1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lượng giá giảng dạy xử trí lồng ghép bệnh trẻ em tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

8 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 216,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả việc giảng dạy IMCI tại ĐHYD TP HCM. Nghiên cứu tiến hành mô tả cắt ngang, thực hiện bằng cách quan sát cuộc khám bệnh để đánh giá kỹ năng và phỏng vấn để đánh giá thái độ của các bác sĩ đã được huấn luyện IMCI trong thời gian từ 2000-2005 tại ĐHYD TPHCM.

Trang 1

LƯỢNG GIÁ GIẢNG DẠY XỬ TRÍ LỒNG GHÉP BỆNH TRẺ EM

TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Hoàng Trọng Kim*, Đoàn Thị Ngọc Diệp*, Trần Thị Thanh Tâm*, Đỗ Văn Dũng**, Hồ Thị Tâm*,

Phạm Thị Minh Hồng*, Bùi Quốc Thắng*, Nguyễn Thái Sơn*, Nguyễn Huy Luân*, Đặng Văn Qúy*, Phùng Nguyễn Thế Nguyên*, Nguyễn Thu Tịnh*, Đoàn Tấn Huy Tâm*,

Nguyễn Hoài Phong* Phạm Bích Chi*, Phạm Lê An*, Trần Diệp Tuấn*

TÓM TẮT

Chiến lược xử trí lồng ghép bệnh trẻ em (Integrated Management of Child Illness – viết tắt là IMCI) được triển khai nhằm giảm tỉ lệ tử vong, tỉ lệ mắc bệnh và tăng cường sự phát triển trẻ em ở các nước đang phát triển IMCI đã được giảng dạy tại Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh (ĐHYD TPHCM) từ 1/2000

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả việc giảng dạy IMCI tại ĐHYD TP HCM

Phương pháp: Mô tả cắt ngang, thực hiện bằng cách quan sát cuộc khám bệnh để đánh giá kỹ năng và

phỏng vấn để đánh giá thái độ của các bác sĩ đã được huấn luyện IMCI trong thời gian từ 2000 – 2005 tại ĐHYD TPHCM

Kết quả: Có 215 bác sĩ tham gia nghiên cứu với 84 người được huấn luyện IMCI trong chương trình

đại học (nhóm đại học) và 131 người được huấn luyện trong chương trình sau đại học (nhóm sau đại học) Điểm trung bình về xử trí trẻ bệnh của tất cả các bác sĩ tham gia là 0.554 ± 0.213 Chỉ có 41% BS có thái độ

tốt hoặc trung bình đối với IMCI Nhóm sau đại học có điểm kỹ năng cao hơn nhóm đại học (0.581 ± 0.219

so với 0.514 ± 0.200, p< 0,05) Có sự liên quan thuận giữa điểm thi tốt nghiệp thực hành nhi khoa và điểm

thái độ với điểm kỹ năng IMCI trong đợt lượng giá này

Kết luận: Tỷ lệ các bác sĩ được huấn luyện IMCI tại ĐHYD TPHCM thực hành đúng các kỹ năng

IMCI còn chưa cao như mong đợi

ABSTRACT

EVALUATION OF THE IMCI EDUCATION AT THE UNIVERSITY OF MEDICINE AND

PHARMACY AT HO CHI MINH CITY

Hoang Trong Kim, Doan Thi Ngoc Diep, Tran Thi Thanh Tam, Do Van Dung, Ho Thi Tam, Pham Thi Minh Hong, Bui Quoc Thang, Nguyen Thai Son, Nguyen Huy Luan, Dang Van Quy, Phung Nguyen The Nguyen, Nguyen Thu Tinh, Doan Tan Huy Tam, Nguyen Hoai Phong,

Pham Bich Chi, Pham Le An, Tran Diep Tuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 1 – 6

Background: The Integrated Management of Child Illness (IMCI) strategy is developed to decrease the

mortality and the morbility, to improve the children’s development in the developing countries The IMCI was implemented at the University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City (UMPH) since 1/2000

In order to improve the results of the training programme in IMCI at the UMPH, Department of Pediatrics carried out an evaluation survey

