Nội dung bài viết nằm tìm hiểu nhận thức của phụ nữ và nam giới về vấn đề bạo hành giới đối với phụ nữ (BHGĐVPN); mô tả các chiến lược và dịch vụ mà phụ nữ sử dụng để phòng chống bạo hành giới; phát hiện rào cản và thuận lợi khi tiếp cận các dịch vụ; cũng như xác định số trường hợp, tỷ lệ và hình thức bạo hành giới đối với phụ nữ ở tỉnh Long An
Trang 1BẠO HÀNH GIỚI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ VÀ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ PHÒNG CHỐNG BẠO HÀNH GIA ĐÌNH TẠI LONG AN, NĂM 2012
Lê Hoàng Ninh*, Phùng Đức Nhật * , Hà Võ Vân Anh * , Nguyễn Nhất Chi Mai * , Điền Ngọc Trang * ,
Nguyễn Thị Tuyết Vân *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Mặc dù các trường hợp bạo hành giới đối với phụ nữ được ghi nhận là giảm dần nhưng số ca
bị bạo hành nghiêm trọng ở tỉnh Long An có chiều hướng gia tăng trong năm 2012. Phụ nữ được xác định là đối tượng có nguy cơ cao bị bạo hành. Ước tính có khoảng 87% phụ nữ Việt Nam chịu bạo hành gia đình nhưng
không tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ hành chính hoặc người đứng đầu cơ quan chức năng.
Mục tiêu: Tìm hiểu nhận thức của phụ nữ và nam giới về vấn đề bạo hành giới đối với phụ nữ
(BHGĐVPN); mô tả các chiến lược và dịch vụ mà phụ nữ sử dụng để phòng chống bạo hành giới; phát hiện rào cản và thuận lợi khi tiếp cận các dịch vụ; cũng như xác định số trường hợp, tỷ lệ và hình thức bạo hành giới đối
với phụ nữ ở tỉnh Long An.
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, điều tra định lượng tiến hành trên 380 phụ nữ đã lập gia
đình; kết hợp với phương pháp khảo sát định tính (thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu) trên đối tượng phụ nữ, nam giới đã lập gia đình và đại diện các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ.
Kết quả: Ở Long An, tỷ lệ phụ nữ bị chồng gây bạo hành thể chất trong suốt thời gian chung sống là 6,84%, trong khi tỷ lệ bị bạo hành thể chất hoặc tình dục là 7,01%.
Kết luận: Tỷ lệ phụ nữ trải qua tình trạng bạo hành gia đình bởi chồng khá thấp ở tỉnh Long An năm 2012. Tuy nhiên, phần chìm của tảng băng chìm tỷ lệ phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình cần được xem xét cẩn trọng.
Từ khóa: bạo hành gia đình, giới.
ABSTRACT
GENDER‐BASED DOMESTIC VIOLENCE AGAINST WOMEN & SUPPORTIVE SERVICES
FOR THE PREVENTION AND CONTROL OF DOMESTIC VIOLENCE
IN LONG AN PROVINCE IN 2012
Le Hoang Ninh, Phung Duc Nhat, Ha Vo Van Anh, Nguyen Nhat Chi Mai, Dien Ngoc Trang, Nguyen Thi Tuyet Van * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 15 – 22
Background: Although the number of reported domestic violence against women cases slightly decreased,
the number of severe cases saw an upward trend in Long An province in 2012. Women are regarded as the group that bears a high risk of domestic violence. It was estimated that 87% of Vietnamese women who suffered from domestic violence never sought assistance from administrative services or the authority.
Objectives: To understand the perception of women and of men with regard to domestic violence against
women (DVAW); to describe strategies and services women used to prevent and control DVAW; to explore barriers and advantages of access to these services; and to determine the prevalence, frequencies and forms of
FVAW in Long An province.
Methods: A cross‐sectional study on 380 married women, combined with qualitative study (group
discussion and in‐depth interviews) on married men and women, and key informants.
* Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: Ths. Phùng Đức Nhật ĐT: 0918103404 Email: phungducnhatihph@gmail.com
Trang 2overall prevalence rate of lifetime physical or sexual violence by husband is 7.01%.
