1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bạo hành giới đối với phụ nữ và các dịch vụ hỗ trợ phòng chống bạo hành gia đình tại Long An, năm 2012

8 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 681,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết nằm tìm hiểu nhận thức của phụ nữ và nam giới về vấn đề bạo hành giới đối với phụ nữ (BHGĐVPN); mô tả các chiến lược và dịch vụ mà phụ nữ sử dụng để phòng chống bạo hành giới; phát hiện rào cản và thuận lợi khi tiếp cận các dịch vụ; cũng như xác định số trường hợp, tỷ lệ và hình thức bạo hành giới đối với phụ nữ ở tỉnh Long An

Trang 1

BẠO HÀNH GIỚI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ   PHÒNG CHỐNG BẠO HÀNH GIA ĐÌNH TẠI LONG AN, NĂM 2012 

Lê Hoàng Ninh*, Phùng Đức Nhật * , Hà Võ Vân Anh * , Nguyễn Nhất Chi Mai * , Điền Ngọc Trang * , 

Nguyễn Thị Tuyết Vân *  

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Mặc dù các trường hợp bạo hành giới đối với phụ nữ được ghi nhận là giảm dần nhưng số ca 

bị bạo hành nghiêm trọng ở tỉnh Long An có chiều hướng gia tăng trong năm 2012. Phụ nữ được xác định là đối  tượng có nguy cơ cao bị bạo hành. Ước tính có khoảng 87% phụ nữ Việt Nam chịu bạo hành gia đình nhưng 

không tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ hành chính hoặc người đứng đầu cơ quan chức năng. 

Mục  tiêu:  Tìm  hiểu  nhận  thức  của  phụ  nữ  và  nam  giới  về  vấn  đề  bạo  hành  giới  đối  với  phụ  nữ 

(BHGĐVPN); mô tả các chiến lược và dịch vụ mà phụ nữ sử dụng để phòng chống bạo hành giới; phát hiện rào  cản và thuận lợi khi tiếp cận các dịch vụ; cũng như xác định số trường hợp, tỷ lệ và hình thức bạo hành giới đối 

với phụ nữ ở tỉnh Long An. 

Phương  pháp  nghiên  cứu: Cắt ngang mô tả, điều tra định lượng tiến hành trên 380 phụ nữ đã lập gia 

đình; kết hợp với phương pháp khảo sát định tính (thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu) trên đối tượng phụ nữ,  nam giới đã lập gia đình và đại diện các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ. 

Kết  quả:  Ở  Long  An,  tỷ  lệ  phụ  nữ  bị  chồng  gây  bạo  hành  thể  chất  trong  suốt  thời  gian  chung  sống  là  6,84%, trong khi tỷ lệ bị bạo hành thể chất hoặc tình dục là 7,01%.  

Kết luận: Tỷ lệ phụ nữ trải qua tình trạng bạo hành gia đình bởi chồng khá thấp ở tỉnh Long An năm 2012. Tuy  nhiên, phần chìm của tảng băng chìm tỷ lệ phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình cần được xem xét cẩn trọng. 

Từ khóa: bạo hành gia đình, giới. 

ABSTRACT 

GENDER‐BASED DOMESTIC VIOLENCE AGAINST WOMEN & SUPPORTIVE SERVICES  

FOR THE PREVENTION AND CONTROL OF DOMESTIC VIOLENCE  

IN LONG AN PROVINCE IN 2012 

Le Hoang Ninh, Phung Duc Nhat, Ha Vo Van Anh, Nguyen Nhat Chi Mai, Dien Ngoc Trang,   Nguyen Thi Tuyet Van * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 15 – 22 

Background: Although the number of reported domestic violence against women cases slightly decreased, 

the number of severe cases saw an upward trend in Long An province in 2012. Women are regarded as the group  that bears a high risk of domestic violence. It was estimated that 87% of Vietnamese women who suffered from  domestic violence never sought assistance from administrative services or the authority.  

