1 cho đến 4 năm theo kiểu cuốn chiếu
Thống kê và xử lý số liệu
Dùng phần mềm EXCEL 2006, STATA phiên
bản 6.0 để nhập, quản lý và xử lý số liệu Các
biến số được phân tích bằng các test thống kê
thích hợp, giá trị P < 0,05 được đánh giá là có ý
nghĩa thống kê
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2002 đến 12/2006, chúng tôi thu nhận 197 trường hợp TKMPTP biến chứng nhập viện tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và được điều trị bơm dung dịch talc qua ống dẫn lưu màng phổi để làm dính màng phổi Trong đó, có 74 trường hợp TKMPTP nguyên phát (37,56%) và 123 trường hợp TKMPTP thứ phát (62,44%)
Một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Trong 197 trường hợp TKMPTP biến chứng,
có 174 trường hợp (88,3%) là nam giới và 23 trường hợp (11,7%) là nữ giới Tỉ lệ mắc bệnh nam:nữ là 7,6:1 Tuổi trung bình là 51,83 (từ 17 –
85 tuổi) Mặt khác, có 62/68 trường hợp dưới 40 tuổi là TKMPTP nguyên phát và ngược lại, có 117/129 trường hợp trên 40 tuổi là TKMPTP thứ phát Ngoài ra, các trường hợp TKMPTP biến chứng có đặc tính như sau:
Bảng 1: Tính chất của TKMPTP biến chứng
Tính ch ấ t c ủ a TKMPTP bi ế n ch ứ ng n (%)
TKMPTP tái phát 161 (81,73%) TKMPTP l ầ n đầ u tiên nh ư ng không đ áp ứ ng
v ớ i đ i ề u tr ị đặ t ODLMP
36 (18,27%)
Kết quả điều trị và biến chứng sớm ngay sau LDMP bằng talc
Kết quả điều trị sau LDMP bằng talc: Tính đến thời điểm xuất viện, tỉ lệ thành công của phương pháp LDMP bằng talc qua ODLMP là
189 trường hợp (95,94%) và có 8 trường hợp (4,06%) thất bại phải chuyển sang điều trị khác Thời gian trung bình lưu ODLMP sau LDMP bằng talc là 3,34 ngày (giới hạn từ 1 –
21 ngày), trong đó 147 trường hợp (77,78%) có thời gian lưu ODLMP ≤ 3 ngày và 42 trường hợp (22,22%) trên 3 ngày
Biến chứng sớm xảy ra ngay sau LDMP bằng talc
53 trường hợp (26,9%) biểu hiện sốt xảy ra ngay trong vòng 4 giờ sau LDMP và đáp ứng tốt với thuốc hạ sốt thông thường dưới 3 – 5 ngày
106 trường hợp (53,81%) đau ngực xảy ra ngay trong vòng 4 giờ sau LDMP Đa số trường
Trang 4hợp đáp ứng tốt với thuốc giảm đau dưới 3 – 5
ngày Tuy nhiên, cũng có 13/106 trường hợp
(12,26%) là đau ngực nhiều phải dùng kết hợp
thuốc giảm đau tiêm tĩnh mạch và thuốc an
thần (5 – 10 mg diazepam) tiêm dưới da hoặc
tiêm bắp
59 trường hợp (29,95%) xuất hiện ho khan,
xảy ra trong khoảng thời gian 4 – 12 giờ sau bơm
talc màng phổi và đều đáp ứng tốt với thuốc
giảm ho trong 3 – 5 ngày
3 trường hợp (1,52%) mủ màng phổi xảy ra ở
những bệnh nhân đặt ODLMP trên 14 ngày sau
LDMP nhưng các trường hợp này đáp ứng tốt
với kháng sinh
Không ghi nhận trường hợp nào suy hô hấp
cấp, hạ huyết áp, hạ oxy máu,… xảy ra ngay sau
LDMP bằng talc
Tỉ lệ tái phát và biến chứng muộn sau thời
gian theo dõi từ 1 – 4 năm
Về tỉ lệ tái phát, chỉ có 176/189 trường hợp
(93,12%) LDMP bằng talc được theo dõi tiếp
trong vòng 1 – 4 năm (theo kiểu cuốn chiếu)
Trong đó, có 16 trường hợp (9,09%) biểu hiện
TKMP tái phát và 160 trường hợp (90,91%)
không tái phát
Về biến chứng muộn, trong 176 trường hợp
được theo dõi từ 1 – 4 năm, các trường hợp
