1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Liên quan giữa đường huyết lúc nhập viện với thể tích máu vào não thất và tỷ lệ tử vong tại bệnh viện ở bệnh nhân xuất huyết não

5 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 353,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục đích về tăng đường huyết có tác dụng xấu trên bệnh nhân xuất huyết não. Nghiên cứu này nhằm xác định mối liên quan giữa đường huyết lúc nhập viện với thể tích máu chảy vào não thất và tỷ lệ tử vong tại bệnh viện ở bệnh nhân xuất huyết não.

Trang 1

VỚI THỂ TÍCH MÁU VÀO NÃO THẤT VÀ TỶ LỆ TỬ VONG  

TẠI BỆNH VIỆN Ở BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT NÃO 

Nguyễn Hữu Tín*, Lê Tự Phương Thảo* 

TÓM TẮT 

Mục đích: Tăng đường huyết có tác dụng xấu trên bệnh nhân xuất huyết não. Nghiên cứu này nhằm xác 

định mối liên quan giữa đường huyết lúc nhập viện với thể tích máu chảy vào não thất và tỷ lệ tử vong tại bệnh  viện ở bệnh nhân xuất huyết não. 

Đối tượng và phương pháp: Tất cả bệnh nhân xuất huyết não ‐ não thất tự phát trên lều lần đầu nhập vào 

Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 03/2012 đến tháng 06/2013 có đủ tiêu chuẩn  được đưa vào nghiên cứu. Các thông tin về lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh học sọ não và kết cục của bệnh  nhân tại thời điểm xuất viện được ghi nhận. Đường huyết được đo lúc nhập viện. Phân tích hồi qui logistic và  hồi qui tuyến tính đa biến được dùng để xác định liên quan giữa đường huyết lúc nhập viện với thể tích máu vào  não thất và tỷ lệ tử vong tại bệnh viện. Dùng đường cong ROC tính chỉ số Youden cực đại để xác định mức  đường huyết có ý nghĩa tiên lượng tử vong tại bệnh viện với độ nhạy và độ đặc hiệu lý tưởng nhất. 

Kết quả: Có 116 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu. Mức đường huyết trung bình lúc nhập viện là 9,66 

± 3,14 mmol/l (3,4 – 25 mmol/l). Đường huyết lúc nhập viện tương quan tuyến tính với thể tích máu vào não  thất (B = 0,035; 95% CI: 0,016 – 0,055; P = 0,001) và là yếu tố tiên lượng tử vong tại bệnh viện (OR = 1,355;  95% CI: 1,096 – 1,676; P = 0,018). 

Kết luận: Tăng đường huyết sau xuất huyết não liên quan với thể tích máu chảy vào não thất và là yếu tố 

tiên lượng tử vong tại bệnh viện. 

Từ khóa: Xuất huyết não, tăng đường huyết, xuất huyết trong não thất. 

ABSTRACT 

CORRELATION BETWEEN ADMISSION GLUCOSE LEVEL   WITH INTRAVENTRICULAR BLOOD VOLUME AND IN‐HOSPITAL MORTALITY  

IN PATIENTS WITH  INTRACEREBRAL HEMORRHAGE 

Nguyen Huu Tin, Le Tu Phuong Thao * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 6 ‐ 2013: 46 ‐ 50

Objective:  Hyperglycemia  after  spontaneous  intracerebral  hemorrhage  (ICH)  is  associated  with  poor 

outcome. This study aimed to determine the association between admission hyperglycemia with intraventricular  blood volume and in‐hospital mortality in patients with  intracerebral hemorrhage. 

Methods:  Patients  diagnosed  first‐ever  supratentorial  spontaneous  intracerebral  hemorrhage  with  blood 

into ventricles admitted to the Neurological Department of Gia Dinh People Hospital from April 2012 to Jun 

2013 were enrolled in study. Clinical, radiographic, laboratory and outcome at discharge were collected. Logistic  and  linear  regression  analyses  were  used  to  identify  the  association  between  admission  hyperglycemia  with  intraventricular  extention  blood  and  with  in‐hospital  mortality.  Receiver  operating  characteristic  analysis  was  used to identify the glucoe level with optimal sensitivity and specificity for in‐hospital mortality. 