Objectives: To describe the clinical skills and the attitude of the doctors who were trained in IMCI at UMPH Methods: That is a cross-sectional study in which the skill of approaching and managing the sick child was

* Bộ Môn Nhi, Đại Học Y Dược TP HCM,

** Bộ Môn Thống kê Y học và Dân số, ĐHYD TPHCM

Trang 2

evaluated by direct observation, and practitioner's attitude towards IMCI was examined by structured questionnaires The study population were the doctors who were trained in IMCI during 2000-2005 at UMPH

Results: In total, there were 215 practitioners who participated in the study among whom 84 had been

trained in IMCI during their undergraduated study (undergraduated group) and 131 during their post-graduated study (postpost-graduated group) The mean of score of managing sick children of all study practitioners was 0.554 ± 0.213 There were 41% of the study population who had good and average attitude towards IMCI The post-graduated group had higher scores in IMCI skill than the undergraduated one ((0.581 ± 0.219 vs 0.514 ± 0.200, p< 0.05) There were positive relationship between the graduation marks in Pediatrics practice and attitude scores with the scores of IMCI skill in this study

Conclusion: The proportion of the doctors who were trained in IMCI at the UMPH well practiced the

IMCI skills is not high as expected

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Hàng năm tại các nước đang phát triển có

đến khỏang 12 triệu trẻ em dưới năm tuổi tử

vong 70% các trường hợp này do các bệnh lý

nhiễm trùng hô hấp, tiêu hóa, sởi, sốt rét và

suy dinh dưỡng Từ năm 1994, Tổ chức Y tế

Thế giới (TCYTTG) và Quĩ Nhi đồng Liên hiệp

Quốc (UNICEF) đã đối phó với các thử thách

này bằng chiến lược Xử trí Lồng ghép Bệnh

Trẻ em (IMCI) đối với chương trình tái đào

tạo(4) Từ 1999, chương trình này được đưa vào

giảng dạy ở các trường đại học và sau đó là các

trường trung học y tế(5,6) Đại học Y Dược TP Hồ

Chí Minh (ĐHYD TPHCM) là một trong năm

trường trên thế giới tham gia giảng dạy IMCI

trong dự án Phát triển Toàn cầu(5) Sau 5 năm

(2000 – 2005), với 1365 sinh viên và 246 bác sĩ

được huấn luyện IMCI, Bộ môn Nhi tiến hành

đánh giá kết quả nhằm góp phần nâng cao chất

lượng giảng dạy chương trình này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)

Gồm tất cả bác sĩ (BS) được huấn luyện

IMCI trong chương trình đại học (ĐH) từ 2000

– 2005 và sau đại học (SĐH) từ 2002 – 2005 tại

ĐHYD TPHCM hiện làm công tác chuyên môn

có khám và điều trị trẻ bệnh dưới 5 tuổi ở khu

vực ngoại trú của tất cả các tuyến cơ sở y tế

Phương pháp

Nghiên cứu mô tả cắt ngang Liên hệ với Sở

Y Tế của tất cả các tỉnh thành từ Phú Yên đến Cà Mau để xin danh sách các BS đủ tiêu chuẩn chọn vào Sau đó, liên hệ với các BS này để xác định lại tiêu chuẩn và tìm sự đồng ý tham gia nghiên cứu Đánh giá kỹ năng bằng cách quan sát các

BS xử trí 1 trẻ bệnh từ 1 tuần đến 5 tuổi và phỏng vấn bà mẹ Các bước này được thực hiện với 3 bảng mẫu của TCYTTG Đánh giá thái độ của ĐTNC bằng cách phỏng vấn với bảng mẫu

đã được Bộ Môn Nhi thiết kế Thời gian nghiên cứu từ 6 /2005 điến 6/2006

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm dân số nghiên cứu

Đặc điểm của ĐTNC

Có 218 BS tham gia nghiên cứu, 3 trường hợp bị loại vì dữ kiện thu thập không đầy đủ

