1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường và khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose

7 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 456,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tần suất rối loạn dung nạp glucose và khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose. Và nghiên cứu cắt ngang trên 98 học viên đến thực tập tại Bộ môn sinh lý học - Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

Specimens in APTIMA Assays Volume 45, pages 2434-2438

3 Koumans EH (2002) Comparison of Methods for Detection of

Chlamydia trachomatis and Neisseria gonorrhoeae Using

Commercially Available Nucleic Acid Amplification Tests and a

Liquid Pap Smear Medium Volume 41, Pages 1507-1511

4 Mahony JB, Song X, Chong S., Faught M., Salonga T., Kapala J

(2001) Evaluation of the NucliSens Basic Kit for Detection of

Chlamydia trachomatis and Neisseria gonorrhoeae in Genital Tract

Specimens Using Nucleic Acid Sequence-Based Amplification of

16S rRNA Volume 39, Pages 1429-1425

5 Nguyễn Hoàng Chương (2005) Xây dựng quy trình PCR phát hiện papillomavirus (hpv) trong dịch phết âm đạo Y Học TP

Hồ Chí Minh, Tập 9, số 1

6 Whiley PJ, et al (2004) A new confirmatory Neisseria gonorrhoeae real-time PCR assay DM targeting the porA pseudogene

TẦN SUẤT NGUY CƠ MẮC TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

VÀ KHẢ NĂNG RÚT NGẮN THỜI GIAN THỰC HIỆN NGHIỆM PHÁP

DUNG NẠP GLUCOSE

Trần Ngọc Thanh* Nguyễn Thị Lệ**

TÓM TẮT

Mở đầu: Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) tăng nhanh nhất trên thế

giới Theo báo cáo của Trung tâm dinh dưỡng TPHCM cho biết, có từ 40 - 50% có biến chứng ở thời điểm chẩn đoán Trong đó, số người dưới 30 tuổi mắc bệnh ngày càng gia tăng, thậm chí có những trẻ dưới 10 tuổi cũng mắc bệnh và như vậy là tỉ lệ mắc tiền ĐTĐ còn cao hơn nữa Do đó, việc tầm soát tiền ĐTĐ mang lại một ích lợi quan trọng trong bối cảnh chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống là một trong ba cách giúp chẩn đoán ĐTĐ và là cách để phát hiện tiền ĐTĐ Tuy nhiên, thời gian 2 giờ cần cho việc thực hiện nghiệm pháp là khá lâu và là một trong những rào cản đối với việc ứng dụng nghiệm pháp này trong thực tế nên cần thiết phải đánh giá khả năng cải tiến

Mục tiêu: Xác định tần suất rối loạn dung nạp glucose và khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm

pháp dung nạp glucose

Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang trên 98 học viên đến thực tập tại Bộ môn

sinh lý học – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả: Tần suất rối loạn dung nạp glucose (tiền đái tháo đường) là 26,5% Tần suất rối loạn dung nạp

glucose có liên quan với tiền căn gia đình mắc tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường (RR= 2,69), với việc chơi thể thao (RR= 3,23); Ghi nhận tần suất này có gia tăng theo tuổi Có khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose dành cho các đối tượng có kết quả bình thường tại thời điểm 90 phút và tỉ lệ trường hợp có thể được rút ngắn là 49%

Từ khóa: nghiệm pháp dung nạp glucose, đường huyết lúc đói, tiền đái tháo đường, rối loạn dung nạp

glucose

ABSTRACT

PREVALENCE OF PRE-DIABETES BY ORAL GLUCOSE TOLERANCE TEST AND THE

PROBABILITY OF SHORTERNING TEST TIME

Tran Ngoc Thanh, Nguyen Thi Le * Y hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 – No 3 – 2011: 176 - 182

Background: Vietnam is one of the most increasing prevalence of diabetes mellitus countries According to

HCMC Center for Nutrition, approximately 40-50% diabetes patients have had complications at diagnosis The number of under 30 year old patients is increasing with pre-diabetes Therefore, screening and defining the

