1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giảm đau trong chuyển dạ bằng gây tê ngoài màng cứng với sự phối hợp thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương

7 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 236,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) là một loại gây tê vùng bằng cách đưa một lượng thuốc tê thích hợp vào khoang ngoài màng cứng. Nó là phương pháp hữu hiệu, được thực hiện một cách dễ dàng, rộng rãi trong điều kiện y tế của chúng ta hiện nay. Bài viết đặc biệt nhấn mạnh đến sự phối hợp giữa thuốc tê và thuốc nghiện, vì đây là phương pháp dùng thuốc hữu hiệu nhất so với trước đây vì nó cho kết quả tốt nhất. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

VÀ THUỐC GIẢM ĐAU TRUNG ƯƠNG

Nguyễn Văn Chinh*, Tô Văn Thình**, Nguyễn Văn Chừng*

TÓM TẮT

Gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) là một loại gây tê vùng bằng cách đưa một lượng thuốc tê thích hợp vào khoang ngoài màng cứng Nó là phương pháp hữu hiệu, được thực hiện một cách dễ dàng, rộng rãi trong điều kiện y tế của chúng ta hiện nay Chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến sự phối hợp giữa thuốc tê và thuốc nghiện, vì đây là phương pháp dùng thuốc hữu hiệu nhất so với trước đây vì nó cho kết quả tốt nhất Tác dụng trên chuyển dạ đáng lưu ý là dãn nở cổ tử cung và di chuyển của thai Giai đoạn 1 của chuyển dạ có thể kéo dài nếu ta thực hiện gây tê vào thời điểm không thích hợp hoặc dùng nồng độ thuốc không thích hợp cũng như liều tiêm bolus cuối cùng Sự chuẩn bị chu dáo trước chuyển dạ, sự theo dõi chặt chẽ trước, trong và sau chuyển dạ để phát hiện và xử trí kịp thời những biến chứng xảy ra sẽ góp phần cho sự thành công Để giảm bớt bất lợi của GTNMC trên chuyển dạ, ta cần có sự phối hợp với sản khoa chặt chẽ để thực hiện các phương pháp tốt nhất trên cơ sở giục sanh đúng lúc, diễn đạt các trường có nhịp tim thai càng chính xác thì càng tốt và đặc biệt là can thiệp đúng lúc

SUMMARY

EPIDURAL ANESTHESIA BY THE COMBINED OF BUPIVACAIN

AND FENTANYL TO PAIN RELIEF IN LABOR

Nguyen Van Chinh, To Van Thinh, Nguyen Van Chung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 22 – 28

Epidural Anesthesia is the regional Anesthesia, using the suitable anesthetic drug to pump into the epidural space This is the method tobe effective, performing easily and widely in condition of our country We insiste on the conbination of the local anesthetics and the opioids This is the most efficacious drug administration with the best results The effects of the regional anesthesia on the dilation of the cervix and the progess of the fetus are insisted The first stage of the labor may be prolonged if we start the analgesia at the time which is not suitable and also the latest bolus injections A well – prepared Labor and a close careful monitoring during and after the Labor must be applied in order to detect and manage

in time complications It will contribute to succesful method.To decrease the disadavantages of the epidural anesthesia in the labor, we must collaborate with the obstetricians about the best methods on the basis of performing the stimulation at the approriate time, well interpretting the variabilities of fetal heard

rates and specially the intervention must be carried down at time

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiên chức lớn nhất của người phụ nữ là làm mẹ

Quá trình từ lúc mang thai cho đến lúc sanh con quả

là đầy khó khăn, gian khổ Không phải hiển nhiên mà

dân gian ta có câu: “mang nặng, đẻ đau” Đau khi

sanh là một trong những cơn đau lớn nhất đối với phụ nữ, cơn đau làm cho cuộc chuyển dạ trở nên khó khăn, phức tạp hơn, nhất là trong trường hợp sản phụ có bệnh lý kèm theo Phương pháp giảm đau trong chuyển dạ là để góp phần giúp cho việc sanh nở trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn Giảm đau chuyển dạ có