Results: 116 patients were included in the analysis. Mean admission glucose level was 9.66 ± 3.14 mmol/l 

* Khoa Nội Thần kinh ‐ Bệnh viện Nhân Dân Gia Định  

Tác giả liên lạc: ThS.BS.Nguyễn Hữu Tín   ĐT : 0905.253.565    Email : drnguyenhuutin@gmail.com 

Trang 2

(3.4 – 25 mmol/l). Admission glucose level was linear correlation with  intraventricular extention blood volume  (B = 0.035; 95% CI: 0.016 – 0.055; P = 0.001) and was independent predictor  of in‐hospital mortality (OR =  1.355; 95% CI: 1.096 – 1.676; P = 0.018). 

Conclusions:  Admission  hyperglycemia  after  spontaneous  intracerebral  hemorrhage  is  associated  with 

severity of intraventricular extention and was independent predictor  of in‐hospital mortality. 

Key Words: Intracerebral hemorrhage, hyperglycemia, intraventricular hemorrhage 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Xuất  huyết  não  (XHN)  là  bệnh  lý  thường 

gặp, chiếm 10‐15% trong tai biến mạch máu não 

ở  Mỹ  và  Châu  Âu.  Ở  Việt  Nam  và  các  nước 

Châu Á chiếm tỷ lệ cao hơn đến 30‐40%(6). XHN 

có  tỷ  lệ  tử  vong  cao,  chỉ  khoảng  38%  sống  sót 

trong năm đầu. Tăng đường huyết (ĐH) thường 

gặp ở bệnh nhân XHN, chiếm khoảng 43‐59% và 

là  yếu  tố  tiên  lượng  xấu(3,1,4,8).  XHN  được  coi  là 

nguyên  nhân  gây  tăng  đường  huyết  gián  tiếp, 

thông  qua  cơ  chế  thần  kinh  –  nội  tiết.  Sinh  lý 

bệnh  và  các  yếu  tố  nguy  cơ  của  tăng  đường 

huyết đi kèm XHN vẫn còn chưa được biết rõ(3). 

Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu 

về  ảnh  hưởng  của  mức  đường  huyết  lúc  nhập 

viện lên diễn tiến lâm sàng, hình ảnh học sọ não 

và  tỷ  lệ  tử  vong  ở  bệnh  nhân  XHN  tự  phát.  Ở 

Việt Nam còn ít công trình nghiên cứu về vấn đề 

này. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này 

nhằm xác định mối liên quan giữa đường huyết 

lúc nhập viện với thể tích máu chảy vào não thất 

và tỷ lệ tử vong tại bệnh viện ở bệnh nhân XHN 

tự phát trên lều. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Các  bệnh  nhân  nhập  vào  Khoa  Nội  Thần 

kinh Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, trên 16 tuổi, 

được chẩn đoán XHN tự phát lần đầu, chụp CT. 

scan  sọ  não  thấy  có  hình  ảnh  khối  máu  tụ  trên 

lều,  kèm  chảy  máu  vào  não  thất  được  đưa  vào 

nghiên  cứu.  Loại  trừ  các  bệnh  nhân  XHN  do 

chấn  thương,  do  u  não,  nhồi  máu  não  chuyển 

dạng  xuất  huyết,  chảy  máu  dưới  nhện,  tiền  sử 

XHN hay nhồi máu não. 

Phương pháp nghiên cứu 

Phương  pháp  cắt  ngang  mô  tả,  kết  hợp 

phương pháp đoàn hệ vừa tiến cứu vừa hồi cứu. 