Dữ kiện của 215 BS được xử lý kết quả, 84 thuộc nhóm ĐH và 131 thuộc nhóm SĐH 99 ĐTNC là nam Nhóm ĐH tốt nghiệp năm 2000

là 14, năm 2001 là 18, năm 2002 là 16, năm 2003

là 6, năm 2004 là 20 và năm 2005 là 10 Nhóm SĐH tốt nghiệp năm 2002 là 22, năm 2003 là

37, năm 2004 là 29 và năm 2005 là 43

Bảng 1: Phân phối đối tượng nghiên cứu theo cơ sở

y tế

Cơ sở y tế Nhóm

đại học

Nhóm sau đại học

T ng

c ng

Trang 3

Cơ sở y tế Nhóm

đại học

Nhóm sau đại học

T ng

c ng

Đặc điểm trẻ bệnh trong nghiên cứu

- Tuổi trung bình của trẻ bệnh trong

nghiên cứu là 25.08 tháng ± 15.42, nhỏ nhất là

2 tháng, lớn nhất là 60 tháng Có 111 trẻ nam

và 104 trẻ nữ

- Lý do khiến bà mẹ mang trẻ đến cơ sở y

tế gồm: ho/ khó thở (ở 155 trẻ), sốt (135 trẻ),

tiêu chảy/nôn ói (91 trẻ), vấn đề về tai (12 trẻ)

và vấn đề khác ở 64 trẻ Một trẻ bệnh có thể

được bà mẹ đưa đến vì một hoặc nhiều vấn đề

khác nhau

Các phân loại của 215 trẻ trong nghiên cứu

bao gồm

Bệnh nặng cần chuyển viện 7 trẻ, viêm

phổi 8 trẻ, tiêu chảy có mất nước 2 trẻ, tiêu

chảy không mất nước 26 trẻ, sốt không giống

sốt rét/ sốt không có nguy cơ sốt rét 45 trẻ, sốt

giống sốt xuất huyết 4 trẻ, sốt – không giống

sốt xuất huyết 97 trẻ, có khả năng mắc sởi 2

trẻ, thiếu máu 6 trẻ

Kết quả luợng giá kỹ năng thực hành

IMCI

Trong tổng số 215 trẻ được khám và điều

trị bởi 215 BS, chỉ có 47% trẻ bệnh được đánh

giá các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân Có 74%

trẻ bệnh được hỏi về ho/ hó thở, tiêu chảy và

sốt Chỉ có 25% trẻ bệnh được kiểm tra cân

nặng trong lần khám bệnh này Tỉ lệ kiểm tra

cân nặng ở nhóm SĐH cao hơn nhóm ĐH

(30% so với 15%, p<0,05)

Chỉ có 40% trẻ dưới 2 tuổi được đánh giá

về dinh dưỡng (nhóm SĐH cao hơn nhóm ĐH,

48% so với 27%, p< 0,05) Tất cả các bệnh nhi

đều được kiểm tra về vấn đề tiêm chủng khi

đến khám vì bất kỳ lý do gì

Trong số 98 trẻ không cần chuyển viện,

được điều trị tại nhà và cần cho thuốc kháng

sinh hoặc kháng sốt rét, có 62 trẻ (63%) đã được các BS chỉ định điều trị đúng Tuy nhiên, trong số các trẻ không cần chuyển viện, không cần thuốc kháng sinh và không cần thuốc kháng sốt rét thì có đến 60% bị chỉ định thuốc kháng sinh/ kháng sốt rét không hợp lý

Tỉ lệ các bà mẹ được khuyên cho trẻ uống thêm nhiều dịch và tiếp tục cho ăn trong lúc bị bệnh ở TP HCM là 29/100 (29%), thấp hơn ở các tỉnh, 48/115 (42 %), tính chung là 77/215 (36%) (p < 0.05) Có 53% bà mẹ trả lời được ít nhất 3 dấu hiệu khi nào cần phải trở lại cơ sở y

tế ngay Tỉ lệ này ở bệnh viện ở TP HCM và bệnh viện tỉnh cao hơn ở bệnh viện tuyến quận/huyện và trạm y tế (p<0,05) Khoảng 24% trẻ bệnh được các BS phân loại giống với phân loại của người giám sát Tỉ lệ này ở TP HCM cao hơn ở các tỉnh (p<0,05) Có 64% BS có điểm

kỹ năng IMCI > 0,5 Điểm kỹ năng trung bình của nghiên cứu là 0,55 ± 0,21 Điều này có nghĩa là các BS áp dụng đúng khoảng 55% nội dung IMCI đã được huấn luyện