* Bộ môn Gây Mê Hồi Sức - ĐH Y Dược, TPHCM

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

ích cho cả người mẹ lẫn thai nhi bởi vì cơn đau khi

sanh do co bóp tử cung, làm thay đổi, giảm sự phân

bố máu cung cấp oxy cho thai nhi; cơn đau còn làm

tăng mức độ tiêu thụ oxy ở người mẹ Trong những

trường hợp bệnh lý như sản giật, một phương pháp

giảm đau thích hợp sẽ giúp kiểm soát huyết động và

giảm các phản ứng giao cảm ở người mẹ

Tại TPHCM, BV Hùng Vương đã thực hiện giảm

đau trong chuyển dạ từ năm 1988, với 30 bệnh

nhân, trong nghiên cứu này đã sử dụng kim tê

TUOHY 16 và catheter thì tận dụng dây catheter

tĩnh mạch và thuốc tê là LIDOCAIN sản xuất trong

nước Ngày nay, phương pháp giảm đau trong

chuyển dạ bằng GTNMC với sự phối hợp thuốc tê và

thuốc giảm đau trung ương được ứng dụng rộng rãi

trên thế giới và phát triển không chỉ bó gọn trong

giảm đau cho người mẹ mà còn nhằm mục đích

mang lại sự kiểm soát tốt và sự hài lòng cho sản

phụ Nó cũng phải bảo đảm không nguy hiểm cho

trẻ sơ sinh và ảnh hưởng không đáng kể đến tỷ lệ

phải can thiệp bằng phẫu thuật

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

• Đánh giá hiệu quả của phương pháp GTNMC với

sự phối hợp thuốc tê và thuốc giảm đau trung

ương để giảm đaụ cho các sản phụ (SP) trong

quá trình chuyển dạ

• Phân tích những thuận lợi và khó khăn của

phương pháp giảm đau trong chuyển dạ, từ đó

đưa ra phương pháp vô cảm thích hợp để giảm

đau khi sản phụ chuyển dạ

• Theo dõi và xử lý những bất thường trong quá

trình nghiên cứu

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiền cứu,

mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân đến sanh taị BV Hùng Vương

và yêu cầu được áp dụng phương pháp Gây tê giảm

đau chuyển dạ

Vật liệu nghiên cứu

• Máy móc, dụng cụ, trang thiết bị như một cuộc gây tê bình thường

• Thuốc tê Marcain 0,5%, thuốc nghiện Fentanyl, bộ kim TUOHY số 18 có kèm theo catheter và bộ nối

• Dụng cụ theo dõi bệnh nhân và tim thai, thuốc cấp cứu hồi sức dịch truyền Lactated Ringers, NaCl 0,9%

Phương pháp tiến hành

• Thăm khám và chuẩn bị bệnh nhân như một cuộc gây mê bình thường

• Thực hiện phương pháp gây tê ngoài màng cứng: Tê tại chổ TL 3-4 với Marcain 0,5% 1ml (5mg) Tê NMC TL 3-4 với độ sâu khoang NMC tuỳ theo bệnh nhân, luồn catheter vào khoang NMC với độ sâu khoảng 3 cm Bơm liều test Marcain 0,5% 2ml (10mg), sau khi M, HA của sản phụ ổn định và giơ hai chân lên cao được bình thường thì bơm liều bolus Marcain 0,125% + 50mcg Fentanyl Sau liều bolus 10 phút, dùng bơm tiêm điện truyền Marcain 0,125% + Fentanyl 1mcg/1ml với vận tốc 8ml/g

• Theo dõi bệnh nhân trước, trong và sau khi thực hiện thủ thuật, xử lý những rối loạn khi cần thiết

• Thu thập và xử lý số liệu theo phương pháp thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ 1/2003 đến 6/2004 tại Bệnh Viện Hùng Vương TPHCM, chúng tôi đã thực hiện 289 trường hợp GTNMC để giảm đau chuyển dạ Kết quả thu thập và phân tích như sau:

Tuổi sản phụ

Tuổi ≤ 20 21 - 30 31 – 40 41 – 50 Tổng

Tỷ lệ % 14,18 52,60 31,49 1,73 100

Tuổi trung bình: 28,21 tuổi ± 0,69 tuổi

Trang 3

Số ca 25 157 93 14 289

Tỷ lệ % 8,65 54,33 32,18 4,84 100

Cân nặng trung bình: 58,82 kg ± 0,81 kg

Chiều cao sản phụ:

Chiều cao (cm) < 150 150 - 160 > 160 Tổng

Tỷ lệ % 11,42 80,97 7,61 100

Chiều cao trung bình: 154,80 cm ± 0,25 cm

Thời gian làm thủ thuật:

Thời gian (phút) 10-20 21-30 31-40 Tổng

Tỷ lệ % 83,39 15,23 1,38 100

Thời gian làm thủ thuật trung bình: 16,88 phút ±

0,50 phút

Thời gian lưu Catheter: Tính từ lúc đặt

đến lúc rút catheter:

Thời gian (giờ) ≤ 1 >1 – 2 > 2 – 3 >3 – 4 >4 Tổng

Số TH 54 115 49 44 27 289

Tỷ lệ % 18,68 39,80 16,96 15,22 9,34 100

Thời gian lưu catheter trung bình: 2,11 giờ ± 0,12

giờ

Đường chích

Chích GTNMC theo đường giữa hoặc đường bên:

Đường chích Đường giữa Đường bên Tổng

Kiểu sanh:

Kiểu sanh: Sanh thường Sanh dụng cụ Sanh mổ Tổng

Tỷ lệ % 68,52 18,34 13,14 100

Số lần sanh: Con so hay con rạ

Con Con so Con rạ Tổng

Cân nặng của con:

Cân nặng (Kg) < 2 kg >2 – 3 kg >3 – 4 kg > 4 kg Tổng

Tỷ lệ % 0,35 33,22 65,73 0,70 100

Cân nặng của con trung bình: 3,17 kg ± 0,06 kg

Tỷ lệ % 5,54 78,20 16,26 100

Đa số chỉ số apgar sau 1 phút và sau 5 phút là 7/8 chiếm 78,20%

Vùng mất cảm giác đau

Vùng mất cảm giác đau Bên T Bên P Hai bên Không Tổng

Tỷ lệ % 4,84 8,65 84,43 2,08 100

Thang điểm đau (VAS):

Thang điểm đau 0 – 1 >1 – 3 >3 – 5 >5 - 8 >8 - 10 Tổng

Tỷ lệ % 24,91 38,06 28,72 6,23 2,08 100

Phong bế vận động: đánh giá theo thang điểm

Bromage

Phong bế vận động Độ 0 Độ 1 Độ 2 Độ 3 Tổng

Tỷ lệ % 78,54 19,38 2,08 0 100

Cảm tưởng của sản phụ:

Cảm tưởng SP Tốt Khá Trung bình Kém Tổng

Tỷ lệ % 61,94 28,03 6,92 3,11 100

Biến chứng:

Biến chứng Số TH Tỷ lệ %

NHẬN XÉT – BÀN LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi có một số nhận xét sau và đi sâu vào khâu kỹ thuật vì chính điều này mới quyết định sự thàng công của phương pháp:

Đa số các sản phụ đều nằm trong tuổi sanh đẻ

Từ 20 – 40 tuổi, chiều cao, cân nặng cũng phù hợp với thể tạng người Việt Nam

Thời gian làm thủ thuật trung bình

16,88 phút ± 0,50 phút Tất nhiên đây là thời gian thực hiện của những người có kinh nghiệm,