Conclusion: The prevalence rates of women experiencing forms of domestic violence by husbands were
relatively low in Long An province in 2012. However, the ‘iceberg’ prevalence rates of women experiencing domestic violence should be taken into careful account.
Keywords: domestic violence, gender.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Long An thuộc khu vực Đồng Bằng Sông
Cửu Long. Phần lớn là đất nông nghiệp mặc dù
công nghiệp đang phát triển nhanh chóng trong
thời gian gần đây (21 khu công nghiệp được đặt
ở 6 quận)(1). Những thay đổi từ nền kinh tế
thuần nông nghiệp sang nền kinh tế kết hợp
giữa nông nghiệp và công nghiệp, bao gồm
những ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại
hơn có thể ảnh hưởng đến cấu trúc xã hội về sự
phân công lao động theo giới trong gia đình(4).
Điều đó thách thức các chuẩn mực truyền thống
của sự lao động phân chia theo giới trong công
việc gia đình, từ đó có thể tạo ra nhiều cơ hội
làm việc bên ngoài cho phụ nữ. Năm 2008, đã có
293 trường hợp bạo hành gia đình tại toà án
được ước tính(1). Các nhà chức trách đang đưa ra
và giải quyết vấn đề này khi ban hành kế hoạch
ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình tỉnh
trong giai đoạn 2009 – 2015 tại Long An(4).
Những người phụ nữ được đề cập như dân số
có nguy cơ trong bạo hành gia đình tại Long
An(2). Đến cuối năm 2011, đã có 162 xã thực hiện
các mô hình can thiệp phòng, chống và kiểm
soát bạo hành gia đình tại Việt Nam (Bộ Văn hoá
Thể thao và Du lịch theo trích dẫn của Lê Thị
Hồng Hạnh 2011)(3). Dù số lượng các trường
hợp bạo hành gia đình được báo cáo có tăng
nhẹ, số lượng trường hợp bạo hành gia đình
nghiêm trọng có xu hướng gia tăng tại Long
An(5). Điều đó đưa ra giả thuyết rằng có những
chênh lệch giữa văn hoá bạo hành theo khuôn
khổ gia đình áp đặt vào phụ nữ và mô hình can
thiệp ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình
tại Long An. Nghiên cứu sẽ giải quyết những
câu hỏi cơ bản và cung cấp các bằng chứng thiết
thực cho việc hoạch định và thực hiện các chính
sách liên quan đến ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình đối với phụ nữ ở tỉnh Long An.
Mục tiêu
1. Tìm hiểu nhận thức của phụ nữ và nam giới về bạo hành giới đối với phụ nữ tại tỉnh Long An.
2. Mô tả các chiến lược và dịch vụ phụ nữ sử dụng để ngăn chặn và kiểm soát bạo hành giới đối với phụ nữ tại tỉnh Long An.
3. Tìm hiểu những rào cản và thuận lợi trong việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ quản
lý trong phòng, chống bạo hành giới đối với phụ
nữ tại tỉnh Long An.
4. Xác định tỷ lệ, tần số và các hình thức bạo hành giới đối với phụ nữ tại tỉnh Long An: các hình thức bạo hành thể chất, tình dục, tâm lý, kinh tế từ bất kỳ thủ phạm nào trong gia đình của họ.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng: cắt ngang mô tả, tiến hành trên 380 phụ nữ đã lập gia đình, tuổi 18‐60.
Nghiên cứu định tính: thảo luận nhóm tập trung đối với nhóm nam giới đã lập gia đình và thực hiện phỏng vấn sâu đối với đại diện các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ.
Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi sử dụng cho nghiên cứu định lượng được xây dựng và chỉnh sửa cho phù hợp
từ nghiên cứu quốc gia của Việt Nam về bạo hành giới đối với phụ nữ năm 2010(5).
