1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vẩy nến đến điều trị tại Bệnh viện Da Liễu TP.HCM từ 01/09/2010 đến 30/04/2011

9 171 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 359,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh vẩy nến đối với chất lượng cuộc sống cũng như khảo sát những yếu tố góp phần làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy giảm nặng nề hơn giúp cải thiện phần nào tình trạng sức khoẻ, xoá bỏ những mặc cảm và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh trong tương lai.

Trang 1

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN VẨY NẾN

ĐẾN ĐIỀU TRỊ TẠI BV DA LIỄU TP HCM TỪ 01/09/2010 ĐẾN 30/04/2011

Trương Thị Mộng Thường*, Lê Ngọc Diệp*

TÓM TẮT

Mở đầu: Vẩy nến là một bệnh lý hệ thống của da và khớp với diễn tiến mạn tính, ít gây tử vong nhưng

bệnh lại gây tổn thương nặng nề về mặt thể xác và tinh thần làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Do đó nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh vẩy nến đối với chất lượng cuộc sống cũng như khảo sát những yếu tố góp phần làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy giảm nặng nề hơn giúp cải thiện phần nào tình trạng sức khoẻ, xoá bỏ những mặc cảm và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh trong tương lai

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vẩy nến đến khám và điều trị tại bệnh

viện Da Liễu TPHCM từ 01/09/2010 đến 30/04/2011

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tương quan Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân ≥ 15 tuổi bị

bệnh vẩy nến chỉ có sang thương da và không có tổn thương khớp đến khám và điều trị tại bệnh viện Da Liễu TPHCM từ 01/09/2010 đến 30/04/2011

Kết quả: Có 181 bệnh nhân được nhận vào mẫu Mức độ ảnh hưởng lên đời sống sinh hoạt và đời sống tinh

thần lần lượt là 28% và 39% Một số yếu tố có mối liên quan làm chất lượng cuộc sống bệnh nhân vẩy nến suy giảm nặng nề hơn là: nữ, khởi phát sớm trước 30 tuổi, thể vẩy nến đỏ da toàn thân, bệnh nhân có sang thương ở vùng da không thể che dấu như mặt, bàn tay, bàn chân, móng, và bệnh càng nặng (điểm PASI càng cao) thì chất lượng cuộc sống càng bị ảnh hưởng nặng

Kiến nghị: Cần mở các buổi tư vấn nhóm cũng như các phòng tư vấn cá nhân tại bệnh viện giúp cho các

bệnh nhân vẩy nến có nhu cầu chia sẽ những lo lắng, buồn phiền cũng như các khó khăn trong việc đối phó với bệnh Bên cạnh đó, những bệnh nhân có các yếu tố góp phần làm chất lượng cuộc sống suy giảm nặng nề sẽ là đối tượng mà các bác sĩ lâm sàng nên quan tâm và khuyến khích họ tham gia vào các buổi tư vấn tâm lý nhóm hoặc cá nhân để quá trình điều trị bệnh đạt được hiệu quả mong muốn và hạn chế tái phát bệnh

Từ khóa: chất lượng cuộc sống, vẩy nến

ABSTRACT

THE QUALITY OF LIFE OF PATIENTS WHO HAD BEEN DIAGNOSED AND TREATED

OF PSORIASIS AT HOSPITAL OF DERMATO – VENEREOLOGY, HCMC

FROM 01/09/2010 TO 30/04/2011

Truong Thi Mong Thuong, Le Ngoc Diep

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 284 – 292

Backgrounds: Psoriasis is a common chronic and recurrent systematic disease of the skin and joints

Although psoriasis generally does not affect survival, it can have a significant negative impact on the physical, emotional, and psychosocial wellbeing of affected patients Therefore this study was conducted to assess the impact

of psoriasis on quality of life as well as examine the factors contributing to make the patient’s life harder, thus

* Học viên Cao học Da Liễu khóa 2009-2011, ** Bộ môn Da Liễu – ĐHYD TP HCM

Tác giả liên lạc: TS Lê Ngọc Diệp ĐT: 0938106969 Email: drngocdiep@yahoo.com

Trang 2

helping improve their health, eliminating the inferiority and enhancing their quality of life in the future

Objectives: To determine the quality of life of patients who had been diagnosed and treated of psoriasis at

Hospital of Dermato–Venereology, HCMC from 01/09/2010 to 30/04/2011

Methods: Cross sectional correlational study Subjects were psoriasis patients ≥ 15 years with only skin

lesions and no joint damage who had been diagnosed and treated of psoriasis at Hospital of Dermatology – Venereology, HCMC from 01/09/2010 to 30/04/2011

Results: 181 patients were admitted to the sample The level of impact on daily life and mental life in turn is

28% and 39% A number of factors relate to the psoriasis patients’ quality of life decline were: female, early onset before 30 years of age, erythroderma psoriasis, patients with exposed skin lesions in face, hands, feet and nails The higher PASI scores are, the more severely affected the quality of patients’ life

Conclusion: It’s necessary to open a counseling group and individual counseling departments in hospitals

to help psoriasis patients who need to share worries, sorrows and difficulties in coping with illness In addition, patients who have been affected by the quality of life declining factors should be carefully considered by the physicians, thus encouraging them to participate in group or individual psychology counseling sessions to enhance the treatment effectiveness and minimize relapse

Key words: quality of life, psoriasis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vẩy nến là một bệnh viêm da và khớp với

diễn tiến mạn tính, hay tái phát và rất thường

gặp, chiếm tỉ lệ từ 1-2% dân số thế giới(2) Tại

Mỹ, vẩy nến ảnh hưởng khoảng 2,2% dân số,

với gần 150000 trường hợp mới mắc mỗi năm(2)

Tại Trung Quốc, tỉ lệ mắc khoảng 1% dân số(Error!

