1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm rối loạn nhịp trên thất ở người cao tuổi tăng huyết áp nguyên phát bằng ghi holter điện tim 24 giờ

9 156 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 433,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu tiến hành trên 124 bệnh nhân (BN) tăng huyết áp (THA) nguyên phát, chia BN làm 2 nhóm: nhóm nghiên cứu - 82 BN THA ≥ 60 tuổi và nhóm chứng - 42 BN THA < 60 tuổi. BN được ghi Holter điện tim 24 giờ.

Trang 1

Ở NGƯỜI CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT

BẰNG GHI HOLTER ĐIỆN TIM 24 GIỜ

Đào Đức Tiến*; Lê Thị Ngọc Hân**; Nguyễn Oanh Oanh**

TÓM TẮT

Nghiên cứu tiến hành trên 124 bệnh nhân (BN) tăng huyết áp (THA) nguyên phát, chia BN làm 2 nhóm: nhóm nghiên cứu: 82 BN THA ≥ 60 tuổi và nhóm chứng: 42 BN THA < 60 tuổi BN được ghi Holter điện tim 24 giờ Kết quả: 80,5% BN THA cao tuổi có rối loạn nhịp trên thất; 12,2% BN có cơn nhịp nhanh trên thất; 14,6% BN có rung nhĩ cơn Số lượng ngoại tâm thu trên thất 24 giờ, tỷ lệ rối loạn nhịp trên thất ở nhóm BN THA cao tuổi đều cao hơn rõ so với nhóm BN THA tuổi < 60 (p < 0,05) 78,3% BN cao tuổi THA giai đoạn III có rối loạn nhịp trên thất 85,0% BN THA cao tuổi

có phì đại thất trái có rối loạn nhịp trên thất Tỷ lệ rối loạn nhịp trên thất ở nhóm THA có phì đại thất trái lệch tâm cao hơn so với nhóm phì đại thất trái đồng tâm Ở 11 BN có giảm phân số tống máu thất trái (EF% < 50%): 81,8% có ngoại thâm thu trên thất, 45,5% có cơn nhịp nhanh trên thất, 63,6% có rung nhĩ cơn Các tỷ lệ này đều cao hơn rõ so với nhóm BN chưa có giảm phân số tống máu thất trái, p < 0,05

* Từ khóa: Tăng huyết áp nguyên phát; Rối loạn nhịp trên thất; Holter điện tim 24 giờ

STUDY OF THE SUPRAVENTRICULAR ARRHYTHMIAS

IN ELDERLY HYPERTENSIVE PATIENTS BY HOLTER ECG

Summary

We investigated the arrhythmias in elderly hypertensive patients by analyzing 24h ECG recordings

124 patients with essential hypertension were divided into two groups: (1) elderly group (defined

as ≥ 60 years old) including 82 patients, and (2) young group (< 60 years old) including 42 patients The results showed that 80.5% of the elderly hypertensive patients had supraventricular arrhythmias; 12.2% had supraventricular tachycardia and 14.6% had atrial fibrillation The number of premature beats and the incidence of supraventricular arrhythmias was higher in elderly group than in young group (p < 0.05) Supraventricular arrhythmias were found in 78.3% of elderly patients with JNC

6 third stage hypertension Supraventricular arrhythmias were also found in 85.0% of the elderly hypertensive patients with left ventricular hypertrophy, and the incidence of supraventricular arrhythmias in eccentric left ventricular hypertrophy is higher than in concentric left ventricular hypertrophy In 11 patients with EF < 50%, 81.8% had supraventricular premature beats; 45.5% had supraventricular tachycardia and 63.6% had atrial fibrillation And these arrhythmias are less frequent

in patients with normal EF

* Key words: Essential hypertension; Supraventricular arrhythmias; Holter ECG

* Bệnh viện 175

** Bệnh viện 103

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Oanh Oanh (oanha2103@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 13/6/2013; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 10/9/2013