Trang 3Bạo hành thể chất và tình dục
Bảng 1: Tỷ lệ phụ nữ bị chồng bạo hành, ở tỉnh Long
An, năm 2012 (n=380)
Hình thức bạo hành
Bạo hành thể
chất (n,%) Bạo hành tình dục (n,%) Bạo hành thể chất hoặc tình dục (n,%)
26 (6,84%) 9 (2,36%) 27 (7,01%)
Theo nghiên cứu quốc gia về bạo hành giới đối với phụ nữ năm 2010, tỷ lệ phụ nữ bị bạo hành thể chất hoặc tình dục là chỉ tố chính đặc trưng cho vấn đề bạo hành giới vì nó dễ dàng đo lường hơn bạo hành tâm lý. Tỷ lệ phụ nữ bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục là 7,01%
(27 phụ nữ).
Bạo hành thể chất
Bảng 2:Số trường hợp phụ nữ bị bạo hành thể chất trong suốt thời gian sống chung với chồng ở khu vực thành thị
Thành thị (n=210) Một lần Nhiều lần (vài lần/ thường xuyên) Không nhớ/ Không trả lời Không bao giờ
Dùng tay hoặc các vật khác để
Đe dọa hoặc sử dụng súng, dao
Đa số phụ nữ sống ở khu vực thành thị
không bị chồng gây bạo hành thể chất. Tuy
nhiên, việc phát hiện các trường hợp bị bạo hành
thể chất là rất cần thiết. So với các hình thức bạo
hành khác được liệt kê thì có 2 phụ nữ sống ở khu vực thành thị bị tát hoặc ném đồ vật vào người một lần, 8 phụ nữ bị vài lần.
Bảng 3:Tỉ lệ các hành vi bạo hành thể chất phụ nữ từng gặp phải trong đời
Nông thôn (n=170) Một lần
Nhiều lần (vài lần/ thường xuyên) Không nhớ/ Không trả lời Không bao giờ
Dùng tay hoặc các vật khác để gây
Đe dọa hoặc sử dụng súng, dao hoặc
Tương tự như ở khu vực thành thị, đa số
phụ nữ ở vùng nông thôn bị tát hoặc ném đồ vật
vào người (7 người cho biết từng trải qua 1 lần, 4
người từng trải qua nhiều lần).
Trong nghiên cứu định tính, đặc biệt trong
các phỏng vấn với người đại diện dịch vụ hỗ trợ
phụ nữ thì bạo hành giới đối với phụ nữ được
định nghĩa đơn thuần chỉ là bạo hành thể chất
“Có một số ít trường hợp xảy ra thôi, chỉ là vài ông chồng la hét lúc say rượu và gây mất trật tự.
Không có trường hợp nào dùng tay hoặc vũ khí
để gây chấn thương” – một người đại diện dịch
vụ hỗ trợ phụ nữ ở khu vực nông thôn cho biết khi được phỏng vấn về tỷ lệ bạo hành giới đối với phụ nữ ở địa phương. “Những năm trước đây, tôi có thấy nhiều ông chồng đánh vợ
Trang 4xã điều trị. Họ bị đánh, đấm bầm dập cả người,
thậm chí là dùng cây sào bằng gỗ để đánh rất
tàn nhẫn” – một đại diện dịch vụ hỗ trợ phụ nữ
ở vùng nông thôn trả lời tương tự khi được phỏng vấn về tỷ lệ bạo hành giới đối với phụ nữ
ở địa phương.