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

khoảng thời gian này phù hợp và cho phép trong điều

kiện áp lực bệnh quá đông như ở các bệnh viện của

chúng ta

Thời gian lưu catheter trung bình

2,11 giờ ± 0,12 giờ, đối với các sản phụ sanh con

rạ thì thời gian chuyển dạ sanh ít hơn và như vậy quá

trình lưu catheter cũng ngắn hơn, trong khi những

sản phụ sanh con so thì ngược lại, do quá trình

chuyển dạ thường kéo dài cũng kéo theo thời gian lưu

catheter lâu hơn Chúng tôi tiến hành rút catheter

ngay khi sanh xong hoặc khi may tầng sinh môn

xong (nếu có cắt TSM)

Về đường tiếp cận vào khoang ngoài

màng cứng

Đường giữa: đây là đường thông thường nhất,

trên nguyên tắc kim phải đi vào nơi tiếp giáp qua hai

lá bên thì tỷ lệ thành công cao, nếu không kim sẽ

lệch bên cạnh đốt sống Như vậy ở tư thế nằm theo

một số tác giả nêu lên các khó khăn ở sản phụ béo

phì, vì đường lõm của lưng không trùng với mấu đốt

sống Do đó ở sản phụ béo phì thì tư thế ngồi giúp

cho thực hiện dễ dàng hơn Dù đi đường giữa ở tư thế

nào cũng không quan trọng vì nó tùy thuộc vào sự

khéo léo và người làm thủ thuật

Đường bên: trên lý thuyết, đường bên có nhiều ý

kiến khác nhau Theo CHESTNUT đường bên có

nhiều thuận lợi trên lý thuyết vì nó dễ xác định dây

chằng vàng, khó đi lệch một bên, catheter chắc chắn

đi về phía đầu Nhưng khuyết điểm của nó là dễ chọc

dò vào mạch máu vì các tĩnh mạch ngoài màng cứng

thường nằm ở 2 bên mấu đốt sống

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện đa số

là đường giữa, đường bên dành cho trường hợp thất

bại đường giữa hoặc sản phụ khó gập người

Tai biến; Biến chứng:

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không gặp

những biến chứng quan trọng Các biến chứng trên

chỉ xảy ra thoáng qua với tỷ lệ thấp và chúng tôi cũng

không can thiệp gì đáng kể, không có trường hợp nào

phải dùng thuốc Chúng ta cũng cần lưu ý những chỉ

định và chống chỉ định của gây tê ngoài màng cứng

nói chung và trong sản khoa Thông thường chúng tôi thực hiện phương pháp này khi có thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng được cho phép Chẳng hạn bệnh nhân không có vấn đề về cột sống hay cận lâm sàng các xét nghiệm đông máu trong giới hạn bình thường Người thực hiện thủ thuật cũng phải có những kinh nghiệm cần thiết trong phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong sản khoa (lưu ý không nên chọc kim vào khi bệnh nhân đang trong cơn gò)

Xác định khoang ngòai màng cứng

Có nhiều kỹ thuật xác định khoang NMC, nhưng

ta đề cập đến 2 lọai phổ biến:

Giọt nước treo

Căn cứ vào áp lực âm ảo ở sản phụ khi kim đi vào khoang NMC, nhưng ở sản phụ áp lực này thay đổi nhiều vì tĩnh mạch chủ dưới bị chèn ép, do đó đường hồi lưu chủ yếu là tĩnh mạch hai bên cột sống và một phần là tĩnh mạch NMC Các tĩnh mạch này phồng to thu hẹp thể tích khoang NMC, mỗi khi có cơn gò thì tĩnh mạch căng phồng làm cho áp lực âm ảo trở thành dương hoặc nó chỉ trở thành âm khi kim TUOHY đẩy màng cứng về phía trước Do đó nguy cơ chọc thủng màng cứng rất cao Chúng tôi nghĩ rằng kỹ thuật này không nên áp dụng trong sản khoa

Mất sức cản

Đây là kỹ thuật phổ biến nhất, biện minh cho kỹ thuật này phải nói đến THOMAS MOORE (1972) Thực vậy với áp lực dương áp trên piston khi qua khỏi dây chằng vàng sẽ tạo một áp lực tách màng cứng nhất là khi dùng chất lỏng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện đa số là dùng hai lọai khí và chất lỏng cho mất cảm giác “hẫng rõ rệt hơn”, nhất là cảm giác dội khi có chất lỏng