Objectives:  To understand the perception of women and of men with regard to domestic violence against 

women  (DVAW);  to  describe  strategies  and  services  women  used  to  prevent  and  control  DVAW;  to  explore  barriers  and  advantages  of  access  to  these  services;  and  to  determine  the  prevalence,  frequencies  and  forms  of 

FVAW in Long An province.  

Methods:  A  cross‐sectional  study  on  380  married  women,  combined  with  qualitative  study  (group 

discussion and in‐depth interviews) on married men and women, and key informants.  

* Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: Ths. Phùng Đức Nhật  ĐT: 0918103404  Email: phungducnhatihph@gmail.com 

Trang 2

overall prevalence rate of lifetime physical or sexual violence by husband is 7.01%.  

Conclusion:  The  prevalence  rates  of  women  experiencing  forms  of  domestic  violence  by  husbands  were 

relatively  low  in  Long  An  province  in  2012.  However,  the  ‘iceberg’  prevalence  rates  of  women  experiencing  domestic violence should be taken into careful account.  

Keywords: domestic violence, gender. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Long  An  thuộc  khu  vực  Đồng  Bằng  Sông 

Cửu Long. Phần lớn là đất nông nghiệp mặc dù 

công nghiệp đang phát triển nhanh chóng trong 

thời gian gần đây (21 khu công nghiệp được đặt 

ở  6  quận)(1).  Những  thay  đổi  từ  nền  kinh  tế 

thuần  nông  nghiệp  sang  nền  kinh  tế  kết  hợp 

giữa  nông  nghiệp  và  công  nghiệp,  bao  gồm 

những  ngành  công  nghiệp  và  dịch  vụ  hiện  đại 

hơn có thể ảnh hưởng đến cấu trúc xã hội về sự 

phân  công  lao  động  theo  giới  trong  gia  đình(4). 

Điều đó thách thức các chuẩn mực truyền thống 

của sự lao động phân chia theo giới trong công 

việc  gia  đình,  từ  đó  có  thể  tạo  ra  nhiều  cơ  hội 

làm việc bên ngoài cho phụ nữ. Năm 2008, đã có 

293  trường  hợp  bạo  hành  gia  đình  tại  toà  án 

được ước tính(1). Các nhà chức trách đang đưa ra 

và giải quyết vấn đề này khi ban hành kế hoạch 

ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình tỉnh 

trong  giai  đoạn  2009  –  2015  tại  Long  An(4). 

Những  người  phụ  nữ  được  đề  cập  như  dân  số 

có  nguy  cơ  trong  bạo  hành  gia  đình  tại  Long 

An(2). Đến cuối năm 2011, đã có 162 xã thực hiện 

các  mô  hình  can  thiệp  phòng,  chống  và  kiểm 

soát bạo hành gia đình tại Việt Nam (Bộ Văn hoá 

Thể  thao  và  Du  lịch  theo  trích  dẫn  của  Lê  Thị 

Hồng  Hạnh  2011)(3).  Dù  số  lượng  các  trường 

hợp  bạo  hành  gia  đình  được  báo  cáo  có  tăng 

nhẹ,  số  lượng  trường  hợp  bạo  hành  gia  đình 

nghiêm  trọng  có  xu  hướng  gia  tăng  tại  Long 

An(5). Điều đó đưa ra giả thuyết rằng có những 

chênh  lệch  giữa  văn  hoá  bạo  hành  theo  khuôn 

khổ gia đình áp đặt vào phụ nữ và mô hình can 

thiệp ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình 

tại  Long  An.  Nghiên  cứu  sẽ  giải  quyết  những 

câu hỏi cơ bản và cung cấp các bằng chứng thiết 

thực cho việc hoạch định và thực hiện các chính 

sách liên quan đến ngăn chặn và kiểm soát bạo  hành gia đình đối với phụ nữ ở tỉnh Long An. 

Mục tiêu 

1.  Tìm  hiểu  nhận  thức  của  phụ  nữ  và  nam  giới  về  bạo  hành  giới  đối  với  phụ  nữ  tại  tỉnh  Long An.  

2. Mô tả các chiến lược và dịch vụ phụ nữ sử  dụng để ngăn chặn và kiểm soát bạo hành giới  đối với phụ nữ tại tỉnh Long An.  