Bạo hành tình dục
Hình 1:Số trường hợp phụ nữ bị bạo hành tình dục ở vùng nông thôn và thành thị (n=380)
Hình 1 cho thấy số trường hợp phụ nữ ở
Long An từng trải qua ba hình thức bạo hành
tình dục ở vùng thành thị cao hơn so với ở vùng
nông thôn. Các trường hợp trả lời là không nhớ
hoặc không muốn trả lời ba câu hỏi trên khá cao,
đặc biệt đối với vấn đề ép quan hệ tình dục. Các
thảo luận nhóm nam và nữ cho thấy việc ép
quan hệ tình dục khi người nữ không đồng ý là
lạm dụng tình dục và không thể chấp nhận
trong xã hội. “Điều đó là không tôn trọng phụ
nữ, đổ lỗi cho việc uống rượu say cũng không
chấp nhận được. Nó xuất phát từ đạo đức của
người gây bạo hành thôi. Người đó làm như vậy
là như người ngoài rồi. Đó là điều tệ hại nhất trong xã hội…”. Trường hợp khác được ghi nhận từ người cung cấp dịch vụ ở trạm y tế tại vùng thành thị “Tôi biết là có nhiều vụ bạo hành gia đình đã xảy ra. Phụ nữ bị bạo hành như là…
bị đánh, đấm, bạo hành tình dục thường xảy ra ở nhà. Việc từ chối quan hệ sẽ dẫn đến bị đánh đập, đá vào bộ phận sinh dục cho tới khi nó bị bầm tím. Có một phụ nữ đến đây và bị như thế, nếu không tận mắt chứng kiến bạn sẽ không tin đâu. Bộ phận sinh dục bị nhét cỏ khô vào khi cô
ấy đến gặp bác sĩ, nó bốc mùi lên ghê lắm…”
Trang 5Hình 2:Số trường hợp phụ nữ bị bạo hành tâm lý bởi chồng (n=380)
Ở khu vực thành thị và nông thôn, đa số phụ
nữ chưa từng trải qua 4 dạng bạo hành tâm lý.
Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp bị bạo
hành tâm lý ít nhất một lần trong đời ở hai khu
vực thành thị và nông thôn. Thực vậy, số trường
hợp bị sỉ nhục, hoặc làm cho cảm thấy tội lỗi, vô
dụng, xấu xí, ngu ngốc thì cao nhất ở cả hai khu
vực (24 ca trên tổng số). Trong nghiên cứu định
tính, bạo hành tâm lý có liên quan đến sức khỏe
tâm lý. Điều đáng chú ý là một số người đại diện
dịch vụ hỗ trợ phụ nữ nghĩ rằng bạo hành tâm
lý ít gây hậu quả cho phụ nữ.
Trong nghiên cứu định tính, vấn đề ngược
đãi tâm lý có liên quan tới sức khỏe tâm lý. Cần
được lưu ý rằng những thông tin chủ chốt trong
phỏng vấn có thể được cho là bạo hành tâm lý ít
có hậu quả đối với phụ nữ, xem như là sự đau
buồn và sự phiện muộn. “ Ngược đãi tâm lý, ví
dụ như một người đàn ông và một người đàn
bà, hai trong số họ không thể mạnh dạn và nói
chuyện với nhau; cho nên họ cảm thấy thất vọng
và buồn trong tâm trí họ, khiến tâm trí họ hoang
mang, căng thẳng và buồn bã, thất vọng. Đó là
vậy. Nhưng họ không phải là đa số. Chỉ thỉnh thoảng khi uống rượu”
Bạo hành kinh tế
Bảng 4:Tỷ lệ phụ nữ bị chống từ chối đưa tiền để chi tiền cho gia đình (n=380)
Từ chối đóng góp tài chính để chi
tiêu gia đình Số trường hợp %
Không có thu nhập/tiết kiệm 1 0.26
Từ chối/ Không muốn trả lời 19 5.00
Đáng lưu ý là có 17 phụ nữ (3,5%) bị chồng
từ chối cấp tiền cho chi tiêu gia đình nhiều lần.
Trong nghiên cứu định tính, bạo hành kinh tế được định nghĩa như một phần của bạo hành tâm lý. Chồng từ chối đưa tiền cho vợ chi tiêu cho gia đình được định nghĩa là bạo hành tâm
lý. Theo một thông tin quan trọng: “Trường hợp bạo hành mà những người chồng độc tài khắt khe, không cấp tiền cho vợ của họ và các hỗ trợ tài chính khác được xem là bạo hành tâm lý”.
Trang 6suy nghĩ không đưa tiền cho họ của đàn ông là
không cấp nhận được. “Đó không thể chấp nhận
được. Đưa tiền để đưa con ăn học. Không đưa, không đồng ý.” – Một người phụ nữ phản ứng lại.