Ngày bài báo được đăng: 27/9/2013

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp là bệnh lý tim mạch khá

phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, là

một trong những vấn đề quan trọng đối với

sức khỏe cộng đồng Tổ chức Y tế Thế giới

(WHO) năm 2003 ước tính THA chiếm

8 - 18% dân số và là nguyên nhân gây

4,5% bệnh lý nguy hiểm khác trên toàn cầu

Ở Việt Nam, THA có xu hướng ngày càng

tăng và tỷ lệ mắc bệnh gia tăng ở người

cao tuổi

THA nếu không được điều trị hợp lý sẽ

ảnh hưởng tới các cơ quan đích (tim, não,

thận, mắt, mạch máu) gây ra biến chứng

với những mức độ khác nhau Đối với tim,

THA gây phì đại thất trái, vữa xơ mạch

vành, nhồi máu cơ tim, suy tim và rối loạn

nhịp tim Trong đó, phì đại thất trái xuất hiện

sớm nhất và thúc đẩy phát triển nhanh các

biến chứng khác, đặc biệt là suy tim và rối

loạn nhịp tim Rối loạn nhịp tim ở BN THA

thường tiến triển âm thầm, những rối loạn

nhịp phức tạp có thể ảnh hưởng tới chất

lượng cuộc sống cũng như tính mạng BN

[1, 5, 7]

Holter điện tim là một kỹ thuật không

xâm nhập, theo dõi điện tim liên tục cả khi

nghỉ và khi hoạt động, nhằm phát hiện

những bất thường trên điện tim như rối loạn

nhịp trên thất, rối loạn nhịp thất, biến đổi

khoảng QT [5, 11] Việc phát hiện các rối

loạn nhịp tim bằng Holter điện tim sẽ giúp

bác sỹ lâm sàng có thái độ điều trị và dự

phòng tốt hơn cho BN THA để tránh biến

chứng, đặc biệt là đột tử do rối loạn nhịp

phức tạp

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu

này nhằm mục tiêu:

- Nghiên cứu đặc điểm rối loạn nhịp trên

thất ở người cao tuổi THA nguyên phát

bằng ghi Holter điện tim 24 giờ

- Nghiên cứu mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng, siêu âm tim với rối loạn nhịp trên thất ở người cao tuổi THA nguyên phát

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

124 BN THA nguyên phát được theo dõi

và điều trị tại Bệnh viện 103 và Bệnh viện

175 từ 02 - 2010 đến 02 - 2011, chia BN làm 2 nhóm:

Nhóm nghiên cứu: 82 BN THA ≥ 60 tuổi Nhóm chứng: 42 BN THA < 60 tuổi

* Tiêu chuẩn chọn BN:

Lựa chọn BN THA nguyên phát theo tiêu chuẩn của WHO/ISH (2003): BN có trị số huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg, đo huyết

áp tại bệnh viện theo đúng hướng dẫn của Hội Tim mạch Việt Nam (2001) [1, 11]

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- THA thứ phát

- THA có các bệnh lý cấp tính hoặc ác tính kèm theo

- THA kèm theo các bệnh lý tim mạch khác như hẹp, hở van tim, bệnh cơ tim nguyên phát…

- THA kèm theo bệnh phổi - phế quản mạn tính

- THA kèm theo rối loạn điện giải

- BN đã đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn

- BN đang điều trị các thuốc ảnh hưởng tới nhịp tim như thuốc chẹn bêta, digitalis, cordaron mà không thể ngừng thuốc do yêu cầu điều trị

- BN từ chối tham gia nghiên cứu

- Kết quả Holter điện tim của BN có nhiều tín hiệu nhiễu tạp, thời gian theo dõi

< 20 giờ

Trang 3

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có

so sánh đối chứng Trình tự nghiên cứu

bao gồm những bước sau:

- Hỏi bệnh và khám lâm sàng, đo huyết

áp theo mẫu bệnh án nghiên cứu

- Tiến hành làm các xét nghiệm thường

quy: xét nghiệm máu, nước tiểu, X quang

tim phổi, điện tim 12 đạo trình

- Siêu âm tim: thực hiện siêu âm kiểu

TM, 2D, Doppler màu theo hướng dẫn của

Hội Tim mạch học Việt Nam, đo các thông

số: LA, Dd, Ds, IVSd, IVSs, LPWd, LPWs,

EF%, LVM, LVMI, RWT

- Ghi Holter điện tim 24 giờ Nếu BN

đang dùng các thuốc ảnh hưởng đến nhịp

tim (thuốc chẹn kênh canxi, chẹn β, thuốc

chống rối loạn nhịp ) thì phải ngừng thuốc

trong khoảng thời gian bằng 5 lần thời gian

bán huỷ hoặc đổi sang thuốc hạ áp không

ảnh hưởng đến nhịp tim trước khi làm

Holter điện tim

* Các tiêu chuẩn chẩn đoán sử dụng

trong nghiên cứu:

- Tiêu chuẩn chẩn đoán độ THA theo

WHO/ISH (2003)

- Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn THA

theo WHO/ISH (1993)

- Chẩn đoán thay đổi hình thái tim: dựa

vào kết quả nghiên cứu các thông số siêu

âm tim trên đối tượng người lớn bình thường

của Phạm Gia Khải (1996):

+ Giãn nhĩ trái: LA ≥ 35 mm

+ Tăng độ dày thành sau thất trái cuối

tâm trương: LPWd ≥ 10 mm

+ Tăng độ dày vách liên thất cuối tâm

trương: IVSd ≥ 10 mm

+ Tăng đường kính thất trái cuối tâm

trương: Dd ≥ 50 mm

+ Phì đại thất trái được xác định theo tiêu chuẩn Framingham khi: LVMI > 131 g/m2

ở nam và > 100 g/m2 ở nữ

Chẩn đoán phì đại thất trái đồng tâm:

BN có phì đại thất trái và RWT > 0,42

Chẩn đoán phì đại thất trái lệch tâm:

BN có phì đại thất trái và RWT < 0,42

- Tiêu chuẩn giảm chức năng tâm thu thất trái: EF < 50% (theo phương pháp Teicholz)

- Một số tiêu chuẩn chẩn đoán Holter điện tim theo Minnesota (1982):

+ Chậm xoang: ≤ 50 chu kỳ/phút

+ Nhanh xoang: ≥ 100 chu kỳ/phút

+ Ngừng xoang: thời gian ≥ 2,5 giây

+ Ngoại tâm thu: nhát bóp đến sớm > 40%

+ Cơn nhịp nhanh thất hoặc trên thất khi

có > 3 nhát bóp đến sớm, liên tục của phức

bộ thất hoặc nhĩ

* Xử lý số liệu:

Sử dụng các thuật toán thống kê trong y học, phần mềm SPSS 11.6 for Windows và phần mềm Statistica 5.0

Giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

29.3

4.8

73.2 54.8

0 10 20 30 40 50 60 70 80

Đái tháo đường RLCH lipid

Nhóm NC Nhóm chứng

Biểu đồ 1: Yếu tố nguy cơ của

2 nhóm nghiên cứu

§¸i th¸o ®-êng RLCH lipid

Nhãm NC

Nhãm chøng

Trang 4

73,2% BN THA trong nhóm nghiên cứu

có tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid, ở

nhóm chứng chỉ có 54,8% BN (sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê, p < 0,05) Kết quả này

cho thấy rối loạn lipid máu là một dấu hiệu

thường gặp và là yếu tố nguy cơ quan

trọng Nghiên cứu này có kết quả tương tự

như Phạm Gia Khải (1998) gặp 65,6% BN

THA có rối loạn chuyển hóa lipid [2]

24 BN THA tuổi > 60 (29,3%) kèm theo

bệnh đái tháo đường, trong khi chỉ có 2 BN

đái tháo đường ở nhóm chứng (4,8%)