Reference source not found.) Tại Việt Nam, vẩy nến cũng là

một bệnh da khá thường gặp Theo thống kê ở

bệnh viện Da Liễu Tp.HCM năm 2001, số bệnh

nhân vẩy nến đến khám chiếm tỉ lệ 2,32%, đứng

hàng thứ tư sau chàm, mụn trứng cá, mề đay(1)

Mặc dù bệnh vẩy nến ít gây tử vong, trừ

những trường hợp nặng như đỏ da toàn thân,

mụn mủ toàn thân nhưng bệnh lại gây tổn

thương nặng nề về mặt thể xác và tinh thần làm

ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh

nhân(2,10) Do đó trên thế giới đã tiến hành rất

nhiều công trình nghiên cứu về những tác động

của bệnh vẩy nến lên chất lượng cuộc sống để

có một cái nhìn toàn diện và đúng đắn về những

ảnh hưởng của bệnh vẩy nến đối với người

bệnh Kết quả cho thấy bệnh vẩy nến có ảnh

hưởng tiêu cực trên tất cả các khía cạnh của cuộc

sống như trong công việc học tập, nghề nghiệp,

các mối quan hệ xã hội, đời sống tình dục và

cuộc sống gia đình của bệnh nhân(4,10)

Ở Việt Nam cũng có các nghiên cứu được thực hiện liên quan đến bệnh vẩy nến tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu nói trên chỉ khảo sát về các yếu tố dịch tễ, các yếu tố thuận lợi, lâm sàng

và đánh giá kết quả các phương pháp điều trị của bệnh vẩy nến, chưa có nghiên cứu nào đánh giá về ảnh hưởng của vẩy nến lên chất lượng cuộc sống bệnh nhân Vì vậy nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh vẩy nến đối với chất lượng cuộc sống cũng như khảo sát những yếu tố góp phần làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy giảm nặng nề hơn để giúp cải thiện phần nào tình trạng sức khoẻ, xoá bỏ những mặc cảm và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh trong tương lai

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xác định chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vẩy nến đến khám và điều trị tại bệnh viện

Da Liễu TPHCM từ 01/09/2010 đến 30/04/2011

Mục tiêu chuyên biệt

1 Xác định ảnh hưởng của bệnh vẩy nến lên các hoạt động hàng ngày, nghề nghiệp, giải trí, các quan hệ xã hội và đời sống tinh thần của bệnh nhân vẩy nến

Trang 3

2 Xác định mối liên quan của các yếu tố như

tuổi, giới, trình độ học vấn, mức độ nặng, vị trí

sang thương, thời gian bệnh, thể vẩy nến … ảnh

hưởng lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

vẩy nến

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả – tương quan

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân vẩy nến đến khám và

điều trị tại bệnh viện Da liễu Tp.HCM từ

01/09/2010 đến 30/04//2011 hội đủ tiêu chuẩn

sau:

- Bệnh nhân ≥ 15 tuổi

- Chỉ có sang thương da và không có tổn

thương khớp Trường hợp bệnh khó xác định

chẩn đoán sẽ được hội chẩn với các Bác sĩ bộ

môn Da Liễu Đại học Y Dược

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại ra

- Bệnh nhân tâm thần

- Bệnh nhân vẩy nến khớp

Phương pháp nghiên cứu

Công thức tính cỡ mẫu

2

2 2 ) 2 / 1 (

d

Z

n  

n: cỡ mẫu

α: xác suất sai lầm loại I

Z: trị số từ phân phối chuẩn, với = 0,05  Z 2 (1- α /2) = 1,96 2

s: độ lệch chuẩn (Theo nghiên cứu của A.Y Finlay cùng

các cộng sự thì mức độ ảnh hưởng của bệnh vẩy nến lên

chất lượng cuộc sống là (38,8 % + 23,3%) [4] nên chọn ε =

23,3)

d: độ chính xác mong muốn (d = 3,5)

 n = 170

Xử lý và phân tích dữ kiện

Đối với bộ câu hỏi PDI: Phần câu hỏi về các

hoạt động hàng ngày, công việc, các quan hệ cá

nhân, giải trí, điều trị: Mỗi câu hỏi có 4 đáp án

cho bệnh nhân chọn lựa là rất nhiều, nhiều, ít,

không ảnh hưởng sẽ lần lượt tương tứng với các điểm là 3, 2, 1, 0 Kết quả sẽ là tổng điểm của 17 câu hỏi với số điểm cao nhất là 51 điểm và thấp nhất là 0 điểm tương ứng với mức ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cao nhất là 100% (51 điểm) và hoàn toàn không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống là 0% (0 điểm) Như vậy tỉ lệ % càng cao thì bệnh nhân càng bị ảnh hưởng nhiều