3. Tìm hiểu những rào cản và thuận lợi trong  việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ quản 

lý trong phòng, chống bạo hành giới đối với phụ 

nữ tại tỉnh Long An. 

4. Xác định tỷ lệ, tần số và các hình thức bạo  hành giới đối với phụ nữ tại tỉnh Long An: các  hình  thức  bạo  hành  thể  chất,  tình  dục,  tâm  lý,  kinh  tế  từ  bất  kỳ  thủ  phạm  nào  trong  gia  đình  của họ. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính  Nghiên  cứu  định  lượng:  cắt  ngang  mô  tả,  tiến hành trên 380 phụ nữ đã lập gia đình, tuổi  18‐60. 

Nghiên  cứu  định  tính:  thảo  luận  nhóm  tập  trung đối với nhóm nam giới đã lập gia đình và  thực  hiện  phỏng  vấn  sâu  đối  với  đại  diện  các  dịch vụ hỗ trợ phụ nữ. 

Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu  

Bộ  câu  hỏi  sử  dụng  cho  nghiên  cứu  định  lượng được xây dựng và chỉnh sửa cho phù hợp 

từ  nghiên  cứu  quốc  gia  của  Việt  Nam  về  bạo  hành giới đối với phụ nữ năm 2010(5). 

Trang 3

Bạo hành thể chất và tình dục 

Bảng 1: Tỷ lệ phụ nữ bị chồng bạo hành, ở tỉnh Long 

An, năm 2012 (n=380) 

Hình thức bạo hành

Bạo hành thể

chất (n,%) Bạo hành tình dục (n,%) Bạo hành thể chất hoặc tình dục (n,%)

26 (6,84%) 9 (2,36%) 27 (7,01%)

Theo nghiên cứu quốc gia về bạo hành giới  đối  với  phụ  nữ  năm  2010,  tỷ  lệ  phụ  nữ  bị  bạo  hành  thể  chất  hoặc tình dục  là  chỉ tố  chính đặc  trưng cho vấn đề bạo hành giới vì nó dễ dàng đo  lường  hơn  bạo  hành  tâm  lý.  Tỷ  lệ  phụ  nữ  bị  chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục là 7,01% 

(27 phụ nữ). 

Bạo hành thể chất 

Bảng 2:Số trường hợp phụ nữ bị bạo hành thể chất trong suốt thời gian sống chung với chồng ở khu vực thành thị 

Thành thị (n=210) Một lần Nhiều lần (vài lần/ thường xuyên) Không nhớ/ Không trả lời Không bao giờ

Dùng tay hoặc các vật khác để

Đe dọa hoặc sử dụng súng, dao

Đa  số  phụ  nữ  sống  ở  khu  vực  thành  thị 

không  bị  chồng  gây  bạo  hành  thể  chất.  Tuy 

nhiên, việc phát hiện các trường hợp bị bạo hành 

thể chất là rất cần thiết. So với các hình thức bạo 

hành  khác  được  liệt  kê  thì  có  2  phụ  nữ  sống  ở  khu  vực  thành  thị  bị  tát  hoặc  ném  đồ  vật  vào  người một lần, 8 phụ nữ bị vài lần. 

Bảng 3:Tỉ lệ các hành vi bạo hành thể chất phụ nữ từng gặp phải trong đời 

Nông thôn (n=170) Một lần

Nhiều lần (vài lần/ thường xuyên) Không nhớ/ Không trả lời Không bao giờ

Dùng tay hoặc các vật khác để gây

Đe dọa hoặc sử dụng súng, dao hoặc

Tương  tự  như  ở  khu  vực  thành  thị,  đa  số 

phụ nữ ở vùng nông thôn bị tát hoặc ném đồ vật 

vào người (7 người cho biết từng trải qua 1 lần, 4 

người từng trải qua nhiều lần). 

