Bài viết có nội dung trình bày về: Ứng dụng kỹ thuật FISH (fluorescent in situ hybridization) trong chẩn đoán đột biến gen elastin gây hội chứng williams‐beuren. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.
Trang 1HYBRIDIZATION) TRONG CHẨN ĐOÁN ĐỘT BIẾN GEN ELASTIN
GÂY HỘI CHỨNG WILLIAMS‐BEUREN
Nguyễn Thị Băng Sương *
TÓM TẮT
Mở đầu: Hội chứng Williams‐Beuren (WBS) là bệnh di truyền trội do đột biến mất đoạn gen Elastin nằm ở
locus 7q11.23 trên trên nhiễm sắc thể số 7. Hội chứng gây ra nhiều tổn thương, đặc biệt là ở hệ tim mạch. Chẩn đoán xác định bệnh có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng các dị tật cũng như định hướng điều trị cho bệnh nhân. Ở Việt Nam, việc ứng dụng phương pháp sinh học phân tử trong chẩn đoán xác định WBS còn rất hạn chế.
Mục tiêu: Chẩn đoán đột biến gene elastin (ELN) gây hội chứng Williams bằng kỹ thuật FISH.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Những bệnh nhân được chẩn đoán Williams‐Beuren trên lâm
sàng với vẻ mặt điển hình và các tổn thương tim mạch đặc hiệu cũng như đã có kết quả dương tính với phản ứng MLPA. Tiến hành kỹ thuật FISH để xây dựng quy trình.
Kết quả: Tất cả các bệnh nhân đều dương tính với phản ứng FISH.
Kết luận: Như vậy kỹ thuật FISH là phương pháp sinh học phân tử có thể ứng dụng trong chẩn đoán xác
định WBS ở Việt Nam.
Từ khóa: 7q11.23, FISH, MLPA, vi mất đoạn, Williams‐Beuren.
ABSTRACT
APPLICATION OF FLUORESCENT IN SITU HYBRIDIZATION FOR DIAGNOSIS OF MUTATIONS
IN ELASTIN GENE WHICH CAUSE WILLIAMS‐BEUREN SYNDROME
Nguyen Thi Bang Suong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 24 ‐ 28
Introduction: Williams‐Beuren syndrome (WBS) is the dominant genetic disease caused by a mutation in
Elastin gene which locates in 7q11.23 of region on chromosome 7. Most of mutations is deletion. Syndrome caused many injuries, especially in the cardiovascular system. In many countries, FISH has been used for genetic diagnosis of William‐Beuren syndrome.
Objectives: Diagnosis of mutations in Elastin gene by fluorescent in situ hybridization technique.
Patients and methods: Five patients were diagnosed William‐Beuren based on clinical and subclinical
diagnostic results. In addition, DNA of all these patients were analysed by multiplex ligation‐dependent probe applification technique and we found that their Elastin gene were deleted. Design FISH procedure to diagnose William‐Beuren syndrome.
Results: All five patients were positive with FISH reaction, their Elastin gene showed mutations.
Conclusions: We have successfully applied the FISH technique for the diagnosis of William-Beuren
syndrome
Keywords: 7q11.23, FISH, MLPA, deletion, Williams‐Beuren.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự mất đoạn có kích thước từ 1,55 đến
1,85Mb trên nhiễm sắc thể số 7, liên quan đến 26‐28 gene, được cho là nguyên nhân gây nên
Trang 2hội chứng Williams‐Beuren (WBS, Williams‐
Beuren syndrome). Ước tính trên thế giới tỷ lệ
mắc bệnh là 1/10000 ca sinh, trong đó sự mất
đoạn 1,55Mb chiếm phần lớn. Gen Elastin, nằm
giữa vùng mất đoạn, có vai trò rất quan trọng
trong chức năng của cơ thể. Sự đột biến làm mất
đi gene này gây ra các dị tật đặc trưng nhất của
hội chứng Williams‐Beuren như hẹp trên van
động mạch chủ, hẹp động mạch phổi ngoại vi
hay bất thường của động mạch nuôi cơ(2,12,13).
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về đột
biến gene gây nên hội chứng WBS và phát triển
các phương pháp chẩn đoán sinh học phân tử
khác nhau, mỗi phương pháp có các ưu nhược
điểm khác nhau(6,10,12).