đến chất lượng cuộc sống

Đối với bộ câu hỏi PLSI: Mỗi câu hỏi có 4 đáp án cho bệnh nhân chọn lựa là nhiều, vừa, nhẹ và không ảnh hưởng sẽ lần lượt tương tứng với các điểm là 3, 2, 1, 0 Kết quả sẽ là tổng điểm của 18 câu hỏi với số điểm cao nhất là 54 điểm

và thấp nhất là 0 điểm tương ứng với mức độ stress, căng thẳng gây ra bởi bệnh vảy nến cao nhất là 100% (54 điểm) và hoàn toàn không bị ảnh hưởng là 0% (0 điểm) Như vậy tỉ lệ % càng cao thì bệnh nhân càng bị stress và căng thẳng

do bệnh vảy nến càng nhiều

Số liệu sau khi được thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 19 Các trị số được thể hiện bằng (trung bình + độ lệch chuẩn) hay tần

số, tỷ lệ % để mô tả các biến số định tính Kiểm định: dùng test t để so sánh 2 trị số trung bình, test Chi2 để so sánh 2 tỷ lệ, phép kiểm Fisher dùng trong so sánh 2 phương sai và phép kiểm chính xác Fisher (khi tần số lý thuyết < 5), p <

0,05 được xem như có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ ngày 01/ 09/ 2010 đến 30/ 04/ 2011, tại bệnh viện Da Liễu Tp HCM, có 181 trường hợp được chẩn đoán vẩy nến không có tổn thương khớp được nhận vào mẫu

Một số đặc điểm dịch tễ và lâm sàng

- Giới: Nam 66,3%, nữ 33,7%

- Tuổi từ 15 đến 83 tuổi, trung bình 45,3 + 15,4, đa số thuộc nhóm tuổi 45 đến 55 (22,1%)

- Trình độ học vấn: đa số có trình độ cấp 3 (36%) và đại học/ cao đẳng (21%)

- Hoạt động thể lực: đa số bệnh nhân hoạt động thể lực không đều (63,5%)

Trang 4

- Tiền sử gia đình: gặp nhiều nhất là bà con

khác (5,5%) và cha (4,4%)

- Tuổi khởi phát bệnh: trung bình là 34,87

tuổi (1 tháng đến 79 tuổi), đa số khởi phát bệnh

muộn sau 30 tuổi chiếm 60,2% so với khởi phát

bệnh sớm trước 30 tuổi là 39,8%

- Thời gian bệnh: trung bình là 116,5 tháng (1

đến 564 tháng), đa số bệnh nhân có thời gian

mắc bệnh kéo dài trên 10 năm (37,6%)

- Thể vẩy nến: vẩy nến mảng chiếm tỉ lệ cao

nhất là 74,6% và vảy nến mủ chiếm tỉ lệ thấp

nhất là 4,4% Không có bệnh nhân mắc vẩy nến

giọt và vẩy nến đảo nghịch

- Vị trí thương tổn: vị trí thường gặp là da

đầu, thân mình và chi Đa số bệnh nhân có sang

thương vẩy nến nằm ở cả vùng da có thể che

dấu được và vùng da dễ bị nhìn thấy (74,6%)

- Độ nặng của bệnh: đa số là bệnh vẩy nến

nặng (PASI > 20 điểm) chiếm 40,3%

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vẩy

nến

Có 12 trường hợp (chiếm 6,6%) không bị

bệnh vẩy nến làm ảnh hưởng đời sống sinh hoạt

và 2 trường hợp (chiếm 1,1%) không bị bệnh vẩy

nến làm ảnh hưởng đời sống tinh thần Trong

các yếu tố về đời sống sinh hoạt, quan hệ cá

nhân và hoạt động giải trí là 2 yếu tố có tỉ lệ

bệnh nhân hoàn toàn không bị ảnh hưởng cao

nhất với 82 trường hợp (chiếm 45,3%) và 66

trường hợp (chiếm 36,5%), trong khi nghề

nghiệp là yếu tố có mức ảnh hưởng cao nhất với

24 trường hợp (chiếm 13,3%) là bị bệnh ảnh

hưởng hoàn toàn đến công việc/ học tập

Đối với đời sống hằng ngày của bệnh nhân

đa (%)

Điểm tối thiểu (%)

Trung bình + ĐLC (%)

Hoạt động

hằng ngày

15

(100%)

0 (0%)

5,85 + 4,03 (39,00 + 26,89)%

Nghề

nghiệp

9

(100%)

0 (0%)

3,30 + 3,10 (36,77 + 34,45)%

Quan hệ

cá nhân

9

(100%)

0 (0%)

1,51 + 1,89 (16,88 + 21)%

Hoạt động

giải trí

9

(75%)

0 (0%)

2,10 + 2,23 (17,54 + 18,6)%

Điều trị 6 0 1,75 + 1,47

(100%) (0%) (29,18 + 24,65)% PDI 40

(78,43%)

0 (0%)