Kiểu sanh

Cách sanh thường chiếm đa số: 68,52%, sanh dụng cụ: 18,34%, sanh mổ: 13,14% Qua kết quả thu thập được trong nghiên cứu thời gian gần đây (Năm 2004), chúng tôi nhận thấy rằng tỉ lệ can thiệp bằng sanh mổ và sanh dụng cụ trong các TH áp dụng phương pháp giảm đau tăng rõ rệt là vì: hiện nay,

Trang 5

SP có bệnh lý kèm theo nhằm giảm đau tối đa trong

quá trình chuyển dạ Do đó tỉ lệ can thiệp sanh mổ

hay sanh dụng cụ tăng lên Mặc khác, các chỉ định

can thiệp như thế này còn xuất phát từ các chỉ định

sản khoa như: thai suy, dây rốn quấn cổ, cơn gò

cường tính, bất xứng đầu chậu

Số lần sanh

Tỷ lệ sanh con so và con rạ gần tương đương

nhau với con so chiếm 52,60%, con rạ chiếm 47,40%

Với những SP sanh con so, do quá trình chuyển dạ

lâu hơn, cảm giác đau nhiều hơn Hơn nữa tâm lý lo

âu, mệt mỏi do chuyển dạ kéo dài, và nhiều những

yếu tố khác làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình

chuyển dạ Ngoài ra, cảm giác đau thay đổi theo:

- Kích thước của thai, ngôi thai

- Tốc độ giãn nở CTC: khác nhau giữa SP sanh

con rạ và con so

- Cường độ và thời gian các cơn gò

- Dinh dưỡng kém, mệt mỏi, thiếu ngủ: thường

gặp ở SP sanh con so

- Các yếu tố tâm lý như lo âu, vật vã hoặc stress:

khác nhau giữa SP sanh con rạ và con so

Chỉ số Apgar

Đa số các TH thì chỉ số Apgar của thai nhi là sau

1 phút: 7 điểm, sau 5 phút: 8 hoặc 9 điểm, chiếm

95% Điều đó cho thấy là quá trình GTNMC để giảm

đau trong chuyển dạ với sự phối hợp thuốc hợp lý sẽ

không ảnh hưởng đến chỉ số Apgar thai nhi

Mức độ suy hô hấp của thai có tương quan với

liều của thuốc nghiện dùng đường quanh tủy sống,

chúng tôi ghi nhận không nên vượt quá liều khuyến

cáo

Vùng mất cảm giác đau

Trong nghiên cứu ghi nhận được tỉ lệ mất cảm

giác đau bên trái chiếm 4,84%, bên phải chiếm

8,65%, hai bên là 84,43% và không có vùng mất cảm

giác đau là 2,08% Sự không đối xứng này liên quan

đến sự khuếch tán không tốt của thuốc tê, vị trí

không phải là bên còn lại hoàn toàn bình thường, cũng có giảm đau nhưng không đạt hiệu quả mong

muốn Còn lại, đa số là giảm đau cả hai bên (84,43%)

Thang điểm đau

Chúng tôi sử dụng thang điểm VAS, đây là thang điểm thường dùng nhất và đơn giản vì là thang điểm nhìn bằng mắt Sự giảm đau được đánh giá cho điểm (từ 0 đến 10 điểm) thông qua vẻ mặt của SP, kết quả thu được: trên 90% là từ không đau đến đau ít, đặc biệt là 24,91% hoàn toàn không đau khi sanh thường chiếmø ¼ các TH đạt hiệu quả tốt đa Ngoài ra, để đánh giá chất lượng và hiệu quả giảm đau, chúng tôi nhờ SP nhận xét đau đã được giảm nhẹ như thế nào và chúng tôi trắc nghiệm lại bằng châm kim, sờ, hoặc cảm giác nóng lạnh ở các phân đoạn thần kinh ngoài

da giúp ước lượng mức tê trên và dưới của GTNMC cũng như bên phải hay bên trái (sự không đối xứng) và mức tê theo thời gian Điều này giúp chúng tôi phát hiện tê không đủ, chủ yếu là do catheter di chuyển, với mức tê trên không tăng thêm mặc dù đã tiêm lập lại liều thuốc tê Cũng có thể phát hiện quá liều do giảm đau vùng xương cùng quá sâu lúc bắt đầu chuyển dạ làm ảnh hưởng đến diễn tiến của chuyển dạ