* Bộ moân Sinh Lí Học, Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, ** Bộ moân Sinh Lí Học, Đại Học Y Dược TP.HCM

Trang 2

prevalence of pre-diabetes are very important while there are few studies about it in Vietnam Oral glucose tolerance test (OGTT)is one of the ways to diagnose diabetes diseases and pre-diabetes 2-hour test time is too long for using this test in community and needs to be improved

Objective: To define the prevalence of pre-diabetes by using OGTT and to evaluate the probability of

shortening test time

Method: Cross-sectional study on 98 students practicing at Department of Physiology in the University of

Medicine and Pharmacy at HCMC

Results: The prevalence of impaired glucose tolerance (pre-diabetes) by using OGTT was 26.5% There were

correlations between this prevalence and family history of pre-diabetes, diabetes (RR=2.69) and state of playing sport (3.23) We also noted that the higher age was, the higher this prevalence was This study showed that there was a probability of shortening test time and this might be used for people having normal result at 90 th minute of test The prevalence of people who can be stopped at 90 th minute of test was 49%

Key words: oral glucose tolerance test, fasting glucose test, pre-diabetes, impaired glucose tolerance

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một rối loạn

chuyển hóa do nhiều nguyên nhân phức tạp

Hậu quả của ĐTĐ là những tổn thương kéo

dài, rối loạn và suy chức năng của các cơ

quan khác nhau(3,19) Hiện trên toàn thế giới có

khoảng 180 triệu người mắc bệnh ĐTĐ Tổ

chức y tế thế giới (World Health Organization

– WHO) dự báo đến năm 2030, con số này sẽ

tăng lên 366 triệu người Với tỷ lệ tăng từ

8-20% mỗi năm, Việt Nam nằm trong nhóm

nước có tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất trên

thế giới(11) Theo báo cáo của Trung tâm dinh

dưỡng TPHCM, có từ 40 - 50% bệnh nhân

ĐTĐ có biến chứng ở thời điểm chẩn đoán,

nguyên nhân chính là do bệnh được phát hiện

muộn(5) Tỉ lệ mắc ĐTĐ còn cao, tỉ lệ phát hiện

muộn còn nhiều đã làm gia tăng thêm gánh

nặng cho bản thân người bệnh và xã hội Mặt

khác, trong tình hình phát triển của nền kinh

tế hiện nay, chế độ dinh dưỡng nhiều chất

béo, thừa năng lượng, thiếu vận động và béo

phì, đây cũng là nguyên nhân gia tăng bệnh

ĐTĐ ở người trẻ(12), số người dưới 30 tuổi mắc

bệnh ngày càng gia tăng(15) và như vậy là tỉ lệ

mắc tiền ĐTĐ còn cao hơn nữa Tuy nhiên, có

thể ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình tiến

triển tiền ĐTĐ thành ĐTĐ týp 2, và thậm chí

có thể trở lại mức đường huyết bình

mang lại một ích lợi quan trọng trong bối cảnh chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống

là một trong ba cách giúp chẩn ĐTĐ và cũng

là cách để phát hiện tiền ĐTĐ(7)

Mục tiêu đề tài

Xác định tần suất rối loạn dung nạp glucose

và khả năng rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Gồm 98 học viên đến thực tập tại Bộ môn sinh lý học – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Tiêu chuẩn thu nhận (13)

Có chế độ ăn không giới hạn (trong đó chứa

ít nhất 150g carbohydrate mỗi ngày) trong ít nhất 3 ngày và có hoạt động thể lực trước khi thực hiện nghiệm pháp

Ngưng đưa năng lượng vào cơ thể tối thiểu

8 giờ trước khi thực hiện nghiệm pháp (kể cả việc hút thuốc lá và dùng cà phê)