14,46 + 10,28 (28,36 + 20,16)%

Nhận xét: Đời sống sinh hoạt của 181 bệnh

nhân vẩy nến bị ảnh hưởng trung bình là 28,36%

Sinh hoạt hàng ngày và nghề nghiệp là bị ảnh hưởng nhiều nhất với tỉ lệ trung bình lần lượt là 39% và 36,77%

Mối quan hệ cá nhân và hoạt động giải trí lại

là 2 yếu tố ít bị ảnh hưởng nhất với tỉ lệ trung bình lần lượt là 16,88% và 17,54%

Đối với đời sống tinh thần của bệnh nhân

Đời sống tinh thần của bệnh nhân bị ảnh hưởng với tỉ lệ trung bình là 39 + 23,7% Trong

đó bị ảnh hưởng nhiều nhất là 94,4% và thấp nhất là 0% nghĩa là vẫn có bệnh nhân không bị bệnh làm ảnh hưởng về đời sống tinh thần

Mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, lâm sàng với CLCS của bệnh nhân vẩy nến

Về dịch tễ

Giới tính

PDI (%)

Nam 25,42 + 19,48

p = 0,005

Nữ 34,16 + 20,37 PLSI (%) Nam 36,21 + 23,81 p = 0,025

Nữ 44,50 + 22,54

Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa về mức

độ ảnh hưởng của bệnh lên đời sống sinh hoạt

và đời sống tinh thần giữa 2 giới nam và nữ Tuổi: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ ảnh hưởng của bệnh lên chất lượng cuộc sống giữa các nhóm tuổi trong mẫu (p> 0,05)

Về lâm sàng

Tuổi khởi phát bệnh

PDI (%) Sớm 33,25 + 19,73 p = 0,008

Muộn 25,14 + 19,88 PLSI (%) Sớm 45,93 + 24,84 p = 0,001

Muộn 34,43 + 21,77

Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về mức độ ảnh hưởng của bệnh lên

Trang 5

chất lượng cuộc sống giữa 2 nhóm tuổi khởi

phát bệnh

Thể vẩy nến

Trung bình + ĐLC Trung bình + ĐLC Vẩy nến mảng 24,71 + 19,84 35,66 + 23,15

Vẩy nến mủ 40,92 + 21,87 48,84 + 24,06

Đỏ da toàn thân 38,69 + 16,38 48,81 + 22,61

Giá trị p p = 0,000 p = 0,004

Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê về mức độ ảnh hưởng của bệnh lên chất

lượng cuộc sống giữa các nhóm mắc các thể

bệnh vẩy nến khác nhau

VNMảng VNMủ p = 0,066 p = 0,355

VNMảng Đỏ da toàn thân p = 0,000 p = 0,007

VNMủ Đỏ da toàn thân p = 1,000 p = 1,000

Nhận xét: Kết quả chỉ cho thấy có sự khác

biệt có ý nghĩa về mức độ ảnh hưởng lên chất

lượng cuộc sống giữa 2 thể bệnh vẩy nến mảng

và đỏ da toàn thân

Vị trí thương tổn

PDI (%)

Chỉ ở vùng da dễ che

dấu 15,81 + 13,43 p = 0,000

Có ở cả 2 vùng 32,65 + 20,31

PLSI

(%)

Chỉ ở vùng da dễ che

dấu 27,81 + 18,55 p = 0,000

Có ở cả 2 vùng 42,81 + 24,06

Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê về vị trí sang thương

Độ nặng của bệnh

Độ nặng của

bệnh

Trung bình + ĐLC Trung bình + ĐLC Nhẹ 17,50 + 17,13 29,26 + 21,14

Trung bình 27,76 + 18,30 38,23 + 22,42

Nặng 39,24 + 18,08 48,87 + 22,82

Giá trị p p = 0,000 p = 0,000

Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê về độ nặng của bệnh theo PASI

Nhẹ Trung bình p = 0,015 p = 0,14

Trung bình Nặng p = 0,005 p = 0,054

Nặng Nhẹ p = 0,000 p = 0,000

Nhận xét:

Đối với mức độ ảnh hưởng lên đời sống sinh hoạt, có sự khác biệt có ý nghĩa giữa từng cặp nhóm có độ nặng khác nhau

Đối với mức độ ảnh hưởng lên đời sống tinh thần, chỉ có nhóm bệnh nhẹ và nhóm bệnh nặng

là có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vẩy nến

Trong 181 trường hợp thu vào mẫu nghiên cứu, có 12 ca (chiếm 6,6%) không bị bệnh vẩy nến làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và 2

ca (chiếm 1,1%) không bị bệnh làm ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của bệnh nhân, nghĩa là bệnh nhân vẫn giữ được việc sinh hoạt, học tập, nghề nghiệp, vui chơi giải trí và các mối quan hệ

xã hội như trước khi mắc bệnh Như vậy có đến

169 bệnh nhân (chiếm 93,4%) bị ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và 179 bệnh nhân (chiếm 98,9%) bị ảnh hưởng đến đời sống tinh thần khi mắc bệnh vẩy nến, tỉ lệ này khá cao so với nghiên cứu của Hiệp hội vẩy nến quốc tế năm 1998 là chỉ có 79% bệnh nhân cho rằng bệnh có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống sinh hoạt và tinh thần của họ(10)