Ở Việt Nam, những nghiên cứu trên hội
chứng WBS vẫn còn hạn chế. Hiện nay tại các
trung tâm phẫu thuật tim mạch trong cả nước
nói chung và tại thành phố Hồ Chí Minh nói
riêng, bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng
Williams chỉ dựa vào các đặc điểm hình thể đặc
trưng, nhất là khuôn mặt gợi ý, tính cách cởi mở
và đặc biệt là tổn thương hẹp trên van động
mạch chủ và/hoặc hẹp động mạch phổi chứ
chưa có chẩn đoán phân tử chính xác. Mặc khác,
những trẻ em mắc hội chứng Williams nhưng
không có biểu hiện tim mạch thì hầu như bị bỏ
sót chẩn đoán. Việc chẩn đoán chính xác hội
chứng Williams bằng phương pháp sinh học
phân tử sẽ giúp nâng cao khả năng phát hiện
bệnh cũng như thiết lập cơ sở cho việc theo dõi
lâu dài cũng như có những biện pháp tư vấn, hỗ
trợ thích hợp.
Tiêu chuẩn vàng giúp chẩn đoán bệnh là
phân tích phát hiện đột biến gen, trong đó đột
biến gen Elastin là nguyên nhân chủ yếu gây
bệnh(11). Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã ứng
dụng thành công quy trình chẩn đoán đột biến
mất đoạn gen Elastin bằng kỹ thuật MLPA. Tuy
nhiên một số tác giả cho rằng kỹ thuật FISH có
giá trị đặc hiệu cao trong xác định đột biến gen
Elastin. FISH là một kỹ thuật phân tích nhiễm
sắc thể sử dụng các probe gene elastin chuẩn bị
sẵn. Nếu một bệnh nhân có hai copy ELN (mỗi
copy nằm trên một nhiễm sắc thể số 7) thì người này không mắc hội chứng Williams. Nếu một người chỉ có một copy ELN thì được chẩn đoán mắc hội chứng này. Gần như tất cả (98‐99%) bệnh nhân mắc hội chứng Williams có mất đoạn gene ELN cùng với 26 gene khác(4).
Một khi tuổi thọ bệnh nhân mắc hội chứng Williams được tăng lên thì khả năng kết hôn và sinh con có thể xảy ra. Trong trường hợp này chẩn đoán xác định bằng phương pháp phân tủ
sẽ tạo điều kiện cho tư vấn di truyền và chẩn đoán trước sinh. Xuất phát từ nhu cầu thực tế
trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Ứng dụng kỹ
thuật FISH (Fluorescence In Situ Hybridization) trong chẩn đoán đột biến gene elastin (ELN) gây hội chứng Williams”
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP Đối tượng nghiên cứu
Nhóm chứng
10 nam và 10 nữ bình thường, tiền sử gia đình không có ai mắc bệnh di truyền.
Nhóm nghiên cứu
5 bệnh nhân (2 nam và 3 nữ) được chẩn đoán mắc phải hội chứng Williams‐Beuren dựa vào các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và
đã được xác định có đột biến mất đoạn gen Elastin bằng kỹ thuật MLPA.
Phương pháp nghiên cứu
Lấy mẫu xét nghiệm
Lấy 5 ml máu ngoại biên trong ống nắp xanh
lá cây chứa heparin. Tiến hành ly tâm thu bạch cầu, trữ trong dung dịch fixative (3 methanol:1 acid acetic)
Tiến hành kỹ thuật FISH
Quy trình FISH được thực hiện theo hướng dẫn của kit Vysis (Abbott). Theo đó các mẫu dò
và mẫu được biến tính ở 73oC trong 5 phút và lai qua đêm ở 37oC. Sau bước rửa, DAPI được sử dụng như màu nền. Mẫu sẽ được quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang Leika DM2000. Hiện nay, theo hãng sản xuất, các probe và màu
Trang 3cam)/ LSI D7S486, D7S522 (màu xanh lá).
Xử lý mẫu
Nhược trương tế bào bằng dung dịch KCL
0,56%.
Cố định tế bào bằng dung dịch Carnoy.
Nhỏ cặn tế bào lên lam kính sạch đã đánh
dấu sẵn vùng lai.
Biến tính DNA đích bằng dung dịch biến
tính Formamide 70%/2X SSC.