Có thể tham gia thực hiện nghiệm pháp một cách liên tục trong thời gian là 2 giờ buổi sáng Hoàn toàn khỏe mạnh và không có dấu hiệu

lo lắng hay có thai

Tiêu chuẩn loại trừ

Trang 3

nội, ngoại khoa

Đang dùng thuốc thiazide, thuốc ngừa

thai đường uống, các corticoteroid hoặc

các thuốc khác được biết là có ảnh hưởng

đến glucose máu

Người nghiện cà phê, thuốc lá

Bệnh nhân không thu thập đủ chỉ tiêu theo

thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu – cắt

ngang mô tả

Cỡ mẫu (6,9)

Cỡ mẫu được tính theo công thức:

Z 2 1-α/2 P (1 - P)

n =

d 2

Với α = 0,05, Z = 1,96 giá trị tại độ tin cậy

95%, P = 0,65 tỷ lệ ước đoán, d = 0,05

Cỡ mẫu cần cho nghiên cứu này là n = 91

Trong đó p = 0,65 là tỷ lệ ước đoán dựa vào

kết quả nghiên cứu của Levent Odemir và cs.(12)

Quy trình nghiên cứu

Tất cả các đối tượng được nghiên cứu sẽ

được hướng dẫn các nội dung cần tuân thủ

Các đối tượng thỏa các điều kiện sẽ được

thu thập các thông tin cơ bản, nhân trắc và các

thông tin về yếu tố nguy cơ của đái tháo đường,

giải thích lại quy trình lấy mẩu và ghi lại kết quả

thực hiện

Đo huyết áp

Phân loại huyết áp theo tiêu chuẩn JNC VII

Tính chỉ số khối cơ thể (BMI)

Tính BMI theo tiêu chuẩn của hiệp hội đái

tháo đường Đông Nam Á

Đánh giá kết quả đo đường huyết (8,13)

Đối tượng được chẩn đoán là có mắc tiền đái tháo đường khi kết quả thực hiện đo:

- Glucose lúc đói là trong khoảng ≥ 100 mg/dl đến < 126 mg/dl (5,6-7,0 mmol/l)

- Hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống từ ≥ 140mg/dl đến < 200 mg/dl (7,8-11,1 mmol/l) và đường huyết lúc đói < 126 mg/dl (7,0 mmol/l)

Nồng độ glucose máu toàn phần thấp hơn nồng độ glucose máu huyết thanh khoảng từ 10% đến 12% Do đó, các đối tượng có kết quả

đo glucose máu mao mạch có giá trị đường huyết ngoài mức bình thường sẽ được đánh giá là có nguy cơ mắc tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường

Xử lý số liệu

Phân tích số liệu: phần mềm EXCEL 2007 và SPSS 16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành chọn 98 học viên trên

114 học viên được mời vào nghiên cứu (đạt 92%)

Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường tại thời điểm

đo đường huyết lúc đói (lúc 0 phút) là 23,5%, không phát hiện trường hợp nào có đái tháo đường So với kết quả đường huyết sau thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose (lúc 120 phút), tần suất này là 26,5% và cũng không phát hiện trường hợp nào có đái tháo đường

Trang 4

Bảng 1 Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường

và tuổi

Tuổi

Kết quả

Dung nạp bình

thường

25 77,3%

45 73,8%

2 66,7%

0 0%

72 73,5%

Tiền đái tháo

đường

7 22%

16 26,2%

1 33,3%

2 100%

26 26,5%

100%

61 100%

3 100%

2 100%

98 100%

Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường

tăng theo tuổi, chưa tìm thấy sự liên quan có ý

nghĩa thống kê giữa tần suất mắc tiền đái tháo

đường (χ2 = 3,01, p=0,39)

Bảng 2 Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường

và giới

Giới Kết quả

76,7%

39 70,9%

72 73,5%

23,3%

16 29,1%

26 26,5%

100%

55 100%

98 100%

Chưa tìm thấy sự liên quan có ý nghĩa thống

kê giữa tần suất mắc tiền đái tháo đường và giới trong nghiên cứu này (χ2 = 0,271, p=0.672)

Bảng 3 Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường với tiền căn hút thuốc lá, cà phê và gia đình