Điều này có thể do Việt Nam chúng ta là nước đang phát triển, trình độ hiểu biết về bệnh của người dân chưa cao, chế độ chăm sóc y tế cũng như mối quan tâm của bác sĩ dành cho bệnh nhân không cao bằng các nước tiên tiến trên thế giới khiến cho tỉ lệ bệnh nhân bị bệnh vẩy nến làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cao hơn so với các nghiên cứu khác

Đối với đời sống hằng ngày của bệnh nhân (bảng 6 và 7)

Hoạt động hàng ngày: Trong nghiên cứu này nhận thấy có 20 bệnh nhân (chiếm 11%) không bị bệnh vẩy nến gây ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày và 5 bệnh nhân (chiếm 2,8%) bị bệnh gây ảnh hưởng hoàn toàn đến sinh hoạt hàng ngày Như vậy có 89% bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến trong nghiên cứu này có sinh hoạt hàng ngày bị ảnh hưởng ở mức độ trung bình là

Trang 6

39%, trong khi nghiên cứu của Finlay và Coles

thì mức độ ảnh hưởng lên sinh hoạt hàng ngày

trung bình là 49%(3) và nghiên cứu của Rakhesh

và CS là 51,5%(11) Kết quả về mức độ ảnh hưởng

đến sinh hoạt hằng ngày của nghiên cứu này

hơi thấp hơn các nghiên cứu khác có thể do khí

hậu ở nước ta là nóng ẩm, người bệnh dù trước

hay sau khi mắc bệnh vẫn có thói quen tắm giặt

thường xuyên, bên cạnh đó vì bệnh da không

gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của bệnh nhân nên

các công việc hằng ngày trong gia đình sẽ

không bị bệnh làm ảnh hưởng nhiều

Nghề nghiệp: Nghiên cứu này có 71,8%

bệnh nhân bị bệnh ảnh hưởng đến công việc

học tập và nghề nghiệp ở mức độ trung bình

là 37% Kết quả này khá tương đồng với

nghiên cứu của Finlay và Coles là 34%(3) và

của Rakhesh và CS là 47%(11)

Quan hệ cá nhân: Có đến 82 bệnh nhân

(chiếm 45,3%) hoàn toàn không bị bệnh gây ảnh

hưởng đến các mối quan hệ cá nhân của bản

thân và chỉ có 1 bệnh nhân (chiếm 0,6%) là bị

bệnh gây ảnh hưởng hoàn toàn đến các mối

quan hệ của bản thân Kết quả nghiên cứu cho

thấy mức độ ảnh hưởng trung bình đến quan hệ

cá nhân là 16,9%, kết quả này khá tương đồng

với nghiên cứu của Rakhesh và CS là 17,9%(11)

nhưng thấp hơn nghiên cứu của Finlay và Coles

là 30%(3), điều này có thể do lối sống và thói

quen sống của văn hoá xã hội Việt Nam mang

tính tương thân tương ái, trọng tình nghĩa, trong

khi đời sống ở Anh là lối sống tự do cá nhân

không ràng buộc cho nên mức độ bị ảnh hưởng

do bệnh nhiều hơn

Hoạt động giải trí: Trong nghiên cứu của tôi

có 63,5% bệnh nhân bị bệnh vẩy nến làm ảnh

hưởng đến việc tham gia các hoạt động giải trí

bên ngoài và phải thay thế bằng các hình thức

như hút thuốc lá, uống rượu bia với mức độ bị

ảnh hưởng trung bình là 17,5%, thấp hơn so với

34% nghiên cứu của Finlay và Coles(3) và 25%

nghiên cứu của Rakhesh(11) Có thể do chỉ trong

những năm gần đây nước ta mới bắt đầu có

những trung tâm thể thao và giải trí so với các

nước phát triển đã hình thành nếp sống tập thể dục và giải trí tại các trung tâm, du lịch thường xuyên vì vậy việc mắc bệnh vẩy nến làm họ mặc cảm không thể tham gia các hoạt động vui chơi giải trí mang tính cộng đồng nên mức độ ảnh hưởng sẽ nhiều hơn so với các bệnh nhân trong nghiên cứu của tôi

Điều trị: Nghiên cứu này nhận thấy có 72,4% bệnh nhân cho rằng điều trị làm ảnh hưởng đến cuộc sống của họ với mức độ ảnh hưởng trung bình là 29,2% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Rakhesh và CS là 37,7%(11) và nghiên cứu của Finlay và Coles là 58%(3) có thể

do ở nước ta có chế độ bảo hiểm dành cho người nghèo và chi phí điều trị thấp hơn so với các nước phát triển, bảo hiểm y tế lại rất cao nếu người dân phải tự mua mà không có sự hỗ trợ

từ công ty do bệnh làm họ bị mất việc hoặc không có nghề nghiệp ổn định

Đối với đời sống tinh thần của bệnh nhân (bảng 8)

Nghiên cứu của tôi nhận thấy mức độ ảnh hưởng trung bình của bệnh vẩy nến lên tinh thần của bệnh nhân khá cao là 39 + 23,66 %, tuy nhiên mức độ này vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Fortune và CS là 45%(5) và nghiên cứu của Rakhesh và CS là 50%(11) bởi vì ở các nước phát triển, thói quen sống làm việc và hưởng thụ, không cần tiết kiệm và tích lũy do an sinh

xã hội khá tốt kèm với môi trường sống cạnh tranh gay gắt khiến cho việc có một nghề nghiệp