Cỡ  mẫu  được  tính  dựa  trên  công  thức  tính  cỡ  mẫu  cho  phương  pháp  phân  tích  hồi  qui  đa  biến: n > 104 + m. Với n là cỡ mẫu cần thiết tối  thiểu, m là số biến độc lập sẽ đưa vào phân tích.  Trong nghiên cứu này dự định có 10 biến được  đưa vào phân tích, do đó n > 104 + 10 = 114.  Bệnh  nhân  được  làm  các  xét  nghiệm  thường  qui,  glucose  máu  lúc  nhập  viện,  chụp 

CT.  scan  sọ  não  và  được  theo  dõi  và  điều  trị  theo phác đồ mới nhất của Hội Tim mạch/ Hội  Đột quị Hoa Kỳ(8).Tình trạng ý thức được đánh  giá  bằng  thang  điểm  hôn  mê  Glasgow  (GCS:  Glasgow  Coma  Scale).  Thể  tích  khối  máu  tụ  (KMT) trong não được tính theo phương pháp  R.U. Kothary: V = ½ ABC, với C đã được hiệu  chỉnh.  Thể  tích  máu  trong  não  thất  được  tính  dựa  vào  điểm  IVHS  (Intraventricular  hemorrhage score): V = eIVHS/5(4). Kết cục của  bệnh  nhân  được  đánh  giá  tại  thời  điểm  xuất  viện có tử vong hay không tử vong. 

Số  liệu  được  thu  thập  và  xử  lý  dựa  vào  phần mềm SPSS 16,0. Các biến định tính được  trình  bày  dưới  dạng  các  tỷ  lệ  phần  trăm.  Các  biến  định  lượng  được  trình  bày  dưới  dạng  trung  bình  ±  độ  lệch  chuẩn  (M  ±  SD).  Phép  kiểm định χ2 được dùng để so sánh hai tỷ lệ,  phép  kiểm  định  T  được  dùng  để  so  sánh  hai  trung bình. Phân tích hồi qui tuyến tính và hồi  qui logistic đa biến được dùng để xác định liên  quan giữa đường huyết lúc nhập viện  với  thể  tích máu tràn vào não thất và tỷ lệ tử vong tại  bệnh viện. Dùng đường cong ROC tính chỉ số  Youden cực đại để xác định mức đường huyết 

có ý nghĩa tiên lượng tử vong với độ nhạy và 

độ  đặc  hiệu  lý  tưởng  nhất.  Khác  biệt  có  ý  nghĩa thống kê khi p < 0,05. 

KẾT QUẢ 

Trang 3

06/2013  có  116  bệnh  nhân  đủ  tiêu  chuẩn  được 

đưa vào nghiên cứu. Tuổi trung bình 59,9 ± 13,3 

(38 – 92 tuổi), có 41 bệnh nhân nữ (chiếm 35,3%). 

Tiền  sử  đái  tháo  đường  gặp  ở  14  bệnh  nhân 

(chiếm  12,1%).  Thể  tích  máu  chảy  vào  não  thất 

trung  bình  26,93  ±  30,92  ml.  Mức  đường  huyết 

trung bình lúc nhập viện 9,66 ± 3,14 mmol/l (3,4 

–  25  mmol/l).  Phân  tích  đơn  biến  giữa  nhóm 

sống và nhóm tử vong thấy có khác biệt về các 

yếu  tố:  thể  tích  khối  máu  tụ,  thể  tích  máu  vào 

não thất, mức độ lệch đường giữa, đường huyết 

lúc nhập viện, huyết áp tâm thu lúc nhập viện, 

điểm GCS lúc nhập viện (Bảng 1). 

Bảng 1: Một số đặc điểm chungcủa mẫu nghiên cứu 

và giữa hai nhóm tử vong và không tử vong qua 

phân tích đơn biến 

Yếu tố

Toàn bộ mẫu (n = 116)

Nhóm sống (n = 44;

37,9%)

Nhóm tử vong (n = 72;

62,1%)