Những dịch vụ hỗ trợ cho phụ nữ, ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình đối với phụ nữ
Hình 3:Tần suất những người hỗ trợ được phụ nữ kể về tình trạng của họ (liên quan đến bạo lực thể xác hoặc
tình dục) và tần suất những người đó có gắng giúp họ (n=27)
Có nhiều trường hợp không được báo cáo về
bạo hành thể chất hay bạo hành tình dục lên văn
phòng chính phủ, lãnh đạo địa phương, bác sĩ và
các nhà chính trị. Người được hỏi cho rằng
không ai trong số lãnh đạo địa phương từng cố
gắng giúp đỡ họ.
Bảng 5:Lý do phụ nữ không tìm kiếm sự giúp đỡ ở
Long An, 2012.
Thành thị (n=15)
Nông thôn (n=12)
Lý do không tìm kiếm giúp đỡ
Trường hợp (%)
Trường hợp (%)
Không biết 2 (13,335) 4 (33,33)
Sợ đe dọa/ hậu quả 2 (13,33) 3 (25)
Bạo hành thông thường/ Không
nguy hiểm 2 (13,33) 0
Tin rằng không có sự giúp đỡ 0 0
Sợ sẽ kết thúc mối quan hệ 0 1 (8,33)
Sợ mất con 2 (13,33) 2 (16,67)
Mang tiếng xấu cho gia đình 3 (20) 3 (25)
Không có trường hợp nào cho rằng các dịch
vụ xã hội không giúp được gì. Ví dụ, trung tâm
y tế cấp xã chuyên về chăm sóc sức khỏe; do đó việc ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình đối với phụ nữ được xem là ngoài khả năng.
“Trung tâm y tế cấp xã, quản lý khu vực… không tham gia vào vấn đề bạo hành gia đình,
về các vấn đề này… lên trung tâm y tế xã…. Nạn nhân của bạo hành gia đình đến đây… trung tâm sẽ giải quyết hậu quả của nó”. Chiến lược can thiệp các trường hợp bạo hành gia đình từ Hội phụ nữ bị giới hạn trong việc tiếp cận thủ phạm nam. “Nhưng chúng tôi không tiếp cận nhiều thủ phạm nam bởi vì chúng tôi không thể khuyên bảo họ. Những lời khuyên nên được can thiệp với hiệp hội Nông dân bởi vì việc tiếp cận với thủ phạm nan là khó khăn” – Một người cung cấp thông tin quan trọng trong Hội Phụ nữ cho biết.
Có vài thuận lợi trong việc tiếp cận các dịch
vụ này cho phụ nữ. Những mối quan hệ nhóm, hội hay các cơ sở chính quyền địa phương khác
Trang 7rất là gần gũi, cho nên những phụ nữ là nạn
nhân của bạo hành nhận được nhiều sự hỗ trợ
nếu họ nhờ giúp đỡ từ một trong các tổ chức
này. “Nhìn chung, có mối quan hệ rất gần gũi
giữa các cơ sở ở đây. Ở cấp thấp nhất, có sự hiện
diện của thành viên Hội Phụ nữ trong xóm,
chúng tôi sẽ chia ra thành các nhóm nhỏ trong
xóm. Sẽ có lãnh đạo cho các nhóm nhỏ này, và
Hội Phụ Nữ sẽ là đại diện chủ chốt. Ở cấp cao
hơn, đó là tôi. Nếu có bất kỳ vấn đề gì ở trong
các nhóm nhỏ trong xóm, tôi sẽ tổ chức huấn
luyện cho các thành viên này. Hội sẽ họp hàng
tháng vào ngày 27. Các cuộc họp sẽ thảo luận về
vấn đề phát sinh trong xóm, cho nên nếu có vấn
đề gì sai, tôi sẽ hỏi thăm và giải quyết…” – Một
người cung cấp thông tin quan trọng trong Hội
Phụ nữ cho biết.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tỷ lệ phụ nữ trải qua tình trạng bạo hành gia
đình bởi chồng khá thấp ở tỉnh Long An năm
2012. Đó có thể là kết quả của kế hoạch hành
động trong việc ngăn chặn và kiểm soát bạo
hành gia đình đối với phụ nữ được quản lý bởi
chính quyền địa phương hay các nhóm quan
trọng khác: Hội Phụ nữ, công an, Hội nông dân