Bảng 2: Phân bố điểm kỹ năng IMCI của ĐTNC

(Điểm chuẩn = 1)

Điểm T n suất (n=215) Tỉ l %

Đánh giá thái độ của ĐTNC

Khi được phỏng vấn về việc ứng dụng nội dung của phác đồ IMCI, có > 90% số BS trả lời

là có ứng dụng Qua quan sát thực tế, kết quả cho thấy các BS chỉ ứng dụng từ 20% đến 60% các phần khác nhau của phác đồ Khi được hỏi

về tần suất ứng dụng các nội dung của phác

đồ thì “đánh giá” và “tham vấn” là các phần

mà các BS trả lời là đã ứng dụng nhiều nhất (>80%) Phần phân loại, xác định điều trị và điều trị chỉ được sử dụng ở khoảng 50% - 60% ĐTNC Có 2,33% ĐTNC trả lời là không sử dụng phác đồ IMCI

Lý do không sử dụng phác đồ IMCI được các

BS đưa ra, theo thứ tự giảm dần là: số lượng bệnh

Trang 4

nhi quá đông, không có thời gian, phác đồ IMCI

không giống với phác đồ tại cơ sở y tế của họ, có

nhiều bệnh lý không được đề cập trong phác đồ,

các khuyến cáo về kháng sinh không phù hợp

thực tế (không sẵn có, không còn nhạy cảm),

không được chấp nhận bởi mẹ bệnh nhi, đồng

nghiệp, thủ trưởng

Có 94% các BS đồng ý hoặc rất đồng về sự

cần thiết của việc giảng dạy IMCI trong trường

đại học 81% cho rằng nên sử dụng phác đồ

IMCI trong lúc khám bệnh nhi tại phòng

khám Tuy nhiên, trên thực tế, không có

trường hợp nào trong nghiên cứu này có sử

dụng quyển phác đồ khi được giám sát 68%

phản đối hoặc rất phản đối về ý kiến cho rằng

“Không cần phải đánh giá chế độ nuôi dưỡng

khi trẻ không nhẹ cân” Có 41% đồng ý với ý

kiến “Cần phải làm mẫu cho bà mẹ tại phòng

khám cách cho trẻ uống thuốc” Có 73% cho

rằng “Cần sử dụng phiếu bà mẹ ở phòng

khám” nhưng trong nghiên cứu này, không có

BS nào dùng phiếu bà mẹ trong lúc khám

bệnh 88% phản đối ý kiến cho rằng “Không

cần phải dành thời gian để nói với bà mẹ về

chế độ ăn và bệnh của trẻ ở phòng khám” Về

thái độ xử trí trước khi chuyển viện, 88% phản

đối ý kiến cho rằng “Trong trường hợp bệnh

nặng, không phải điều trị cấp cứu trước khi

chuyển viện bởi vì sẽ làm chậm trễ việc

chuyển viện” Khi đánh giá chung các phần

khác nhau về thái độ, chỉ có 41% có thái độ tốt

hoặc trung bình với IMCI

Bảng 3: Phân bố về điểm thái độ của đối tượng

nghiên cứu với đối IMCI khi được phỏng vấn (điểm

chuẩn =1)

Điểm T n suấ Tỉ l %

Các yếu tố có liên quan với kỹ năng và

thái độ đối với IMCI

Nhóm SĐH có điểm kỹ năng cao hơn

nhóm ĐH, 0,581 ± 0,219 so với 0,514 ± 0,200 (T

test, p<0,05) Các BS làm việc ở phòng khám của các bệnh viện Nhi Đồng I, Nhi Đồng II và các bệnh viện tỉnh (n=114) có điểm kỹ năng IMCI cao hơn ở các bệnh viện huyện và trạm y

tế (n=101), 0,593 ± 0,207 so với 0,510 ± 0,212 (T test, p<0,01)