P

Tuổi 59,9 ± 13,3 61,2 ± 12,6 59,2 ± 13,8 0,447

Giới (35,3%) Nữ 41 (40,9%) Nữ 18 Nữ 23 (31,9) 0,217

Tiền sử ĐTĐ 14 (12,1%) 3 (6,8%) (15,3%) 11 0,143

VKMT (ml) 39,19 ± 45,19 15,1 ± 14,2 53,9 ± 51,0 0,000

VMNT (ml) 26,93 ± 30,92 10,7 ± 15,8 36,8 ± 33,6 0,000

Lệch đường

giữa (cm) 0,6 ± 0,6

0,27 ± 0,31

0,80 ± 0,60 0,000

ĐH lúc nhập

viện(mmol/l) 9,66 ± 3,14

7,61 ± 2,23

10,92 ± 3,41 0,000

HA tâm thu

(mmHg) 179,4 ± 36,3

170,0 ± 36,0

185,1 ± 35,6 0,029

HA tâm

trương(mmHg) 97,5 ± 16,3 94,3 ± 13,4 99,4 ± 17,6 0,101

Điểm GCS 8,4 ± 4,1 11,4 ± 3,5 6,7 ± 3,4 0,000

(ĐTĐ: Đái tháo đường; VKMT: Thể tích khối máu tụ; V‐

MNT: Thể tích máu trong não thất) 

Qua  phân  tích  hồi  qui  tuyến  tính  đa  biến 

với hiệu chỉnh các yếu tố tuổi, giới, tiền sử đái 

tháo  đường,  VKMT,  mức  độ  lệch  đường  giữa 

thấy  đường  huyết  lúc  nhập  viện  có  liên  quan 

tuyến tính với thể tích máu chảy vào não thất 

(Bảng 2). 

Bảng 2: Các yếu tố liên quan đến tăng đường huyết 

qua phân tích hồi qui tuyến tính đa biến 

Yếu tố P Hệ số hồi qui (B) chuẩn hóa (β) Hệ số hồi qui 95% CI

Tiền sử

GCS 0,003 -0,239 -0,287 -0,394 - -0,084

HA tâm

Di lệch

Phân tích hồi qui logistic đa biến để xác định  các yếu tố tiên lượng tử vong tại bệnh viện. Sau 

đó  chỉ  các  biến  có  ý  nghĩa  được  đưa  vào  phân  tích tiếp để hiệu chỉnh OR thấy đường huyết lúc  nhập viện có giá trị tiên lượng tử vong. Các yếu 

tố  khác  cũng  có  giá  trị  tiên  lượng  tử  vong  bao  gồm  điểm  GCS  lúc  nhập  viện  và  thể  tích  khối  máu tụ. 

Bảng 3: Các yếu tố tiên lượng tử vong tại bệnh viện 

qua phân tích đa biến 

Yếu tố P OR (hc) 95% CI

HA tâm thu

HA tâm trương

0,787 0,735

ĐH lúc nhập viện 0,018 1,355 1,096 – 1,676

Dùng  đường  cong  ROC  để  tính  chỉ  số  Youden  cực  đại:  J  =  max  (Se  +  Sp  –  1),  chúng  tôi  lấy  điểm  cắt  ở  mức  đường  huyết  là  8,4  mmol/l  có  ý  nghĩa  tiên  lượng  tử  vong  với  độ  nhạy  Se  =  77,8%  và  độ  đặc  hiệu  Sp  =  72,7%  (hình 1). 

Trang 4

Hình 1: Đường cong ROC để tìm giá trị đường 

huyết có ý nghĩa tiên lượng tử vong. Diện tích dưới 

dường cong là 9,97. 

BÀN LUẬN 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  có  mối 

liên quan giữa tăng đường huyết lúc nhập viện 

với tỷ lệ tử vong sớm tại bệnh viện ở bệnh nhân 

XHN  tự  phát.  Chúng  tôi  cũng  xác  định  được 

mức  đường  huyết  8,4  mmol/l  có  giá  trị  tiên 

lượng  tử  vong  với  độ  nhạy  và  độ  đặc  hiệu  lý 

tưởng nhất. Điểm cắt cho mức đường huyết của 

các  nghiên  cứu  trước  đây  thay  đổi  từ  6  –  10 

mmol/l(3).  Yannick    Be1jot  và  cs  (2012)  nghiên 

cứu trên 465 bệnh nhân bị XHN lần đầu thấy ở 

nhóm  đường  huyết  lúc  nhập  viện  cao  (  ≥  8,6 

mmol/l)  đi  kèm  với  khả  năng  hồi  phục  chức 

năng kém lúc xuất viện và tăng tỷ lệ tử vong sau 

1  tháng(11).  Geoffrey  Appelboom  và  cs  (2011) 