Dung nạp bình

thường

59 69,5%

13 100%

72 73,5%

36 67,9%

36 80%

72 73,5%

66 78%

6 46,2%

72 73,5% Tiền đái tháo

đường

26 30,5%

0 0%

26 26,5%

17 30,5%

9 20%

26 26,5%

19 20%

7 53,8%

26 26,5%

100%

13 100%

98 100%

53 100%

45 100%

98 100%

85 100%

13 100%

98 100%

Không có sự liên quan có ý nghĩa thống kê

giữa tần suất mắc tiền đái tháo đường với thuốc

lá (χ2 = 3,734, p=0.672), cà phê (χ2 = 1,482,

p=0.223) nhưng có sự liên quan với tiền căn gia đình (χ2 = 4,508, p=0.034) (RR=2.69)

Bảng 4 Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường với hoạt động thể lực, BMI và tình trạng huyết áp

Thể dục

Dung nạp

bình thường

46 66,7%

26 89,7%

8 72,8%

46 75,4%

8 58,2%

10 83,3%

43 81,1%

29 89,7%

Tiền đái

tháo đường

23 33,3%

3 10,3%

3 27,2%

15 24,6%

6 42,8%

2 16,7%

10 18,9%

16 35,5%

100%

29 100%

11 100%

61 100%

14 100%

12 100%

53 100%

45 100%

Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường

ở nhóm không có chơi hoặc tập luyện thể thao

cao hơn nhóm còn lại (33,3% so với 10,3%)

Có sự liên quan giữa việc chơi thể thao và tần

suất mắc tiền đái tháo đường (χ2 = 4,508,

p = 0,034) (RR = 3,23)

Chưa tìm thấy sự liên quan có ý nghĩa

thống kê giữa tần suất mắc tiền đái tháo

đường và chỉ số khối cơ thể trong nghiên cứu

này (γ= -0,03, p=0,901)

tăng theo huyết áp, từ 18,9% ở nhóm người có huyết áp bình thường đến 35,5% ở nhóm người

có huyết áp vượt mức bình thường (tiền tăng huyết áp và tăng huyết áp) Chưa tìm thấy sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tần suất mắc tiền đái tháo đường và huyết áp trong nghiên cứu này (χ2 = 2,378, p=0,123)