Trong  nghiên  cứu  định  tính,  đặc  biệt  trong 

các phỏng vấn với người đại diện dịch vụ hỗ trợ 

phụ  nữ  thì  bạo  hành  giới  đối  với  phụ  nữ  được 

định  nghĩa  đơn  thuần  chỉ  là  bạo  hành  thể  chất 

“Có một số ít trường hợp xảy ra thôi, chỉ là vài  ông chồng la hét lúc say rượu và gây mất trật tự. 

Không có trường hợp nào dùng tay hoặc vũ khí 

để gây chấn thương” – một người đại diện dịch 

vụ hỗ trợ phụ nữ ở khu vực nông thôn cho biết  khi  được  phỏng  vấn  về  tỷ  lệ  bạo  hành  giới  đối  với  phụ  nữ  ở  địa  phương.  “Những  năm  trước  đây,  tôi  có  thấy  nhiều  ông  chồng  đánh  vợ 

Trang 4

xã điều trị. Họ bị đánh, đấm bầm dập cả người, 

thậm  chí  là  dùng  cây  sào  bằng  gỗ  để  đánh  rất 

tàn nhẫn” – một đại diện dịch vụ hỗ trợ phụ nữ 

ở  vùng  nông  thôn  trả  lời  tương  tự  khi  được  phỏng vấn về tỷ lệ bạo hành giới đối với phụ nữ 

ở địa phương.  

Bạo hành tình dục 

Hình 1:Số trường hợp phụ nữ bị bạo hành tình dục ở vùng nông thôn và thành thị (n=380) 

Hình  1  cho  thấy  số  trường  hợp  phụ  nữ  ở 

Long  An  từng  trải  qua  ba  hình  thức  bạo  hành 

tình dục ở vùng thành thị cao hơn so với ở vùng 

nông thôn. Các trường hợp trả lời là không nhớ 

hoặc không muốn trả lời ba câu hỏi trên khá cao, 

đặc biệt đối với vấn đề ép quan hệ tình dục. Các 

thảo  luận  nhóm  nam  và  nữ  cho  thấy  việc  ép 

quan hệ tình dục khi người nữ không đồng ý là 

lạm  dụng  tình  dục  và  không  thể  chấp  nhận 

trong  xã  hội.  “Điều  đó  là  không  tôn  trọng  phụ 

nữ,  đổ  lỗi  cho  việc  uống  rượu  say  cũng  không 

chấp  nhận  được.  Nó  xuất  phát  từ  đạo  đức  của 

người gây bạo hành thôi. Người đó làm như vậy 

là  như  người  ngoài  rồi.  Đó  là  điều  tệ  hại  nhất  trong  xã  hội…”.  Trường  hợp  khác  được  ghi  nhận từ người cung cấp dịch vụ ở trạm y tế tại  vùng thành thị “Tôi biết là có nhiều vụ bạo hành  gia đình đã xảy ra. Phụ nữ bị bạo hành như là… 

bị đánh, đấm, bạo hành tình dục thường xảy ra ở  nhà.  Việc  từ  chối  quan  hệ  sẽ  dẫn  đến  bị  đánh  đập, đá vào bộ phận sinh dục cho tới khi nó bị  bầm tím. Có một phụ nữ đến đây và bị như thế,  nếu không tận mắt chứng kiến bạn sẽ không tin  đâu. Bộ phận sinh dục bị nhét cỏ khô vào khi cô 

ấy đến gặp bác sĩ, nó bốc mùi lên ghê lắm…”  

Trang 5

Hình 2:Số trường hợp phụ nữ bị bạo hành tâm lý bởi chồng (n=380) 

Ở khu vực thành thị và nông thôn, đa số phụ 

nữ chưa từng trải qua 4 dạng bạo hành tâm lý. 

Tuy  nhiên,  cũng  có  một  số  trường  hợp  bị  bạo 

hành tâm lý ít nhất một lần trong đời ở hai khu 

vực thành thị và nông thôn. Thực vậy, số trường 

hợp bị sỉ nhục, hoặc làm cho cảm thấy tội lỗi, vô 

dụng, xấu xí, ngu ngốc thì cao nhất ở cả hai khu 

vực (24 ca trên tổng số). Trong nghiên cứu định 

tính, bạo hành tâm lý có liên quan đến sức khỏe 

tâm lý. Điều đáng chú ý là một số người đại diện 

dịch vụ hỗ trợ phụ nữ nghĩ rằng bạo hành tâm 

lý ít gây hậu quả cho phụ nữ.  