Khử dung dịch biến tính bằng cồn 70%, 85%,
100%.
Tiến hành phản ứng lai giữa DNA dò với DNA
đích và rửa sau lai
Nhỏ 3 μl DNA dò lên vùng vừa lai đã được
đánh dấu.
Đậy lá kính mỏng lên vùng vừa lai và dán
viền xung quanh bằng dung kịch keo.
Ủ tiêu bản ở 37°C qua đêm.
Bỏ lá kính mỏng và lớp keo dán ra khỏi tiêu
bản.
Lần lượt rửa tiêu bản trong hai dung dịch
rửa Formamide 50%/4X SSC và 2X SSC.
Rửa sạch bằng dung dịch PBS pH7,4.
Nhuộm, quan sát và phân tích tiêu bản
Nhỏ 10 μl thuốc nhuộm DAPI lên vùng lai
trên tiêu bản. Rửa bằng dung dịch PBS pH 7,4.
Nhỏ dung dịch DABCO chống bay màu
thuốc thuộm lên vùng lai, đậy lá kính mỏng lên
và quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang.
Đánh giá, phân tích kết quả lai theo chỉ dẫn
của hãng sản xuất.
KẾT QUẢ
Nhóm chứng thực hiện phản ứng FISH
đồng thời với mẫu bệnh nhân nhằm để so sánh.
Trong đó nhóm chứng sẽ cho kết quả có 2 vị trí
phát tín hiệu huỳnh quang màu cam và 2 vị trí
phát tín hiệu huỳnh quang màu xanh lá (Hình
1A). Kết quả phản ứng FISH của 5 bệnh nhân
dưới dạng hình ảnh được trình bày ở hình 1B.
Hình 1: Kết quả FISH. A: Người bình thường, có hai
huỳnh quang màu xanh và hai huỳnh quang màu đỏ; B: Bệnh nhân bị đột biến mất đoạn gây hội chứng Williams‐Beuren, chỉ xuất hiện hai huỳnh quang màu xanh và một huỳnh quang màu đỏ.
BÀN LUẬN
Từ khi FISH ra đời, kỹ thuật này được ứng dụng cho chẩn đoán các bệnh liên quan đến rối loạn nhiễm sắc thể. So sánh với các phương pháp ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử khác như real‐time PCR, microsatellite, FISH vẫn là tiêu chuẩn vàng được các phòng xét nghiệm trên thế giới sử dụng làm cơ sở để kiểm chứng kết quả. Mặc dù FISH là một phương pháp tốn nhiều công lao động, đòi hỏi thời gian và sự tỉ
mỉ, không thể tự động hóa được. Thêm vào đó, các hóa chất sử dụng cho FISH cũng rất độc hại.
Trang 4biệt là đối với các dạng đột biến mất đoạn dài
trên nhiễm sắc thể như ở hội chứng WBS(6,10).
Một kỹ thuật khác cũng được phát triển để
chuẩn đoán WBS là real‐time PCR (hay QPCR,
PCR định lượng). Đây cũng được coi là một
chiến lượng hay vì nguyên tắc không quá phức
tạp, thao tác cũng đơn giản có thể tự động
hóa(7,14). Tuy nhiên, thực hiện kỹ thuật này cần
thiết bị hiện đại, quá trình chuẩn hóa và thiết kế
gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật đặc biệt là trình
tự đặc trưng. Bên cạnh đó số lượng phản ứng
cần thiết cho một xét nghiệm (thường phải sử
dụng nhiều cặp mồi để khuếch đại nhiều vùng
mục tiêu trên vùng Williams‐Beuren) làm cho
giá thành của phương pháp này có thể tăng cao.
Phương pháp sử dụng microsatellite cho độ
nhạy khá cao cũng như có thể phán đoán được
kích thước của trình tự bị mất và giá thành rẻ(5).
Tuy nhiên phương pháp này lại có thể cho kết
quả âm tính giả do chỉ kiểm tra gián tiếp sự tồn
tại của vùng gene mục tiêu. Vì vậy có thể bỏ sót
một số trường hợp.
Trong nghiên cứu, chúng tôi đã ứng dụng
thành công kỹ thuật FISH trong chẩn đoán WBS.