Khả năng rút ngắn thời gian làm nghiệm pháp dung nạp glucose

Có 48 đối tượng nghiên cứu có mức đường

Trang 5

đó có 93,7% (n=42) đạt giá trị bình thường cho

đến khi thực hiện xong nghiệm pháp Chỉ số

kappa khi so sánh kết quả quan sát tại thời điểm

90 phút và 120 phút là 0,393

Kết quả ở phút 90 Dung nạp

bình thường

Dung nạp bất thường

Tổng

Dung nạp bình

thường

45 93,7%

27 54%

72 73,5%

Kết quả

ở phút

thường

03 6,3%

23 46%

26 26,5%

100%

50 100%

98 100%

BÀN LUẬN

Tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường

Tần suất nguy cơ

Tỉ lệ nguy cơ mắc tiền đái đường trong mẫu

nghiên cứu tại thời điểm 0 phút là 23,5%, không

ghi nhận trường hợp nào có đái tháo đường

Sau khi thực hiện xong nghiệm pháp, chúng tôi

xác định được tần suất nguy cơ mắc tiền đái

tháo đường là 26,5% Tần suất này tăng lên do

có một số đối tượng được đánh giá là bình

thường tại thời điểm 0 phút và có kết quả ngược

lại sau 120 phút thực hiện nghiệm pháp Điều

này cũng phù hợp với những ghi nhận trong y

văn về đánh giá hiệu quả của nghiệm pháp

dung nạp glucose(8,13) Do đó, trong thực hành

tầm soát tiền đái tháo đường cho các đối tượng

nguy cơ cao trong cộng đồng, nghiệm pháp

dung nạp glucose vẫn còn cần thiết So với báo

cáo của Trần Văn Bình(16), năm 2002, nghiên cứu

đầu tiên về mật độ phân bố của đái tháo đường

(ĐTĐ) tại bệnh viện nội tiết trung ương cho thấy

mật độ này tại nông thôn là 2,7% và thành thị là

4,4% Đến 2006, mật độ phân bố bệnh này là

2,6%, tỉ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,3%

Năm 2007, theo báo cáo của Sở Y Tế tỉnh Bình

Định, rối loạn đường huyết lúc đói 20,34%, rối

loạn dung nạp Glucose 11,07% Năm 2009, Lê

Quang Minh, Phạm Thị Hồng Vân, Nguyễn

Minh Tuấn phát hiện 18,9% có rối loạn dung

nạp glucose máu; 24,9% rối loạn glucose máu

lúc đói; 22% nam giới và 17% nữ có rối loạn dung nạp glucose máu(4)

Tần suất nguy cơ tiền đái tháo đường và một

số yếu tố liên quan

Về tiền căn gia đình, chúng tôi ghi nhận tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường ở nhóm

có tiền căn gia đình (cha mẹ, anh chị em ruột, con ruột) mắc tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường cao hơn nhóm còn lại (53,8% so với 20%)

Có sự liên quan giữa tiền căn gia đình và tần suất mắc tiền đái tháo đường (χ2 = 4,508, p=0,034)(RR=2,69) Như vậy, người có tiền căn gia đình mắc tiền đái tháo đường hoặc đái tháo đường có nguy cơ mắc tiền đái tháo đường cao gấp 2,69 lần so với người không có tiền căn này Như vậy, tầm soát tiền đái tháo đường cần chú

ý thực hiện ở đối tượng này

Về vận động thể lực, chúng tôi ghi nhận tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường ở nhóm không có chơi hoặc tập luyện thể thao hơn nhóm còn lại (33,3% so với 10,3%) Có sự liên quan giữa việc chơi thể thao và tần suất mắc tiền đái tháo đường (χ2 = 4,508, p=0,034)(RR=3,23) Như vậy, người có lối sống tĩnh tại, không tham gia các hoạt động hoặc tập luyện thể dục có nguy cơ mắc tiền đái tháo đường cao gấp 3,23 lần so với người có tham gia các hoạt động này Như vậy, tầm soát tiền đái tháo đường cần chú

ý thực hiện ở đối tượng này và khuyến khích hơn nữa việc tập thể dục

Về chỉ số khối cơ thể, chúng tôi chưa tìm thấy sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tần suất mắc tiền đái tháo đường và chỉ số khối cơ thể trong nghiên cứu này (γ= -0,03, p=0,901)

Về huyết áp, tần suất nguy cơ mắc tiền đái tháo đường tăng theo tình trạng huyết áp, từ 18,9% ở nhóm người có huyết áp bình thường đến 35,5% ở nhóm người có huyết áp vượt mức bình thường (theo JNC VII) Chưa tìm thấy sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tần suất mắc tiền đái tháo đường và tình trạng huyết áp trong nghiên cứu này (χ2 = 2,378, p=0,123) Tuy nhiên,

do chúng tôi chỉ tiến hành thu nhận các trường hợp không dùng thuốc và trong quần thể