Bảng 1: Mức độ THA của đối tượng

nghiên cứu

NHÓM

MỨC ĐỘ THA

≥ 60 TUỔI (n = 82)

< 60 TUỔI (n = 42)

p

Nhóm nghiên cứu và nhóm chứng có

tỷ lệ về THA độ I tương đương nhau

(p > 0,05) THA độ III ở nhóm nghiên cứu

cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm

chứng (p < 0,05)

Bảng 2: Giai đoạn THA của đối tượng

nghiên cứu

NHÓM

GIAI ĐOẠN

≥ 60 TUỔI (n = 82)

< 60 TUỔI

Phân loại THA theo giai đoạn: THA giai

đoạn 2 chiếm tỷ lệ nhiều nhất (53,7% ở

nhóm nghiên cứu và 54,8% ở nhóm chứng,

p > 0,05) 28,0% BN THA tuổi ≥ 60 đã có

biến chứng nặng thuộc giai đoạn 3 của bệnh,

cao hơn có ý nghĩa so với tỷ lệ tương ứng

11,9% ở nhóm BN THA < 60 tuổi (p < 0,05)

73,2% nhóm nghiên cứu có phì đại thất trái, trong đó phì đại thất trái đồng tâm 53,6% và phì đại thất trái lệch tâm 19,5%

Các thông số này so với nhóm chứng đều lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05 - 0,01)

Bảng 3: Đặc điểm rối loạn nhịp trên thất

của các đối tượng nghiên cứu

NHÓM RỐI LOẠN NHỊP TRÊN THẤT

THA ≥ 60 TUỔI (n = 82)

THA < 60 TUỔI (n = 42) p

Ngoại tâm

thất 24 giờ

Số lượng

753,39 ± 1527,83

214,59 ±

Cơn nhịp nhanh

Trên Holter điện tim, số lượng và tỷ lệ ngoại tâm thu trên thất gặp với tỷ lệ cao ở nhóm BN THA tuổi ≥ 60, sự khác biệt so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê, p < 0,01

Mayet J (1997) nghiên cứu 26 BN THA có tuổi trung bình 61, nhận thấy ngoại tâm thu trên thất 24 giờ là 639 ± 590, có sự tương đồng với kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên nhóm BN cao tuổi [8]

12,2% BN THA tuổi cao có cơn nhịp nhanh trên thất và 14,6% có rung nhĩ cơn, kết quả này cao hơn so với nhóm chứng, nhưng khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê

73.2

45.2 53.6

35.7 19.5 9.5

0

10

20

30

40

50

60

70

80

Phì đại thất trái lệch tâm

Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng

Phì đại

Biểu đồ 2: Đặc điểm phì đại thất trái ở

các đối tượng nghiên cứu

Trang 5

Bảng 4: Mối liên quan giữa rối loạn nhịp trên thất với mức độ THA

RỐI LOẠN NHỊP

TRÊN THẤT

p

> 0,05

Không có sự khác biệt về tần suất phát hiện các rối loạn nhịp trên thất trên Holter điện tim 24 giờ theo mức độ THA, p > 0,05

Bảng 5: Mối liên quan giữa rối loạn nhịp trên thất với giai đoạn THA

RỐI LOẠN NHỊP

TRÊN THẤT

p

> 0,05

Không có sự khác biệt về tần suất phát hiện rối loạn nhịp trên thất trên Holter điện tim

24 giờ theo giai đoạn THA, p > 0,05

Bảng 6: Mối liên quan giữa rối loạn nhịp trên thất với đường kính nhĩ trái

RỐI LOẠN NHỊP

ĐƯỜNG KÍNH NHĨ TRÁI (LA)

p

Rối loạn nhịp

trên thất

Ngoại tâm thu trên thất

Trên siêu âm, 33 BN (40,2%) THA cao

tuổi có tăng đường kính nhĩ trái (40,2%)