Kết quả của chúng tôi thu được cho thấy các
bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng rất đặc trưng,
cũng như đã dương tính với phản ứng MLPA
đều cho kết quả có đột biến mất đoạn gen
Elastin. Cả 5 bệnh nhân tham gia vào nghiên
cứu đều cho kết quả giống nhau với mất đoạn
gen Elastin trên một allen, đây là dạng mất đoạn
điển hình ở các bệnh nhân WBS. Bệnh di truyền
trội trên nhiễm sắc thể thường nên chỉ cần đột
biến trên 1 allele đã biểu hiện kiểu hình đặc
trưng của hội chứng WBS. Điều này phù hợp
với các nghiên cứu của Bayes M và Dutra RL(0, 4).
Kết quả FISH đối với bố và mẹ của hai bệnh
nhân trong số 5 bệnh nhân được khảo sát cho
kết quả âm tính (không được hiển thị), ở cả hai
gia đình, người bố và mẹ đều là người bình
thường không mang gen bệnh. Như vậy đột
biến ở bệnh nhân là đột biến tự phát sinh chứ
không phải do di truyền từ bố hoặc mẹ. Điều
này cũng hoàn toàn hợp lý với cơ chế gây ra WBS, do sự sai hỏng trong quá trình tái tổ hợp tương đồng ở quá trình giảm phân tạo giao
tử(18,12). Tuy nhiên khi những người mắc phải hội chứng này lớn lên, lập gia đình thì khả năng gây bệnh cho người con là 50%(11). Do vậy cần phải chẩn đoán hội chứng WBS để có hướng điều trị hợp lý, tránh xảy ra trường hợp đột tử do nguy
cơ tim mạch, cũng như giúp quản lý sự lan truyền gen bệnh trong cộng đồng.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Từ những bàn luận ở trên chúng tôi kết luận rằng FISH là một phương pháp cần được sử dụng làm nền tảng cho các phương pháp khác ở các phòng thí nghiệm, phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong chẩn đoán các bệnh di truyền nói chung và bệnh Williams‐Beuren nói riêng.
Vì những nghiên cứu WBS trên quần thể người Việt Nam là chưa rộng rãi nhưng lại rất cần thiết, chúng tôi đề nghị cần có những nghiên cứu lớn hơn, trong đó sử dụng phương pháp FISH đề khảo sát là rất phù hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(2003). Mutational mechanisms of Williams‐Beuren syndrome
deletions. Am J Hum Genet, 73: 131‐51.
syndrome: a genetic deletion disorder presenting clues to the
hypersociability. CNS Spectr, 12: 903‐7.
Jehee FS, Bertola DR, Kim CA (2012). Copy number variation
in Williams‐Beuren syndrome: suitable diagnostic strategy for developing countries. BMC Res Notes, 5, 13.
Kim CA (2011). Detection of deletions at 7q11.23 in Williams‐ Beuren syndrome by polymorphic markers. Clinics (Sao Paulo), 66: 959‐64.
manifestations in 75 patients with Williams syndrome. J Med Genet, 39: 554‐8.
S, Choudhury U, Bottani A, Antonarakis SE, Fryssira H, Dallapiccola B, Reymond A (2006). Two high throughput technologies to detect segmental aneuploidies identify new Williams‐Beuren syndrome patients with atypical deletions. J Med Genet, 43: 266‐73.
Trang 58 Kozlowski P, Jasinska AJ, Kwiatkowski DJ (2008). New
applications and developments in the use of multiplex
ligation‐dependent probe amplification. Electrophoresis, 29:
4627‐36.
Leonard CO, Carey JC, Keating M, Brothman AR (1995).
Strong correlation of elastin deletions, detected by FISH, with
Williams syndrome: evaluation of 235 patients. Am J Hum
Genet, 57: 49‐53.
number variants at Williams‐Beuren syndrome 7q11.23
region. Hum Genet, 128: 3‐26.
(2005). Autosomal dominant inheritance of Williams‐Beuren
syndrome in a father and son with haploinsufficiency for
FKBP6. Clin Dysmorphol, 14: 61‐5.
362: 239‐52.
treatment of cardiovascular disease in Williams‐Beuren syndrome. J Clin Invest, 118: 1606‐15.
determination of deletion size using quantitative real‐time PCR. Int J Mol Med, 18: 799‐806.