Phong bế vận động

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ không có phong bế vận động (độ 0) là 78,54%, phong bế độ 1: 19,38%, phong bế độ 2: 2,08%, và không có

TH nào phong bế vận động hoàn toàn Trong đó, mức phong bế vận động độ 1 thường rơi vào nhóm SP có thời gian lưu catheter > 3 giờ và tất cả mức phong bế vận động độ 2 rơi vào nhóm SP có thời gian lưu catheter > 4 giờ Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, nghĩa là đối với bupivacain tác dụng phong bế vận động như sau:

- Nồng độ 0,5%: phong bế vận động từng phần ngay ở liều đầu tiên

- Nồng độ 0,25%: phong bế vận động hoàn toàn sau 4 liều

Trang 6

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

- Nồng độ 0,125% (bơm điện): phong bế vận động

sau 4 giờ

- Nồng độ 0,06%: không có phong bế vận động

Bupivacain là thuốc chủ yếu với đặc tính là liệt

vận động ít và thời gian bắt đầu tác dụng chậm

Ngược lại, lidocain: thời gian bắt đầu tác dụng nhanh,

nhưng liệt vận động nhiều

Cảm tưởng sản phụ

Trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận được tỉ lệ

SP đánh giá là tốt là 61,94%, tỉ lệ SP đánh giá là khá

là 28,03%, tỉ lệ SP đánh giá là trung bình là 6,92%, tỉ

lệ SP đánh giá là kém là 3,11% Như vậy, tỉ lệ được

xem là đạt yêu cầu chiếm 90%, đây là con số rất có ý

nghĩa Tuy nhiên vẫn còn đó 3,11% thất bại, nghĩa là

SP vẫn còn đau khi sanh Theo y văn thì tỉ lệ này

chiếm từ 1 – 5% tùy tác giả Như các nguyên nhân đã

phân tích ở trên, tỉ lệ này dù thấp nhưng vẫn nói lên

được tầm quan trọng của khâu kỹ thuật, yếu tố quyết

định cho sự thành công của phương pháp

Tác dụng trên chuyển dạ

Tê ngoài màng cứng có ảnh hưởng trên chuyển

dạ: trong giai đoạn 1 của chuyển dạ, tê NMC làm CTC

mở dễ dàng trong đó cơn gò đồng bộ hơn và hữu hiệu

hơn Tê NMC tác dụng trực tiếp trên CTC trong đó

phong bế hệ giao cảm và đối giao cảm của CTC thông

qua đám rối thần kinh hạ vị, nhờ đó CTC mềm và xóa

mở dễ trên lâm sàng, chúng tôi nhận thấy rằng giai

đoạn 1 có thể ngắn hơn so với sanh thường Tỷ lệ phù

nề CTC rất thấp, nếu không có trở ngại về mặt cơ học

Tê NMC cũng có tác dụng là gián tiếp trên bình

chỉnh chủ yếu là cơ thắt lưng chậu, đoạn dưới TC,

trương lực cơ TC và tầng sinh môn

Tác dụng có lợi của tê NMC:

Ơû giai đoạn 1 CTC dãn nhanh, huyết động học

của thai và mẹ có cải thiện, thời gian này được rút

ngắn Ơû giai đoạn 2 thời gian sổ có thể ngắn hơn nếu

ta bảo tồn được trương lực cơ thẳng thành bụng

Tác dụng bất lợi của tê NMC

- Chuyển dạ kéo dài: do sự bình chỉnh kém hoặc

đầu ngửa Điều này dễ xảy ra ở nồng độ Marcain

0,25% lặp lại từ liều thứ 4 trở lên (1995)