Trang 6

nghiên cứu của chúng tôi đa số là ở mức tiền

tăng huyết áp nên có thể chúng tôi chưa xác

định được mối liên quan giữa tiền đái tháo

đường và tăng huyết áp Điều này cần được

thực hiện trên một nghiên cứu có quy mô hơn

nữa

Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Tính(2), huyết

áp động mạch, chỉ số khối cơ thể và chỉ số vòng

eo/vòng hông của nhóm ĐTĐ và rối loạn dung

nạp glucose đều cao hơn so với nhóm người

bình thường

Khả năng rút ngắn thời gian làm nghiệm

pháp dung nạp glucose

Để so sánh kết quả đo đường huyết mao

mạch tại thời điểm 90 phút và 120 phút, chúng

tôi tính chỉ số kappa khi so sánh kết quả quan

sát tại thời điểm 90 phút và 120 phút là 0,393,

nghĩa là chưa có sự đồng nhất cao về mặt kết

quả chung Do đó, tất cả các kết quả tại thời

điểm 90 phút không thể đại diện cho thời điểm

120 phút được Điều này cũng đã được ghi nhận

trong y văn và nhiều nghiên cứu khác nhau

Tuy nhiên, khi xét riêng các trường hợp được

đánh giá là bình thường ở phút 90, chúng tôi ghi

nhận có 48 đối tượng nghiên cứu có mức đường

huyết trở về bình thường ở thời điểm này, trong

đó có 93,7% (n=45) đạt giá trị bình thường cho

đến khi thực hiện xong nghiệm pháp (phút 120)

Như vậy, có một tỉ lệ cao các trường hợp có giá

trị bình thường ở phút 90 và duy trì đến phút

120 Do đó, ta có thể cân nhắc đến khả năng rút

ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp glucose

từ 120 phút còn 90 phút dành cho các đối tượng

có kết quả bình thường tại thời điểm 90 phút

Điều này có ý nghĩa quan trọng vì nó góp phần

giúp ích cho các nhà nghiên cứu lâm sàng, dịch

tễ học và đối tượng tham gia nghiên cứu Đối

với các nhà nghiên cứu, khi nghiệm pháp được

rút ngắn sẽ góp phần giảm chi phí và thời gian

Trong nghiên cứu này, 49% (n=48) đối tượng

nghiên cứu được đánh giá bình thường ở phút

thứ 90 nên có thể tiết kiệm đến gần 50% chi phí

cho lần thực hiện cuối cùng trong toàn bộ quá

tham gia sẽ giảm bớt được một lần thực hiện một kỹ thuật xâm lấn và gây đau, đồng thời cũng gia tăng sự thoải mái và tiết kiệm thời gian Theo kết quả trên, có đến gần 50% các đối tượng có thể dừng lại tại phút 90 Tuy nhiên, cần

có nhiều nghiên cứu quy mô hơn nữa để xác định thêm về khả năng và phạm vi rút ngắn thời gian thực hiện nghiệm pháp

Chúng tôi cho rằng thời gian 2 giờ cần cho việc thực hiện nghiệm pháp là khá lâu và là một trong những rào cản đối với việc ứng dụng nghiệm pháp này trong khi hiệu quả sàng lọc, tầm soát của nghiệm pháp này là rất tốt Chúng tôi hy vọng khả năng rút ngắn thời gian làm nghiệm pháp này sẽ giúp giảm bớt rào cản trong việc ứng dụng để tầm soát tiền đái tháo đường, góp phần giảm gánh nặng chi phí cho cá nhân và xã hội

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 98 học viên đến thực tập tại Bộ môn sinh lý học – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi rút ra những kết luận sau:

Tần suất rối loạn dung nạp glucose (tiền đái tháo đường) là 26,5%

- Người có tiền căn gia đình có nguy cơ mắc tiền đái tháo đường cao gấp 2.69 lần so với

người không có tiền căn này

- Có sự liên quan giữa việc chơi thể thao và tần suất mắc tiền đái tháo đường Người có lối sống tĩnh tại, không tham gia các hoạt động hoặc tập luyện thể dục có nguy cơ mắc tiền đái tháo đường cao gấp 3.23 lần so với người có tham gia các hoạt động này

- Ghi nhận tần suất này có gia tăng theo tuổi

Có khả năng rút ngắn thời gian thực nghiệm pháp dung nạp glucose dành cho các đối tượng

có kết quả bình thường tại thời điểm 90 phút và

tỉ lệ trường hợp được rút ngắn là 49%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 da Costa Goncalves Torquato MT, Montenegro Junior RM, et al (2003) Prevalence of diabetes mellitus and impaired glucose