Trong  nghiên  cứu  định  tính,  vấn  đề  ngược 

đãi tâm lý có liên quan tới sức khỏe tâm lý. Cần 

được lưu ý rằng những thông tin chủ chốt trong 

phỏng vấn có thể được cho là bạo hành tâm lý ít 

có hậu quả đối với phụ nữ, xem như là sự đau 

buồn và sự phiện muộn. “ Ngược đãi tâm lý, ví 

dụ  như  một  người  đàn  ông  và  một  người  đàn 

bà, hai trong số họ không thể mạnh dạn và nói 

chuyện với nhau; cho nên họ cảm thấy thất vọng 

và buồn trong tâm trí họ, khiến tâm trí họ hoang 

mang, căng thẳng và buồn bã, thất vọng. Đó là 

vậy.  Nhưng  họ  không  phải  là  đa  số.  Chỉ  thỉnh  thoảng khi uống rượu” 

Bạo hành kinh tế 

Bảng 4:Tỷ lệ phụ nữ bị chống từ chối đưa tiền để chi  tiền cho gia đình (n=380) 

Từ chối đóng góp tài chính để chi

tiêu gia đình Số trường hợp %

Không có thu nhập/tiết kiệm 1 0.26

Từ chối/ Không muốn trả lời 19 5.00

Đáng lưu ý là có 17 phụ nữ (3,5%) bị chồng 

từ chối cấp tiền cho chi tiêu gia đình nhiều lần. 

Trong  nghiên  cứu  định  tính,  bạo  hành  kinh  tế  được  định  nghĩa  như  một  phần  của  bạo  hành  tâm  lý.  Chồng  từ  chối  đưa  tiền  cho  vợ  chi  tiêu  cho  gia  đình  được  định  nghĩa  là  bạo  hành  tâm 

lý. Theo một thông tin quan trọng: “Trường hợp  bạo  hành  mà  những  người  chồng  độc  tài  khắt  khe, không cấp tiền cho vợ của họ và các hỗ trợ  tài  chính  khác  được  xem  là  bạo  hành  tâm  lý”. 

Trang 6

suy nghĩ không đưa tiền cho họ của đàn ông là 

không cấp nhận được. “Đó không thể chấp nhận 

được. Đưa tiền để đưa con ăn học. Không đưa,  không đồng ý.” – Một người phụ nữ phản ứng  lại.  

Những dịch vụ hỗ trợ cho phụ nữ, ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình đối với phụ nữ 

 

Hình 3:Tần suất những người hỗ trợ được phụ nữ kể về tình trạng của họ (liên quan đến bạo lực thể xác hoặc 

tình dục) và tần suất những người đó có gắng giúp họ (n=27) 

Có nhiều trường hợp không được báo cáo về 

bạo hành thể chất hay bạo hành tình dục lên văn 

phòng chính phủ, lãnh đạo địa phương, bác sĩ và 

các  nhà  chính  trị.  Người  được  hỏi  cho  rằng 

không ai trong số lãnh đạo địa phương từng cố 

gắng giúp đỡ họ. 

Bảng 5:Lý do phụ nữ không tìm kiếm sự giúp đỡ ở 

Long An, 2012. 

Thành thị (n=15)

Nông thôn (n=12)

Lý do không tìm kiếm giúp đỡ

Trường hợp (%)

Trường hợp (%)

Không biết 2 (13,335) 4 (33,33)

Sợ đe dọa/ hậu quả 2 (13,33) 3 (25)

Bạo hành thông thường/ Không

nguy hiểm 2 (13,33) 0

Tin rằng không có sự giúp đỡ 0 0

Sợ sẽ kết thúc mối quan hệ 0 1 (8,33)

Sợ mất con 2 (13,33) 2 (16,67)

Mang tiếng xấu cho gia đình 3 (20) 3 (25)

Không có trường hợp nào cho rằng các dịch 

vụ xã hội không giúp được gì. Ví dụ, trung tâm 

y tế cấp xã chuyên về chăm sóc sức khỏe; do đó  việc ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình  đối  với  phụ  nữ  được  xem  là  ngoài  khả  năng. 

“Trung  tâm  y  tế  cấp  xã,  quản  lý  khu  vực…  không tham  gia  vào  vấn  đề  bạo hành  gia  đình, 

về các vấn đề này… lên trung tâm y tế xã…. Nạn  nhân  của  bạo  hành  gia  đình  đến  đây…  trung  tâm  sẽ  giải  quyết  hậu  quả  của  nó”.  Chiến  lược  can  thiệp  các  trường  hợp  bạo  hành  gia  đình  từ  Hội  phụ  nữ  bị  giới  hạn  trong  việc  tiếp  cận  thủ  phạm  nam.  “Nhưng  chúng  tôi  không  tiếp  cận  nhiều thủ phạm nam bởi vì chúng tôi không thể  khuyên bảo họ. Những lời khuyên nên được can  thiệp với hiệp hội Nông dân bởi vì việc tiếp cận  với  thủ  phạm  nan  là  khó  khăn”  –  Một  người  cung cấp thông tin quan trọng trong Hội Phụ nữ  cho biết. 

Có vài thuận lợi trong việc tiếp cận các dịch 

vụ này cho phụ nữ. Những mối quan hệ nhóm,  hội hay các cơ sở chính quyền địa phương khác 

Trang 7

rất  là  gần  gũi,  cho  nên  những  phụ  nữ  là  nạn 

nhân  của  bạo  hành  nhận  được  nhiều  sự  hỗ  trợ 

nếu  họ  nhờ  giúp  đỡ  từ  một  trong  các  tổ  chức 

này.  “Nhìn  chung,  có  mối  quan  hệ  rất  gần  gũi 

giữa các cơ sở ở đây. Ở cấp thấp nhất, có sự hiện 

diện  của  thành  viên  Hội  Phụ  nữ  trong  xóm, 

chúng  tôi  sẽ  chia  ra  thành  các  nhóm  nhỏ  trong 

xóm. Sẽ có lãnh đạo cho các nhóm nhỏ này, và 

Hội  Phụ  Nữ  sẽ  là đại  diện  chủ  chốt.  Ở  cấp  cao 

hơn, đó  là  tôi.  Nếu  có  bất kỳ  vấn  đề  gì  ở  trong 

các  nhóm  nhỏ  trong  xóm,  tôi  sẽ  tổ  chức  huấn 

luyện  cho  các  thành  viên  này.  Hội  sẽ  họp  hàng 

tháng vào ngày 27. Các cuộc họp sẽ thảo luận về 

vấn đề phát sinh trong xóm, cho nên nếu có vấn 

đề gì sai, tôi sẽ hỏi thăm và giải quyết…” – Một 

người cung cấp thông tin quan trọng trong Hội 

Phụ nữ cho biết. 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 

Tỷ lệ phụ nữ trải qua tình trạng bạo hành gia 

đình  bởi  chồng  khá  thấp  ở  tỉnh  Long  An  năm 

2012.  Đó  có  thể  là  kết  quả  của  kế  hoạch  hành 

động  trong  việc  ngăn  chặn  và  kiểm  soát  bạo 

hành gia đình đối với phụ nữ được quản lý bởi 

chính  quyền  địa  phương  hay  các  nhóm  quan 

trọng khác: Hội Phụ nữ, công an, Hội nông dân 

và các cơ sở quần chúng khác. Tuy nhiên, phần 

chìm  của  tảng  băng  chìm  tỷ  lệ  phụ  nữ  là  nạn 

nhân  của  bạo  hành  gia  đình  cần  được  xem  xét 

cẩn trọng  

Kiến nghị 1 

Tập huấn cho cộng tác viên: Nguồn nhân lực 

cho kế hoạch hành động trong việc ngăn chặn và 

kiểm  soát  bạo  hành  gia  đình  trên  phụ  nữ  nên 

được  ưu  tiên  để  duy  trì  kết  quả  đạt  được  từ 

chính quyền địa phương. Một hoàn cảnh thực tế 

là  nguồn  nhân  lực  làm  việc  trong  các  nhóm  hỗ 

trợ  cho  phụ  nữ  và  bạo  hành  gia  đình  không 

được đào tạo đầy đủ cho công việc của họ. Tập 

huấn  được  yêu  cầu  tại  tất  cả  các  khu  vực  thích  hợp,  không  chỉ  Hội  Phụ  nữ.  Tập  huấn  cho  các  nhân  viên  nhà  nước  phụ  trách  hỗ  trợ  các  nạn  nhân  bạo  hành  gia  đình  có  thể  phát  triển  kinh  nghiệm của họ trong lĩnh vực bạo hành gia đình 

và giúp họ tiếp cận với phụ nữ 1 cách hiệu quả.  Tập huấn chú trọng đến lực lượng công vụ, Hội  nông dân, Đoàn thanh niên, tòa án, lãnh đạo địa  phương và nhân viên y tế tại địa phương. 

Kiến nghị 2 

Sự  tham  gia  của  các  phương  tiện  truyền  thông  đại  chúng:  Chính  quyền  địa  phương  tại  tỉnh Long An thành công trong việc phát thanh 

về vấn đề và tư vấn về luật có liên quan đến bạo  hành  gia  đình  qua  các  phương  tiện  đại  chúng,  bao gồm radio, ti vi và tuyên truyền bằng miệng 

là chủ yếu. Điều này có thể hạn chế ảnh hưởng  tiêu  cực  từ  tập  quán  và  phân  biệt  về  bạo  hành  gia đình đối với phụ nữ.  

Kiến nghị 3 

Can thiệp sớm cho nam giới: Các chiến lược  ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình trên  phụ  nữ  ở  tỉnh  Long  An  thiếu  sự  tác  động  sớm  trong việc can thiệp trực tiếp vào nam giới. Việc 

tổ  chức  các  nhóm  nam  giới  hoạt  động  về  việc  ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình tại các  cấp  địa  phương,  cùng  với  huấn  luyện  nguồn  nhân  lực  triển  vọng  này  sẽ  ảnh  hưởng  tích  cực  không chỉ đến các thủ phạm là nam giới mà cả  nạn nhân nam và nữ trong bạo hành gia đình. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Cổng  thông  tin  điện  tử  Long  An  (2009).  Cam  kết  kế  hoạch  hành  động  phòng  chống  và  kiểm  soát  bạo  lực  gia  đình  giai 

http://www.longan.gov.vn/tintuc/Pages/200909/200909291422 45.aspx  Truy cập ngày 12/2/2012. 

2 Lê Ba (2009). Bạo lực gia đình và giải pháp: Thông cáo báo chí. 

http://www.longan.gov.vn/tintuc/Pages/200901/200901200905 15.aspx  Truy cập ngày 12/2/2012. 

Trang 8

itepageid=30  Truy cập ngày 13/2/2012. 

4 Liên  Hiệp  quốc  (2008).  Dân  số  học  và  xu  hướng  xã  hội  ảnh 

hưởng  gia  đình  khu  vực  Nam  và  Trung  Á. 

http://www.un.org/esa/socdev/family/Publications/mtde 

silva.pdf  Truy cập ngày 12/2/2012  

5 Mỹ  Duyên  (2012).  Tổng  kết  hiệu  quả  4  năm  chiến  dịch  phòng 

chống và kiểm soát bạo lực gia đình tại Long An. Thông  cáo báo 

http://www.longan.gov.vn/chinhquyen/sovhtt/Pages/4NamT

hucHienPhongChongBaoLucGiaDinh.aspx   Truy  cập  ngày 

13/2/2012.  

6 Tổng cục thống kê (GSO) (2010). ʹGiữ im lặng là chếtʹ: Kết quả từ  Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam. 

http://www.gso.gov.vn/default_en.aspx?tabid=487&ItemID=1

0693  Truy cập ngày 5/2/2012. 

 

Ngày nhận bài báo:       15/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   17/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 11:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w