- Ở giai đoạn 2, do đầu xoay trong khung chậu chậm, trương lực cơ thành bụng giảm do đó phải can thiệp nhiều hơn

- Tác dụng bất lợi, về phía gây mê cần thay đổi liều lượng thuốc tê theo diễn biến của chuyển dạ, về phía sản khoa thấu hiểu rõ tác dụng của tê NMC trên chuyển dạ để điều khiển cuộc đẻ được kết quả tốt nhất là sanh ngả âm đạo

KẾT LUẬN

Kết quả đánh giá giảm đau từ các yếu tố khảo sát đã cho thấy các tỉ lệ đạt yêu cầu đều > 90%, không có các tai biến, biến chứng đáng kể Giảm đau chuyển dạ đã góp phần tăng tính an toàn và hiệu quả trong sản khoa, tạo thoải mái cho các sản phụ cũng như cho các nhà chuyên khoa sản

Vấn đề phối hợp giữa Bupivacaine 0,125%và Fentanyl 1μg/1ml dùng trong GTNMC bằng cách dùng bơm tiêm điện cũng đã cho thấy những ưu điểm, thuận lợi rõ rệt như duy trì nồng độ thuốc ổn định, cải thiện chất lượng giảm đau, giảm liều lượng sử dụng của cả hai nhóm thuốc và do đó giảm được các tác dụng phụ của thuốc

Tóm lại, đau gây nhiều hậu quả về sinh lý hô hấp, tuần hoàn và sinh hóa Tất cả những hậu quả này đều gây nguy hại cho sản phụ và cho thai Một phương pháp vô cảm thích hợp sẽ làm giảm hoặc ngăn ngừa các rối loạn trên Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy GTNMC với sự phối hợp Bupivacaine 0,125%và Fentanyl 1μg/1ml là phương pháp giảm đau trong chuyển dạ thích hợp cho các sản phụ và còn được chỉ định ưu tiên khi sản phụ có bệnh kèm theo như: HA cao, suyễn, tiểu đường, bệnh tim Điều kiện thiết yếu là Sp và thai nhi phải được theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình chuyển dạ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bonica J.: “Principles and practice of obstetric

anesthesia and analgesia” Edit: 1972 Epidural

analgesia; Pages: 532 – 560

2 Chestnut DH: “Obstetric anesthesia”: Principles and

practice Edit 2001; Pages: 360 – 426

Trang 7

4 Lê Minh Đại: “Điểm lại tình hình điều trị giảm đau

quanh mổ và giảm đau trong sản khoa những năm

gần đây” Sanh hoạt khoa học kỹ thuật chuyên đề

GMHS trong lĩnh vực SP khoa, Bênh viện Phụ Sản Tp

HCM, 1998, tr 5 – 11

5 Nguyễn Thị Hồng Vân và Tô Văn Thình: “Giảm đau

chuyển dạ bằng GTNMC với Bupivacaine” Hội nghị

khoa học GMHS toàn quốc lần thứ III, Huế, 1998, tr

111-117

6 Nguyễn Văn Chừng: Gây tê tủy sống với Dolargan

Tạp chí Y học Chuyên đề nghiên cứu khoa học trường

ĐHYD TPHCM 1994: 254-257

7 Norris M, Stockbridge, Georgia “Epidural Analgesia

for Labor Safety and Success”, American Society of

8 Norris MC.: “Handbook Of Obsteric Anesthesia”: Edit:

2000 Neuroaxial Analgesia for labor Techniques, Pages: 230 – 249

9 Schnider M.: “Anesthesia for obstetrics”: Sol 3rd Edit

1993, Regional anesthesia for labor Delievery; Pages:

135 – 156

10 Tô Văn Thình: “Giảm đau sản khoa bằng GTNMC”

Tài liệu huấn luyện 1995, Tác dụng của tê NMC trên chuyển dạ, tr 45 – 55

Ngày đăng: 21/01/2020, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w