ổn định là vô cùng quan trọng đối với mỗi người, bên cạnh đó nhu cầu về thẩm mỹ cũng cao hơn và những yêu cầu về dáng vẻ bên ngoài cũng nhiều hơn so với một nước đang phát triển khi mà vấn đề chủ yếu vẫn là lo đủ ăn đủ mặc hơn là ngoại hình Do đó tuy bệnh vẩy nến không làm mất đi sức lao động của người bệnh nhưng lại khiến người bệnh cảm thấy mặc cảm

vì sự xấu xí của bản thân họ, ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả công việc, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh để có được những công việc và mức lương tốt hơn khiến cho người bệnh vẩy nến ở

Trang 7

các nước phát triển chịu nhiều áp lực và bị ảnh

hưởng nhiều về tinh thần hơn so với người bệnh

ở nước đang phát triển

Mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ và

lâm sàng với chất lượng cuộc sống của

bệnh nhân vẩy nến

Giới tính: Trong mẫu nghiên cứu, nam

chiếm tỉ lệ gần gấp đôi nữ (66,3% và 33,7%) Khi

tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng của bệnh

vẩy nến lên chất lượng cuộc sống giữa 2 giới, tôi

nhận thấy nữ bị ảnh hưởng cả về đời sống sinh

hoạt và đời sống tinh thần đều nặng nề hơn so

với nam giới (34,16% và 44,50% so với 25,42% và

36,21%) và sự khác biệt này là có ý nghĩa với p <

0,05 Nghiên cứu của các tác giả Rakhesh và

CS(11), Sampogna và CS(13) cũng cho thấy nữ

thường có chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng

nặng nề hơn so với nam giới bởi vì nữ giới

thường chú trọng đến dáng vẻ bên ngoài hơn so

với nam giới và vẩy nến là một bệnh lý gây mất

thẩm mỹ khiến cho bệnh nhân thường cảm thấy

mình trở nên xấu hơn trong mắt mọi người

xung quanh

Tuổi: Nghiên cứu của tôi nhận thấy độ tuổi

trung bình của bệnh nhân là 45,34 + 15,36 Độ

tuổi của các đối tượng trong nghiên cứu của tôi

thay đổi từ 15 đến 83 tuổi Khi tiến hành so sánh

mức độ ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống và

đời sống tinh thần giữa các nhóm tuổi khác

nhau chúng tôi nhận thấy có 2 nhóm tuổi là

nhóm từ 15 đến 25 và nhóm từ 35 đến 45 có vẻ

bị ảnh hưởng nhiều hơn so với các nhóm tuổi

khác tuy nhiên sự khác biệt này không có ý

nghĩa về mặt thống kê Trong khi nghiên cứu

của Sampogna và CS cho rằng chất lượng cuộc

sống ở người già trên 65 tuổi thường bị ảnh

hưởng nặng nề hơn so với người trẻ ở cả hai

mặt là đời sống sinh hoạt và đời sống tinh

thần(13). Sự khác biệt về kết quả này có thể do ở

các nước châu Âu người già thường sống trong

các viện dưỡng lão, thiếu sự quan tâm chăm sóc

của con cháu kèm thêm bệnh vẩy nến khiến họ

khó hoà nhập với mọi người xa lạ xung quanh

trong viện so với lối sống ở nước ta là người già

vẫn sống cùng với gia đình và con cháu

Tuổi khởi phát: Trong nghiên cứu của

chúng tôi, bệnh nhân có thể khởi phát bệnh vào bất kì thời điểm nào trong đời (nhỏ nhất là 1 tháng sau sinh, lớn nhất là 79 tuổi) Đa số bệnh nhân có tuổi khởi phát muộn sau 30 tuổi (chiếm 60,2%) với tuổi khởi phát bệnh trung bình là 34,87 + 16,04 Đỉnh tuổi khởi phát là từ 20 đến 40

chiếm 43,6% Khởi phát sớm chiếm 39,8%

Khi phân tích về mức độ ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống giữa 2 nhóm tuổi khởi phát khác nhau, chúng tôi nhận thấy nhóm bệnh nhân có tuổi khởi phát bệnh sớm < 30 tuổi bị ảnh hưởng nặng nề hơn so với nhóm khởi phát muộn ≥ 30 tuổi và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Kết quả này có thể là do bệnh nhân khởi phát bệnh ở độ tuổi thanh thiếu niên là giai đoạn con người cần phát triển công việc và các mối quan hệ xã hội nhưng người bệnh lại phải luôn che dấu và cô lập bản thân do mặc cảm về bệnh Ngoài ra việc điều trị bệnh cũng khiến bệnh nhân không thể chuyên tâm trong việc học cũng như nghề nghiệp khiến bệnh nhân thường phải bỏ dở việc học và có thể

bị mất việc, không có nghề nghiệp ổn định

Thể vẩy nến: Thể vẩy nến chiếm tỉ lệ cao

nhất là vẩy nến mảng chiếm 74,6%, kế đến là đỏ

da toàn thân chiếm 21%, vẩy nến mủ chiếm 4,4% Không có bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến

giọt, vẩy nến đảo nghịch

Khi tiến hành phân tích mức độ ảnh hưởng của từng thể vẩy nến, tôi nhận thấy chỉ

có sự khác biệt trong mức độ ảnh hưởng trung bình lên chất lượng cuộc sống giữa 2 nhóm vẩy nến mảng và đỏ da toàn thân Tuy không có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này nhưng nghiên cứu của Krueger và CS(10), Gelfand và CS(6) cho thấy phần trăm diện tích

cơ thể có sang thương vẩy nến là yếu tố quan trọng nhất làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân so với các yếu tố như giới tính, tuổi, tuổi khởi phát bệnh, thời gian mắc bệnh, v.v Vì vậy, vẩy nến đỏ da toàn thân là thể

Trang 8

bệnh với hơn 90% diện tích cơ thể có sang

thương hồng ban tróc vẩy nên mức độ trung

bình ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống sẽ

cao hơn so với vẩy nến mảng và sự khác biệt

là có ý nghĩa

Vị trí thương tổn: Nghiên cứu của tôi nhận

thấy có 47% bệnh nhân có sang thương ở mặt,

91,7% bệnh nhân có sang thương da đầu, 92,3%

bệnh nhân có sang thương ở thân người, 89%

bệnh nhân có sang thương ở tay, chân và 59,7%

có tổn thương móng Kết quả này khá tương

đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tất Thắng,

vùng tì đè là vị trí thường gặp nhất (92,45%),

đầu mặt gặp ở 90,94%(11)

Khi tiến hành tổng kết các vị trí để phân

nhóm bệnh nhân, tôi nhận thấy không có bệnh

nhân nào chỉ có sang thương ở các vùng da khó

thường xuyên che dấu bằng các phương tiện vật

dụng như mặt, bàn tay, bàn chân, móng Kết

quả này là hợp lý vì theo Fitzpatrick, tổn thương

vẩy nến thường gặp ở khuỷu tay, đầu gối, da

đầu, xương thiêng(2)

Phân tích mức độ ảnh hưởng lên chất lượng

cuộc sống giữa 2 nhóm còn lại tôi nhận thấy

nhóm bệnh nhân có sang thương ở cả 2 vùng có

chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng gần gấp đôi

so với nhóm bệnh nhân chỉ có sang thương ở

vùng da dễ che dấu và sự khác biệt này có ý

nghĩa với p < 0,001 Kết quả này tương tự với

nghiên cứu của Fortune và CS(5) Điều này lại

một lần nữa khẳng định vẩy nến là một bệnh lý

chủ yếu gây ảnh hưởng đến nhận thức của

người bệnh về hình ảnh bản thân trước mọi

người xung quanh trong cuộc sống của họ

Độ nặng của bệnh: Nghiên cứu này ghi

nhận bệnh nhân vẩy nến nặng chiếm tỉ lệ cao

nhất với 40,3% và cũng gây ảnh hưởng đến đời

sống sinh hoạt và tinh thần nhiều nhất với mức

độ trung bình lần lượt là 39,24% và 48,87%

Khi phân tích sự khác biệt giữa các nhóm

có độ nặng khác nhau, tôi nhận thấy về khía

cạnh sinh hoạt hằng ngày, mỗi mức độ nặng

của bệnh đều ảnh hưởng khác nhau và sự

khác biệt này có ý nghĩa với p < 0,05 Kết quả

này tương đồng với các nghiên cứu của Finlay(4) và Gelfand(6) Tuy nhiên theo nghiên cứu của Fortune và CS(5) thì không tìm thấy mối tương quan giữa độ nặng của bệnh theo PASI và mức độ ảnh hưởng trên đời sống sinh hoạt theo PDI Khi tìm hiểu kỹ hơn nghiên cứu của Fortune và CS tôi nhận thấy đa số bệnh nhân là bệnh vẩy nến nhẹ với độ nặng trung bình theo thang điểm PASI là 8,8 điểm thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của tôi với PASI trung bình là 17,66 + 0,97 điểm Ngoài

ra, Koo và CS đã sớm chứng minh rằng PDI là một thang đo đáng tin cậy để đánh giá về mức độ hạn chế trong sinh hoạt và cách sống của bệnh nhân vẩy nến nặng(9) Vì lí do đó chúng tôi cho rằng có sự tương quan giữa mức độ nặng theo PASI với mức độ ảnh hưởng lên đời sống sinh hoạt

Về khía cạnh đời sống tinh thần, tôi chỉ nhận thấy có sự khác biệt giữa nhóm bệnh nhẹ (PASI

<10) và nhóm bệnh nặng (PASI ≥ 20) Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Gupta và CS(7), Rakhesh và CS(11) Như vậy khi bệnh càng nặng thì mức độ ảnh hưởng trên đời sống tinh thần càng cao, do đó những bệnh nhân khi được đánh giá thang điểm PASI ≥ 20 nên cần được quan tâm chú ý hơn trong điều trị vì stress là một trong những yếu tố khởi phát và làm bệnh nặng hơn, khó đáp ứng với điều trị(8)