nghiên  cứu  104  bệnh  nhân  XHN  tự  phát  thấy 

tăng đường huyết lúc nhập  viện  làm  tăng  tỷ  lệ 

tử vong tại bệnh viện cũng như tỷ lệ tử vong sau 

3 tháng(1). R Fogelholm và cs (2005) nghiên cứu 

trên 329 bệnh nhân XHN thấy đường huyết cao 

lúc nhập viện làm tăng tỷ lệ tử vong ở thời điểm 

28 ngày trong cả 2 nhóm có đái tháo đường và 

không có đái tháo đường(3). Điều này ngược với 

nhồi máu não lỗ khuyết. Ở bệnh nhân nhồi máu 

não  lỗ  khuyết,  tăng  đường  huyết  ở  mức  vừa 

phải  (8  –  12  mmol/l)  có  kết  cục  tốt  hơn  bệnh 

nhân có mức đường huyết bình thường(2,7,10). Cơ  chế chưa được biết rõ. 

XHN làm phá vỡ hàng rào máu não, nhu mô  não tiếp xúc với mức đường huyết cao đưa đến  chuyển hóa glucose yếm khí, gây tích tụ lactate,  làm  mô  não  nhiễm  acid,  hình  thành  các  gốc  tự 

do,  phóng  thích  các  acid  amin  kích  thích  (excitatory amino acids), làm các ion canxi đi vào 

tế  bào  quá  nhiều.  Đường  huyết  cao  làm  giảm  lưu lượng máu não, giảm cung cấp oxy cho não,  làm  gia  tăng  phù  não,  tăng  áp  lực  nội  sọ,  làm  chết các tế bào thần kinh quanh khối máu tụ(1,9).  Điều  này  giải  thích  mối  liên  quan  giữa  tăng  đường  huyết  và  tỷ  lệ  tử  vong.  Cần  có  những  nghiên  cứu  sâu  hơn  nữa,  với  cỡ  mẫu  lớn  hơn  nữa  để  xác  định  mức  đường  huyết  tối  ưu  cần  phải can thiệp điều trị bằng insulin ngay để dự  phòng những tổn thương tế bào thần kinh trung  ương do tăng đường huyết gây nên. 

Chúng tôi cũng xác định mối liên quan giữa  đường huyết lúc nhập viện với thể tích máu vào  não  thất,  tiền  sử  ĐTĐ  và  điểm  GCS  lúc  nhập  viện.  Có  mối  liên  quan  tuyến  tính  dương  giữa  đường huyết lúc nhập viện với thể tích máu vào  não  thất.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cũng  phù  hợp  với  kết  quả  nghiên  cứu  của  Geoffrey  Appelboom và cs(1).  

Cơ chế của tăng đường huyết do máu vào  não thất chưa được biết rõ, có thể do dãn não  thất tạo nên một phản ứng mạnh mẽ hoạt hóa 

hệ  giao  cảm  phóng  thích  các  Catecholamine,  Cortisol và các Cytokin viêm. Một cơ chế khác 

là  máu  vào  não  thất  làm  hoạt  hóa  bất  thường  trục  hạ  đồi  –  tuyến  yên  –  tuyến  thượng  thận  thông  qua  việc  phóng  thích  các  sản  phẩm  từ  quá trình thoái hóa máu và các chất gây viêm  vào  hệ  thống  não  thất  gây  kích  thích  các  cấu  trúc  ở  vùng  hạ  đồi(1).  Ngược  lại,  tăng  đường  huyết có thể là yếu tố làm xuất hiện cũng như  làm tăng thể tích máu chảy vào não thất(5). Bởi 

vì mức đường huyết cao lúc nhập viện đi kèm  với  mức  độ  nặng  của  đột  quị,  nên  các  tác  giả  đưa  ra  giả  thuyết  rằng  đường  huyết  cao  lúc  nhập viện là kết quả của XHN nặng. 