BPTNMT và/hoặc có kết hợp với lao phổi cũ xơ
hang, thường có biểu hiện khó thở khi gắng sức
nên rất khó đánh giá dấu hiệu khó thở như là
một biến chứng sau LDMP bằng talc Chúng tôi
chỉ ghi nhận được15 trường hợp TKMPTP
nguyên phát có cảm giác khó thở khi gắng sức
nhiều và hết cảm giác khó thở khi nghĩ ngơi
Ngoài ra, 75 trường hợp (42,61%) có biểu hiện
đau ngực nhẹ xảy ra khi gắng sức, khi làm việc
nặng nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến sinh
hoạt và lao động hàng ngày của bệnh nhân
Triệu chứng này cải thiện nhanh chóng khi dùng
thuốc giảm đau thông thường Ngoài ra, có 16
trường hợp (15,7%) tử vong được tính cộng dồn
trong thời gian theo dõi từ 1 – 4 năm như sau:
(bn: bệnh nhân; tr.hợp: trường hợp)
Bảng 5: Tỉ lệ tử vong sau thời gian theo dõi từ 1 – 4
năm
Th ờ i gian theo dõi S ố tr ườ ng h ợ p t ử vong
S ố t ử vong
c ộ ng d ồ n
1 n ă m
Có 3 tr.h ợ p t ử vong: trong đ ó 2 bn ung th ư giai đ ạ n cu ố i và 1 tr.h ợ p
86 tu ổ i m ắ c b ệ nh BPTNMT/lao
ph ổ i c ũ x ơ hang
3
2 n ă m
Có thêm 4 tr.h ợ p t ử vong (g ồ m 2
bn 85 tu ổ i, 1 bn 81 tu ổ i, và 1 bn 80
tu ổ i) đề u m ắ c BPTNMT/lao ph ổ i c ũ
7
3 n ă m
Có thêm 5 tr.h ợ p t ử vong (g ồ m 1
bn 81 tu ổ i, 2 bn 80 tu ổ i, và 2 bn 79
tu ổ i) đề u m ắ c BPTNMT/lao ph ổ i c ũ
12
4 n ă m
Có thêm 4 tr.h ợ p t ử vong (g ồ m 1
bn 80 tu ổ i, 2 bn 79 tu ổ i, và 1 bn 78
tu ổ i) đề u m ắ c BPTNMT/lao ph ổ i c ũ
16
Tất cả các trường hợp này tử vong do bệnh
lý phổi cơ bản (ung thư phổi, BPTNMT và lao phổi cũ xơ hang) và có tuổi thọ cao (trên 78 tuổi) Các trường hợp tử vong này không liên quan đến LDMP bằng talc Ngoài ra, chúng tôi không ghi nhận có biến chứng muộn khác xảy ra trong suốt thời gian theo dõi 1 – 4 năm sau LDMP bằng talc
BÀN LUẬN
Về một đặc điểm của mẫu nghiên cứu, trong 197 trường hợp TKMPTP biến chứng nhập viện, nhóm TKMPTP thứ phát gặp nhiều hơn nhóm TKMPTP nguyên phát (62,44% so với 37,56%) Các trường hợp TKMPTP biến chứng xảy ra chủ yếu ở nam giới nhiều hơn nữ giới (88,3% so với 11,7%) và tỉ lệ mắc bệnh nam:nữ là 7,6:1 Tuổi trung bình là 51,83 (từ 17 – 85 tuổi) TKMPTP nguyên phát gặp chủ yếu
ở lứa tuổi dưới 40 tuổi và ngược lại, các trường hợp TKMPTP thứ phát xảy ra ở lứa tuổi trên
40 tuổi (117/123 trường hợp) Điều này cũng phù hợp với trong y văn(1,2,5) Ngoài ra, tính chất TKMPTP tái phát xảy ra nhiều hơn TKMPTP lần đầu tiên nhưng không đáp ứng với điều trị đặt ODLMP (thời gian đặt ODLMP kéo dài quá 7 – 10 ngày) (81,73% so với 18,27%)
Về kết quả điều trị ngay sau LDMP bằng talc: tỉ lệ thành công của phương pháp LDMP bằng talc qua ODLMP là 95,94% (tính đến thời
Trang 5điểm xuất viện) và 8 trường hợp (4,06%) thất bại
phải chuyển sang điều trị khác Thời gian trung
bình lưu ODLMP sau LDMP bằng talc là 3,34
ngày (giới hạn từ 1 – 21 ngày) Theo tác giả
Tschopp J M et al(10), tỉ lệ thành công khoảng
97% trường hợp TKMPTP biến chứng được bơm
bột talc màng phổi qua NSLN với thời gian
trung bình lưu ODLMP sau LDMP là 5 ngày
(giới hạn từ 2 – 40 ngày) Theo Sahn S A.(8), tỉ lệ
bơm bột talc màng phổi thành công 91% Theo