93,9% số BN này có ngoại tâm thu trên thất

với số lượng ngoại tâm thu trên thất là

1.191,95 ± 2.339,53, cao hơn rõ rệt so với

nhóm BN THA cao tuổi nhưng chưa có giãn

nhĩ trái, p < 0,01

Tỷ lệ gặp rối loạn nhịp tim ở nhóm có

giãn nhĩ trái cũng cao hơn so với nhóm

không có giãn nhĩ trái, đặc biệt, những rối

loạn nhịp nặng như rung nhĩ cơn (24,2% so

với 8,2%), cơn nhịp nhanh trên thất (21,2%

so với 6,1%) Baguet (2006) nhận thấy ở

BN THA có rung nhĩ, 67% giãn nhĩ trái [3] Galinier và CS (2002) thấy 40% BN rung nhĩ có tiền sử THA [6] Ciaroni S (2000) theo dõi 97 BN THA trong thời gian 25 ± 3 tháng, nhận thấy rung nhĩ xuất hiện với tỷ lệ 19,5% và có mối liên quan giữa rung nhĩ với tăng kích thước nhĩ trái [4] Rizzo và CS (2000) cho rằng mức độ rối loạn nhịp trên thất và thất tỷ lệ thuận với kích thước buồng nhĩ trái [9]

Trang 6

Biểu đồ 3: So sánh tỷ lệ ngoại tâm thu trên thất ở BN THA cao tuổi có

Dd bình thường với Dd tăng

Nhóm BN THA tuổi cao có tăng đường kính thất trái cuối tâm trương (Dd) khi theo dõi

Holter điện tim liên tục 24 giờ phát hiện thấy các rối loạn nhịp trên thất cao hơn có ý nghĩa

so với nhóm BN không có tăng Dd cả về số lượng và tần suất, p < 0,05

Bảng 7: Mối liên quan giữa rối loạn nhịp với phì đại thất trái

RỐI LOẠN NHỊP

PHÌ ĐẠI THẤT TRÁI

p

Rối loạn nhịp

trên thất

Ngoại tâm thu trên thất

Nhóm BN THA phì đại thất trái có rối loạn nhịp trên thất nhiều hơn so với nhóm BN

không có phì đại thất trái cả về số lượng (p < 0,01) và tần suất (p < 0,05)

Bảng 8: Mối liên quan giữa rối loạn nhịp trên thất với nhóm nghiên cứu có phì đại thất

trái lệch tâm so với phì đại thất trái đồng tâm

RỐI LOẠN NHỊP

PHÌ ĐẠI THẤT TRÁI

p

Rối loạn nhịp

trên thất

Ngoại tâm thu trên thất

93,9% BN phì đại thất trái lệch tâm có rối loạn nhịp trên thất, nhiều hơn so với BN

phì đại thất trái đồng tâm (81,8%, p < 0,05) Kết quả này cũng thấy tương tự ở tần suất

71.4

93.9

100

90

80

70

60

50

40

30

20

10

0

NNT trên thất

THA có Dd bình thường

THA có Dd tăng

Trang 7

Schannwel (1998) [10], Ciaroni.S (2000) [4]

Bảng 9: Mối liên quan giữa rối loạn nhịp trên thất với phân số tống máu (EF%)

RỐI LOẠN NHỊP

p

Rối loạn

nhịp trên

thất

Ngoại tâm thu trên thất

THA tuổi ≥ 60 có phân số tống máu thấp < 50% có số lượng nhịp ngoại thâm thu trên thất nhiều hơn rõ so với nhóm BN chưa có giảm chức năng tâm thu, p < 0,001

KẾT LUẬN

Nghiên cứu Holter điện tim 24 giờ trên

82 BN THA tuổi ≥ 60, so sánh với nhóm

BN THA < 60 tuổi, chúng tôi rút ra một số

kết luận:

1 Đặc điểm rối loạn nhịp trên thất ở

BN THA cao tuổi

- Rối loạn nhịp trên thất: 80,5% BN

THA cao tuổi có rối loạn nhịp trên thất với

số lượng ngoại tâm thu trên thất 24 giờ là

753,39 ± 1.527,83; 12,2% BN có cơn nhịp

nhanh trên thất, 14,6% BN có rung nhĩ cơn

- Số lượng ngoại tâm thu trên thất 24 giờ,

tỷ lệ rối loạn nhịp trên thất ở nhóm BN

THA cao tuổi đều cao hơn rõ so với nhóm

BN THA tuổi < 60 (p < 0,05)

2 Mối liên quan giữa một số đặc

điểm lâm sàng, siêu âm tim với rối loạn

nhịp trên thất ở BN THA tuổi ≥ 60

- 78,3% BN cao tuổi THA giai đoạn III

có rối loạn nhịp trên thất

- Biến đổi hình thái nhĩ trái và thất trái

(tăng đường kính nhĩ trái, thất trái, tăng

độ dày vách liên thất và độ dày thành sau

thất trái) làm gia tăng tỷ lệ rối loạn nhịp

trên thất ở BN THA cao tuổi Đặc biệt, 85,0% BN tăng huyết áp cao tuổi có phì đại thất trái có rối loạn nhịp trên thất Tỷ

lệ rối loạn nhịp trên thất ở nhóm THA có phì đại thất trái lệch tâm cao hơn so với nhóm phì đại thất trái đồng tâm

- BN có giảm phân số tống máu thất trái (EF% < 50%): 81,8% có ngoại tâm thu trên thất, 45,5% có cơn nhịp nhanh trên thất, 63,6% có rung nhĩ cơn Các tỷ lệ này đều cao hơn rõ so với nhóm BN chưa có giảm phân số tống máu thất trái, p < 0,05

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Phú Kháng Lâm sàng Tim mạch

Nhà xuất bản Y học 2001

2 Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt và CS

Đặc điểm dịch tễ học bệnh tăng huyết áp tại Hà Nội Tạp chí Tim mạch học 1998, 16, tr.258-282

3 Baguet JP, Erdine S, Mallion JM et al

European Society of hypertension scientific Newsletter: update on hypertension management: Hypertension and dysrhythmias Journal of Hypertension 2006, 24, pp.409-411

4 Ciaroni S, Cuenoud L, Bloch A et al

Clinical study to investigate the predictive

Trang 8

parameters for the onset of atrial fibrillation in

patients with essential hypertension American

Heart Journal 2000, 139, pp.814-819

5 Crawford MH, Bernstein SJ, Deedwania

PC et al ACC/AHA Guidelines for ambulatory

electrocardiography A report of the American

college of Cardiology/American Heart association

task force on practice guidelines (Committee

to revise the Guidelines for ambulatory

electrocardiography) Developed in collaboration

with the North American Society for pacing and

electrophysiology Journal of the American

College of Cardiology 1999, 34, pp.912-948

6 Galinier M, Pathak A, Fallouh V et al

Holter EKG for the hypertensive heart disease

Annales de Cardiologie et d'Angeiologie 2002,

51, pp.336-340

7 Lohman JE ACC/AHA task force report:

guidelines for ambulatory electrocardiography

Circulation 1989, 80, pp.1098-1100

8 Mayet J, Chapman N, Shahi M et al The

effects on cardiac arrhythmias of antihypertensive therapy causing regression of left ventricular hypertrophy American Journal of Hypertension

1997, 10, pp.611-618

9 Rizzo V, Maio FD, Campbell SV et al

Left ventricular function, cardiac dysrhythmias, atrial activation, and volumes in nondipper hypertensive individuals with left ventricular hypertrophy American Heart Journal 2000,

139, pp.529-536

10 Schannwell CM, Schoebel FC, Badiian

M et al Diastolic function parameters and

atrial arrhythmias in patients with arterial hypertension Dtsch Med Wochenschr 1998,

123, pp.957-964

11 Whitworth JA World Health Organization

(WHO)/International Society of Hypertension (ISH) statement on management of hypertension Journal of Hypertension 2003, 21,.pp.1983-1992

Ngày đăng: 21/01/2020, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w