Trang 5

Qua  nghiên  cứu  này  chúng  tôi  thấy  rằng 

tăng  đường  huyết  sau  xuất  huyết  não  liên 

quan với thể tích máu chảy vào não thất và là 

yếu  tố  tiên  lượng  tử  vong  tại  bệnh  viện.  Tuy 

nhiên  cần  có  những  nghiên  cứu  sâu  hơn  để 

khẳng định thêm. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Appelboom G, Piazza MA, Hwang BY et al (2011). Severity of 

intraventricular  extension  correlates  with  level  of  admission 

glucose after intracerebral hemorrhage. Stroke, 42: 1883‐1888. 

2 Bruno A, Biller J, Adams HP Jr, et al (1999). Acute blood glucose 

level and outcome from ischemic stroke. Trial of ORG 10172 in 

Acute  Stroke  Treatment  (TOAST)  Investigators. 

Neurology,52(2):280‐284. 

3 Fogelholm  R,  Murros  K,  Rissanen  A,  Avikainen  S  (2005). 

Admission  blood  glucose  and  short  term  survival  in  primary 

intracerebral  haemrrhage:  a  population  based  study.  J  Neurol 

Neurosurg Psychiatry, 76: 349‐353. 

4 Hen  H,  Dar  NS,  Barreto  AD,  Morales  MM,  Martin‐Schild  S, 

Abraham AT, Walker KC, Gonzales NR (2009). The IVH Score: 

A  novel  tool  for  estimating  intraventricular  hemorrhage 

volume:  Clinical  and  research  implications.  Critical  Care 

Medicine, Volume 37,Issue 3:969‐e1. 

5 Hoàng Khánh (2004). Dịch tễ học tai biến mạch máu não.Trong: 

Daniel D. Trương, Lê Đức Hinh, Nguyễn Thi Hùng. Thần kinh 

học lâm sàng, 159‐171. Nhà xuất bản y học,TP Hồ Chí Minh. 

6 Kimura  K,  Iguchi  Y,  Inoue  T,  Shibazaki  K,  Matsumoto  N,  Kobayashi  K  et  al  (2007).  Hyperglycemia  independently  increases  the  risk  of  early  death  in  acute  spontaneous  intracerebral hemorrhage. J Neurol Sci, 255:90–94. 

7 Mandava  P,  Lutsep  HL  (2013).  Hyperglycemia  and 

emedicine.medscape.com/article/1162340‐

overview#aw2aab6b4. Updated: Jun 10, 2013. 

8 Morgenstern LB et al (2010). Guidelines for the Management of  Spontaneous  Intracerebral  Hemorrhage:  A  Guideline  for  Healthcare  Professionals  From  the  American  Heart  Association/American Stroke Association. Stroke, 41:2108‐2129. 

9 Song  EC,  Chu  K,  Jeong  SW,  Jung  KH,  Kim  SH,  Kim  M,  et  al  (2003).  Hyperglycemia  exacerbates  brain  edema  and  perihematomal  cell  death  after  intracerebral  hemorrhage.  Stroke,34: 2215–2220. 

10 Uyttenboogaart  M,  Koch  MW,  Stewart  RE,  Vroomen  PC,  Luijckx  GJ,  De  Keyser  J.  (2007).  Moderate  hyperglycaemia  is  associated  with  favourable  outcome  in  acute  lacunar  stroke.  Brain,130:1626‐1630. 

11 Yannick  B,  Aboa‐Eboulé  C,  Hervieu  M  et  al  (2012).  The  deleterious effect of Admission hyperglycemia on survival and  functional  outcome  in  patients  with  intracerebral  hemorrhage.  Stroke, 43: 243‐245. 

 

Ngày nhận bài báo: 15/8/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/9/2013  Ngày bài báo được đăng: 10/12/2013 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 10:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w