KẾT LUẬN Một số đặc điểm dịch tễ và lâm sàng

Nam nhiều hơn nữ với tỉ lệ nam: nữ = 2:1 với

độ tuổi trung bình là 45 tuổi

Chủ yếu là khởi phát bệnh muộn sau 30 tuổi chiếm 60%

Tiền căn gia đình mắc bệnh vẩy nến là 14% Thời gian mắc bệnh trung bình là 10 năm, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là những bệnh nhân mắc bệnh hơn 10 năm với 38%

Thể bệnh gặp nhiều nhất là vẩy nến mảng chiếm 75% và vẩy nến nặng là nhiều nhất chiếm 40%

Trang 9

Đa số bệnh nhân có sang thương da ở cả

vùng có thể che dấu và vùng không dễ che

dấu với 75%

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vẩy

nến

Mức độ ảnh hưởng lên đời sống sinh hoạt là

28%: trong đó hoạt động hàng ngày bị ảnh

hưởng nhiều nhất với mức độ là 39% và quan hệ

cá nhân là ít bị ảnh hưởng nhất với 16%

Mức độ ảnh hưởng lên đời sống tinh thần

của bệnh nhân là 39%

Mối liên quan giữa một số yếu tố với chất

lượng cuộc sống: các yếu tố làm cho chất

lượng cuộc sống ở bệnh nhân vẩy nến bị

ảnh hưởng nặng nề hơn

Giới nữ

Khởi phát sớm trước 30 tuổi

Thể vẩy nến đỏ da toàn thân

Bệnh nhân có sang thương ở vùng da không

thể che dấu như mặt, bàn tay, bàn chân, móng

Bệnh càng nặng (điểm PASI càng cao) thì

chất lượng cuộc sống càng bị ảnh hưởng

nặng nề

KIẾN NGHỊ

Tổ chức những buổi tư vấn nhóm tại bệnh

viện dành cho người bệnh vảy nến

Tổ chức các phòng tư vấn tâm lý cá nhân

dành cho các bệnh nhân vẩy nến có nhu cầu

Đối với các bệnh nhân có các yếu tố góp

phần làm chất lượng cuộc sống của họ suy giảm

nặng nề hơn sẽ là đối tượng mà các bác sĩ lâm

sàng nên quan tâm và khuyến khích họ tham gia

vào các buổi tư vấn tâm lý nhóm hoặc cá nhân

để quá trình điều trị bệnh đạt được hiệu quả

mong muốn và hạn chế tái phát bệnh

Tiến hành các nghiên cứu sử dụng các bảng câu hỏi điều tra chất lượng cuộc sống dùng chung cho nhiều mặt bệnh nhằm giúp các nhà lâm sàng trong việc cải thiện tiên lượng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân vì một bệnh

nhân có thể mắc nhiều bệnh cùng lúc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Akoglu, H., et al., (2009) “Membranoproliferative glomerulonephritis associated with psoriasis vulgaris”, Ren Fail, 31(9), pp 858-61

2 Christophers Enno, Mrowietz, Urlrich (1999), “Psoroasis”, Fitzpatrick’s Dermatology in general medicine, pp 495-521

3 Finlay, AY and Coles EC (1995), “The effect of severe psoriasis

on the quality of life of 369 patients”, Br J Dermatol, 132(2), pp 236-44

4 Finlay AY, et al., (1990), “Validation of Sickness Impact Profile and Psoriasis Disability Index in Psoriasis”, Br J Dermatol, 123(6),

pp 751-6

5 Fortune DG., et al., (1997), “Quality of life in patients with psoriasis: the contribution of clinical variables and psoriasis-specific stress”, Br J Dermatol, 137(5): pp 755-60

6 Gelfand JM., et al., (2004), “Determinants of quality of life in patients with psoriasis: a study from the US population” J Am Acad Dermatol, 51(5): pp 704-8

7 Gupta MA and Gupta AK, (1995), “The Psoriasis Life Stress Inventory: a preliminary index of psoriasis-related stress” Acta Derm Venereol, 75(3): pp 240-3

8 Gudjonsson JE, Elder JT, “Psoriasis”, Fitzpatrick’s Dermatology

in general medicine, 18, pp 169-192

9 Koo J., (1996), “Population-based epidemiologic study of psoriasis with emphasis on quality of life assessment” Dermatol Clin, 14(3): pp 485-96

10 Kueger G et al., (2001), “The impact of psoriasis on quality of life Result of a 1998 National Psoriasis Foundation patient-membership survey”, Arch Dermatol, 137, pp 280

11 Nguyễn Tất Thắng (2003), “Nghiên cứu điều trị bệnh vẩy nến chưa biến chứng bằng kẽm và DDS”, Luận án tiến sĩ y học chuyên ngành bệnh học nội khoa, Đại học Y Dược TPHCM

12 Rakhesh, SV., D'Souza M, and Sahai A, (2008), “Quality of life in psoriasis: a study from south India”, Indian J Dermatol Venereol Leprol, 74(6): pp 600-6

13 Sampogna F., et al., (2006), “Age, gender, quality of life and psychological distress in patients hospitalized with psoriasis”, Br

J Dermatol, 154(2): pp 325-31

Ngày đăng: 21/01/2020, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w