Trang 7

2 Đỗ Thị Tính (2004) Tỷ lệ mắc đái tháo đường và giảm dung nạp

glucose tại xã Tân Dân và Thái Sơn huyện An Lão, Hải Phòng

Tạp chí Y học Việt Nam Số tháng 11-2004 Tr 128-132

3 Khatib OMN (2006) Guidelines for the prevention,

management and care of diebetes mellitus WHO Fikra

Advertising Agency, Cairo: 4-7

4 Lê Quang Minh, Phạm Thị Hồng Vân, Nguyễn Minh Tuấn

(2009) Nghiên cứu rối loạn dung nạp Glucose máu và một số

yếu tố liên quan ở các dân tộc tỉnh Bắc Kạn Luận văn thạc sĩ y

học

5 Lê Thị Kim Quý (2010) Tài liệu triển khai dự án phòng chống

đái tháo đường ở thành phố Hồ Chí Minh

6 Levent O, Saniye T, Isilay N, Naim N, Sheher A, Haldun S

(2005) The prevalence of diabetes and impaired glucose

intolerance in Sivas, Central Anatolia, Turkey Diabetes Care

Vol 28: 795-798

7 Meigs JB, et al (2003) The natural history of progession from

normal glucose tolerance to type 2 diabetes in Baltimore

Longitudinal Study of Aging Diabetes Vol 52: 1475-1484

8 New Youth State Departement of Health (2008) Children with

Diabetes – A resource guide for families and schools: 13-14

9 Nguyễn Đỗ Nguyên (2005) Cỡ mẫu Nguyễn Đỗ Nguyên

Phương pháp nghiên cứu khoa học: 34-43

10 Nguyễn Huy Cường, Ruby Trần (2008) Tình trạng tiền đái tháo

đường là gì ?

http://www.daithaoduong.vn/Desktop.aspx/Bai-viet/Tin-tuc/Tinh_trang_tien_dai_thao_duong_la_gi/

11 Phạm Song (2009) Tài liệu hội thảo công bố dự án xã hội hóa

hoạt động truyền thông chương trình mục tiêu quốc gia phòng,

chống bệnh đái tháo đường

12 Quý Nhân (2010) Trẻ em và bệnh đái tháo đường Sức khỏe và

http://suckhoedoisong.vn/20100208091855848p0c10/tre-em-va-benh-dai-thao-duong.htm

13 Sacks DB (2005) Chapter 25 Carbohydrates Carl A.Burtis, Edward R.Ashwood, David E.Bruns TIETZ Textbook of Clinical Chemistry and Molecular Diagnostics, 4 th edition, pp.837-864 Saunders

14 Sở Y Tế Bình Định (2007) Báo cáo tổng kết công tác y tế dự phòng và phòng chống các bệnh xã hội năm 2007 http://www.soytebinhdinh.gov.vn

15 T.Nga (2009) Bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường đang trẻ hóa Sức khỏe và Đời sống, 2009 (26/07), http://suckhoedoisong.vn/20090727033230748p61c67/benh-nhan-mac-benh-dai-thao-duong-dang-tre-hoa.htm

16 Trần Văn Bình (2006) Epidemiology of Diabetes in Viet Nam Method of treatment and preventive measures Hanoi: Medical Publishing House

17 Trung Tâm Dinh Dưỡng thành phố Hồ Chí Minh (2001) 400 thức ăn thông dụng Nhà xuất bản Y học, Tp.HCM: 42-44

18 United State Department of Agriculture, Agricultural Research Service (2005) USDA National Nutrient Database for Standard Reference, Release 18 Nutrient Data Laboratory Home Page, http://www.nal.usda.gov/fnic/foodcomp

19 WHO (2006) Guidelines for the management of hypertension in patients with diebetes mellitus WHO Fikra Advertising Agency, Cairo: 1-6

20 Wild S, Roglic G, Green A, Sicree R, King H (2004) Global Prevalence of Diabetes – Estimates for the year 2000 and projections for 2030 Diabetes Care, 27: 1047-1053

Ngày đăng: 21/01/2020, 12:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w