và các cơ sở quần chúng khác. Tuy nhiên, phần
chìm của tảng băng chìm tỷ lệ phụ nữ là nạn
nhân của bạo hành gia đình cần được xem xét
cẩn trọng
Kiến nghị 1
Tập huấn cho cộng tác viên: Nguồn nhân lực
cho kế hoạch hành động trong việc ngăn chặn và
kiểm soát bạo hành gia đình trên phụ nữ nên
được ưu tiên để duy trì kết quả đạt được từ
chính quyền địa phương. Một hoàn cảnh thực tế
là nguồn nhân lực làm việc trong các nhóm hỗ
trợ cho phụ nữ và bạo hành gia đình không
được đào tạo đầy đủ cho công việc của họ. Tập
huấn được yêu cầu tại tất cả các khu vực thích hợp, không chỉ Hội Phụ nữ. Tập huấn cho các nhân viên nhà nước phụ trách hỗ trợ các nạn nhân bạo hành gia đình có thể phát triển kinh nghiệm của họ trong lĩnh vực bạo hành gia đình
và giúp họ tiếp cận với phụ nữ 1 cách hiệu quả. Tập huấn chú trọng đến lực lượng công vụ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên, tòa án, lãnh đạo địa phương và nhân viên y tế tại địa phương.
Kiến nghị 2
Sự tham gia của các phương tiện truyền thông đại chúng: Chính quyền địa phương tại tỉnh Long An thành công trong việc phát thanh
về vấn đề và tư vấn về luật có liên quan đến bạo hành gia đình qua các phương tiện đại chúng, bao gồm radio, ti vi và tuyên truyền bằng miệng
là chủ yếu. Điều này có thể hạn chế ảnh hưởng tiêu cực từ tập quán và phân biệt về bạo hành gia đình đối với phụ nữ.
Kiến nghị 3
Can thiệp sớm cho nam giới: Các chiến lược ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình trên phụ nữ ở tỉnh Long An thiếu sự tác động sớm trong việc can thiệp trực tiếp vào nam giới. Việc
tổ chức các nhóm nam giới hoạt động về việc ngăn chặn và kiểm soát bạo hành gia đình tại các cấp địa phương, cùng với huấn luyện nguồn nhân lực triển vọng này sẽ ảnh hưởng tích cực không chỉ đến các thủ phạm là nam giới mà cả nạn nhân nam và nữ trong bạo hành gia đình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Cổng thông tin điện tử Long An (2009). Cam kết kế hoạch hành động phòng chống và kiểm soát bạo lực gia đình giai
http://www.longan.gov.vn/tintuc/Pages/200909/200909291422 45.aspx Truy cập ngày 12/2/2012.
2 Lê Ba (2009). Bạo lực gia đình và giải pháp: Thông cáo báo chí.
http://www.longan.gov.vn/tintuc/Pages/200901/200901200905 15.aspx Truy cập ngày 12/2/2012.
Trang 8itepageid=30 Truy cập ngày 13/2/2012.
4 Liên Hiệp quốc (2008). Dân số học và xu hướng xã hội ảnh
hưởng gia đình khu vực Nam và Trung Á.
http://www.un.org/esa/socdev/family/Publications/mtde
silva.pdf Truy cập ngày 12/2/2012
5 Mỹ Duyên (2012). Tổng kết hiệu quả 4 năm chiến dịch phòng
chống và kiểm soát bạo lực gia đình tại Long An. Thông cáo báo
http://www.longan.gov.vn/chinhquyen/sovhtt/Pages/4NamT
hucHienPhongChongBaoLucGiaDinh.aspx Truy cập ngày
13/2/2012.
6 Tổng cục thống kê (GSO) (2010). ʹGiữ im lặng là chếtʹ: Kết quả từ Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam.
http://www.gso.gov.vn/default_en.aspx?tabid=487&ItemID=1
0693 Truy cập ngày 5/2/2012.
Ngày nhận bài báo: 15/5/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/6/2014 Ngày bài báo được đăng: 14/11/2014