Có sự liên quan thuận giữa điểm kỹ năng IMCI trong nghiên cứu và điểm thi lâm sàng nhi khoa trong lúc thực tập chuyên khoa Nhi tại ĐHYD TP HCM (coef, 0,0263, 95% confidence interval: 0,003 - 0,049, R squared: 0,0064)

Có sự liên quan thuận giữa điểm thái độ đối với IMCI và điểm kỹ năng IMCI (coef 0,0284, 95% confidence interval: 0,008 - 0,048, R squared: 0,0014)

Không có sự liên quan giữa điểm kỹ năng IMCI với yếu tố địa lý (tỉnh hay TP HCM), với việc cơ sở y tế đang làm việc có triển khai IMCI hay không cũng như với điểm thi lý thuyết và thực hành IMCI cuối đợt huấn luyện tại ĐHYD TP HCM

BÀN LUẬN Đánh giá kỹ năng thực hành IMCI

Hơn 1/3 số ĐTNC có điểm kỹ năng dưới trung bình Không có BS nào đạt điểm kỹ năng

từ 9 điểm trở lên Điểm kỹ năng trung bình của nghiên cứu là 0,554 ± 0,213 Điều này có nghĩa là các ĐTNC áp dụng đúng khoảng 55% nội dung IMCI đã được huấn luyện Chỉ có 47% ĐTNC kiểm tra 4 dấu hiệu nguy hiểm toàn thân Chỉ có 24% ĐTNC kiểm tra cân nặng khi khám trẻ bệnh dầu tất cả các cơ sở y

tế đều có trang bị cân trẻ em Chỉ có 40% bà mẹ

có con dưới 2 tuổi được các BS hỏi về bú mẹ,

ăn dặm và dinh dưỡng trong lần bệnh này Đa

số BS chỉ quan tâm đến vấn đề nuôi dưỡng trẻ khi bà mẹ than phiền hoặc trẻ có nhẹ cân, thiếu máu mà không xem đây là việc bắt buộc cho trẻ dưới 2 tuổi khi không có chỉ định chuyển viện gấp

Có 7 trẻ cần phải chuyển viện thì 6 trẻ được các BS đánh giá đúng và chuyển trẻ lên