Henry T et al(5), tỉ lệ thành công là 85% – 92%
Như vậy, kết quả điều trị của chúng tôi cũng
tương tự như các nghiên cứu khác
Về biến chứng sớm xảy ra ngay sau LDMP
bằng talc, đa số trường hợp các biến chứng
sớm xảy ra như đau ngực (53,81%), sốt (26,9%)
(đều xảy ra trong vòng 4 giờ sau LDMP, và
đáp ứng tốt với thuốc giảm đau, hạ sốt thông
thường trong vòng dưới 3 – 5 ngày) và ho
khan (29,95%) (xảy ra trong khoảng thời gian 4
– 12 giờ sau bơm talc màng phổi và đều đáp
ứng tốt với thuốc giảm ho trong 3 – 5 ngày)
Cũng tương tự như một số nghiên cứu khác
như theo Sahn S A.(8), 16 – 69% trường hợp sốt
xảy ra trong vòng 4 – 12 giờ sau bơm talc và
kéo dài trong 3 ngày Ngoài ra, chúng tôi cũng
ghi nhận có 12,26% trường hợp là đau ngực
nhiều phải dùng kết hợp thuốc giảm đau tiêm
tĩnh mạch và thuốc an thần (5 – 10 mg
diazepam) tiêm dưới da hoặc tiêm bắp Theo
các tác giả khác(2,5,8), cho thấy tỉ lệ đau ngực (từ
ít đến nhiều) gây ra sau bơm bột talc màng
phổi khoảng 7% thấp hơn rất nhiều khi so
sánh với tỉ lệ đau ngực gây ra do Bleomycin là
28% và Doxycycline là 40%, chủ yếu là đau
ngực nhiều Mặt khác, chúng tôi ghi nhận có 3
trường hợp (2,44%) mủ màng phổi xảy ra ở
những bệnh nhân đặt ODLMP trên 14 ngày
sau LDMP nhưng các trường hợp này đáp ứng
tốt với kháng sinh Theo Berk J.L.(2), ghi nhận
có dưới 3% trường hợp mủ màng phổi Ngoài
ra, các biến chứng khác cũng được ghi nhận
trong y văn như Light R.W.(6) ghi nhận 7/29
trường hợp hạ oxy máu và tụt huyết áp xảy ra
sau bơm bột talc màng phổi; Rehse D H et
al(7), có 33% suy hô hấp hoặc tử vong trong tổng số 78 bệnh nhân được bơm talc màng phổi Tuy nhiên, cơ chế suy hô hấp cấp xảy ra sau LDMP bằng talc thì chưa được biết rõ(1,5,8) Trong khi, chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào có suy hô hấp cấp, hạ huyết áp, hạ oxy máu,… xảy ra sau LDMP bằng talc
Về tỉ lệ tái phát sau thời gian theo dõi 1 – 4 năm, chúng tôi ghi nhận có 9,09% trường hợp biểu hiện TKMP tái phát Theo y văn(2,3,5,10), chúng tôi chỉ ghi nhận được tỉ lệ tái phát của TKMPTP nói chung còn khá cao 38 – 43% Theo Gyưrik S et al(4), có 3 trường hợp (5%) TKMP tái phát trong số 56 trường hợp TKMPTP nguyên phát được LDMP bằng talc qua NSLN được theo dõi tiếp trung bình 118 tháng Ngoài ra, khi so sánh với một số phương pháp LDMP khác cho kết quả TKMP tái phát khác nhau, như Bauman M.H et al(1) và Berk(2), tỉ lệ TKMP tái phát sau LDMP bằng tetracycline là 25 – 28 % Theo Henry T et al(5), ghi nhận tỉ lệ TKMP tái phát ngay sau cắt màng phổi là 0,4% (n=752); sau làm trầy xước màng phổi chủ động (n=301)là 2,3% và
tỉ lệ TKMP tái phát ngay sau sau phẫu thuật NSLN (VATS) là 5 – 10% Như vậy, tỉ lệ TKMP tái phát xảy ra trong nghiên cứu của chúng tôi có thể chấp nhận được
Về biến chứng muộn xảy ra trong thời gian theo dõi từ 1 – 4 năm, trong 176 trường hợp được theo dõi từ 1 – 4 năm, các trường hợp BPTNMT và/hoặc có kết hợp với lao phổi cũ xơ hang, thường có biểu hiện khó thở khi gắng sức nên rất khó đánh giá dấu hiệu khó thở như là một biến chứng sau LDMP bằng talc Chúng tôi chỉ ghi nhận được 15 trường hợp TKMPTP nguyên phát có cảm giác khó thở khi gắng sức nhiều và hết cảm giác khó thở khi nghĩ ngơi Ngoài ra, 75 trường hợp (42,61%) có biểu hiện đau ngực nhẹ xảy ra khi gắng sức, khi làm việc nặng nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt và lao động hàng ngày của bệnh nhân Triệu chứng này cải thiện nhanh chóng khi dùng thuốc giảm đau thông thường Ngoài ra, có 16
Trang 6trường hợp (15,7%) tử vong được tính cộng dồn
trong thời gian theo dõi từ 1 – 4 năm Đa số các
trường hợp này tử vong do bệnh lý phổi cơ bản
(ung thư phổi, BPTNMT và lao phổi cũ xơ hang)
và do tuổi thọ cao (trên 78 tuổi) là chủ yếu
Nguyên nhân gây tử vong không liên quan đến
LDMP bằng talc Theo y văn(1-5), tỉ lệ tử vong do
TKMPTP là 15% – 20% ở bệnh nhân BPTNMT
và TKMPTP xảy ra trên bệnh nhân BPTNMT
được xem là tiên lượng xấu Mặt khác, chúng tôi
không ghi nhận trường hợp nào biến chứng
muộn khác xảy ra trong suốt thời gian theo dõi 1
– 4 năm sau LDMP bằng talc
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã cho
thấy tỉ lệ thành công của LDMP bằng talc bơm
qua ODLMP (tính cho đến thời điểm xuất viện)
là cao (95,94%) với thời gian trung bình lưu
ODLMP sau LDMP là 3,34 ngày (giới hạn từ 1 –
21 ngày) Các biến chứng sau LDMP bằng talc
thường nhẹ và đáp ứng tốt với thuốc giảm đau,
hạ sốt và giảm ho thông thường Chỉ có 3 trường
hợp mủ màng phổi nhưng đáp ứng tốt với
kháng sinh Không trường hợp tử vong nào có
liên quan đến nguyên nhân gây ra do talc Đồng
thời, chúng tôi không ghi nhận xảy ra những
biến chứng trầm trọng trong thời gian theo dõi
sau LDMP bằng talc Cùng với nhiều nghiên cứu
khác, nghiên cứu của chúng tôi đã chứng tỏ
phương pháp LDMP bằng talc dễ thực hiện, đơn
giản, đạt hiệu quả cao và an toàn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Baumann M H et al (2001), “Management of Spontaneous
Pneumothorax”, Chest, (119), pp.590-602
2. Berk J L (1997), “Pneumothorax”, A practical approach to
pulmonary medicine, pp.206-223
3 Fraser R.S et al (2005), “Methods of radiologic
investigation”-“Pneumothorax”, Synopsis of diseases of the chest, 3rd edition,
Elservier Saunders, pp.97-103; 828-830
4 Gyưrik S et al (2007), “Long-term follow-up of thoracoscopic
talc pleurodesis for primary spontaneous pneumothorax”,
Eur Respir J., (29), pp.757-760
5 Henry T et al (2003), “BTS guidelines for the management of
spontaneous pneumothorax”, Thorax, (58), ii39-52
6. Light R.W (2002), “Talc for pleurodesis?”, Chest, (122),
pp.1506-1508
7 Rehse D H et al (1999), “Respiratory failure following talc
pleurodesis”, Am J Surg 05/1999; 177(5), pp.437-440
8. Sahn S.A (2000), “Talc should be used for pleurodesis”, Am J
Respir Crit Care Med, (162), pp.2023-2024
9 Shiraishi T (1991), “Catamenial pneumothorax Report of a case and review of the Japanese and non-Japanese literature”,
Thorac Cardiovasc Surg., (39), pp.304-307
10 Tschopp J.M et al (1997), “Treatment of complicated spontaneous pneumothorax by simple talc pleurodesis under
thoracoscopy and local anaesthesia”, Thorax, (52), pp.329-332