Trang 5

tuyến trên Trong số những trẻ không cần

chuyển viện, cần cho kháng sinh và/ hoặc

kháng sốt rét thì có 63% trẻ đã được điều trị

đúng Ngược lại, có đến 60% trẻ không cần

chuyển viện, không cần cho kháng sinh, đã bị

BS chỉ định kháng sinh điều trị tại nhà Điều

này cho thấy chỉ định sử dụng kháng sinh đối

với bệnh nhi điều trị tại nhà khi thì thiếu, khi

lại thừa Vấn đề tham vấn bà mẹ chưa được

các BS quan tâm nhiều, trừ phần tham vấn về

sử dụng ORS trong tiêu chảy

Điểm kỹ năng trong lần giám sát này

không liên quan đến điểm thi IMCI lý thuyết

lẫn thực hành trong lúc được huấn luyện

IMCI, nhưng có liên quan đến điểm thi thực

hành ở cuối đợt thực tập nhi khoa BS nào có

kiến thức và kỹ năng tốt về nhi khoa sẽ có kỹ

năng điều trị tại phòng khám tốt Kết quả này

cũng cho thấy cách lượng giá về kiến thức và

kỹ năng thực hành IMCI chưa phản ánh đúng

năng lực thật sự của học viên Có thể do học

viên được sử dụng phiếu ghi và phác đồ trong

lúc thực tập và trong lúc lượng giá, nhưng

không sử dụng lúc khám bệnh nhi

Một nghiên cứu lượng giá kết quả huấn

luyện IMCI tái đào tạo đã được thực hiện trên

37 nhân viên y tế tại huyện Tam Bình và Bình

Minh, tỉnh Vĩnh Long năm 2005 Kết quả cho

thấy, các ĐTNC đánh giá đúng 37% các trường

hợp, phân loại đúng 4 triệu chứng chính là

60%, xác định điều trị và điều trị đúng là 35%,

tham vấn đúng là 22%, xử trí lồng ghép đúng

là 22% Như vậy, ngay cả ở một địa phương

được triển khai IMCI, được lượng giá thường

kỳ nhưng kết quả cũng không phải là khả

quan Các nhân viên y tế trong nghiên cứu này

cũng không sử dụng phiếu ghi, phiếu bà mẹ,

phác đồ trong khi xử trí trẻ bệnh, mặc dầu

những dụng cụ này luôn sẵn có(3)

Các đánh giá khác về hiệu quả của việc

huấn luyện IMCI tái đào tạo trên thế giới cho

thấy IMCI có góp phần vào việc cải thiện chất

lượng chăm sóc y tế(1) Tuy nhiên, những nơi

cần sự chăm sóc y tế nhiều hơn (vùng nông

thôn, miền núi,…) thì hiệu quả của chương trình này lại ít hơn(2)

Đánh giá thái độ

Thái độ tốt đối với IMCI có nghĩa là ủng hộ việc giảng dạy IMCI trong trường đại học và nhận thấy sự hữu ích của các nội dung được giảng dạy trong chương trình IMCI Cách đánh giá thái độ của BS về IMCI bằng cách phỏng vấn chỉ phản ánh phần nào sự thật, bởi

vì có đến 80 – 90% ĐTNC có trả lời ủng hộ IMCI liên quan đến các nội dung bao gồm sự cần thiết giảng dạy IMCI cho bác sĩ đa khoa,

sử dụng phiếu bà mẹ, điều trị và tham vấn nhưng chỉ có 64% ĐTNC có điểm kỹ năng IMCI > 0,5 Tính điểm chung các phần khác nhau về thái độ, chỉ có 41% ĐTNC có thái độ tốt hoặc trung bình với IMCI Tuy vậy, có sự liên quan thuận giữa điểm thái độ và điểm kỹ năng IMCI trong lần giám sát này

KẾT LUẬN

Có 90% BS trong nghiên cứu trả lời rằng họ

có áp dụng phác đồ IMCI trong công tác chăm sóc trẻ bệnh hàng ngày tại tuyến y tế cơ sở (trạm y tế hoặc phòng khám ngoại trú bệnh viện) Tuy nhiên, chỉ có 64% đạt điểm kỹ năng IMCI ở mức độ trung bình và tốt Các BS áp dụng đúng khoảng 55% nội dung IMCI được huấn luyện Điểm kỹ năng IMCI có liên quan đến điểm thi lâm sàng nhi khoa và không liên quan với điểm thi IMCI trong khi thực tập tại ĐHYD TPHCM 41% BS có thái độ trung bình hoặc tốt đối với IMCI Thái độ đối với IMCI có liên quan thuận điểm kỹ năng IMCI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chopra M, Patel S, Cloete K et al (2005), “Effect of an IMCI intervention on th quality of care across four districts

in Cape Town, South Africa”, Archives od Diseases in Children, 90:379-401

2 Dean Shuey (2005), IMCI in the word, Orientation Conference on IMCI preservice education, Vientianne, Laos

3 Võ Minh Chương, Đòan Thị Ngọc Diệp, 2006, “Khảo sát việc thực hành xử trí trẻ bệnh tại các cơ sở y tế có triển khai chiến lược Xử trí Lồng ghéo bệnh Trẻ em huyện Bình Minh và Tam Bình tỉnh Vĩnh Long”, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 6

4 WHO (1999), “Integrated Management of Chilhood

Illness”

5 WHO, (1999), “Report of an intercountry workshop on

IMCI preservice training” Geneva, 2 -5 November 1999

6 WHO, Regional Office for the Eastern Mediterranean

(2002) “Regional Consultation on IMCI Preservice

Education, Cairo, September 2002

7 WHO (2005), “Technical updates of the guidelines on

Integrated Management of Childhood Illness (IMCI).

Ngày đăng: 21/01/2020, 10:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm