1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân 2 trường hợp dinh dưỡng trong điều trị tràn dịch dưỡng trấp

6 134 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 195,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung đề tài nghiên cứu nhằm báo cáo về 2 trường hợp dinh dưỡng trong điều trị tràn dịch dưỡng trấp và cụ thể là 1 trường hợp tràn dịch dưỡng trấp màng phổi, lymphoma đang được hóa trị; 1 trường hợp tràn dịch dưỡng trấp đa màng, lao màng bụng với tiền sử phẫu thuật thắt ống ngực cách đây 3 năm, tác giả mong muốn tóm tắt lại những vấn đề về dinh dưỡng trong bệnh lý này.

Trang 1

NHÂN 2 TRƯỜNG HỢP DINH DƯỠNG TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN DỊCH DƯỠNG TRẤP

Doãn Uyên Vy*, Lưu Ngân Tâm**

TÓM TẮT

Tràn dịch dưỡng trấp xuất hiện với tần suất thấp (1 - 4%), gây nhiều khó khăn trong điều trị Dịch dưỡng trấp từ hệ bạch huyết rò vào các khoang cơ thể như khoang màng phổi, bụng là nguyên nhân gây ra nhiễm trùng, rối loạn nước điện giải, giảm đạm máu hay suy dinh dưỡng Điều trị bảo tồn luôn là biện pháp đầu tiên như dẫn lưu, kháng sinh, bồi hoàn nước điện giải và chăm sóc dinh dưỡng Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch hoàn toàn, kèm với nhịn ăn thường được ưa dùng trong lâm sàng với mục đích làm giảm tiết lượng dịch rò, bồi hoàn chất dinh dưỡng, tuy nhiên tỉ lệ thành công chỉ chiếm khoảng 60 – 80 % Trong khi dinh dưỡng qua đường tiêu hóa lại

ít được quan tâm, dù vẫn an toàn và hiệu quả trong điều trị bệnh lý này

Nhân 2 trường hợp tràn dịch dưỡng trấp: 1 trường hợp tràn dịch dưỡng trấp màng phổi, lymphoma đang được hóa trị; 1 trường hợp tràn dịch dưỡng trấp đa màng, lao màng bụng với tiền sử phẫu thuật thắt ống ngực cách đây 3 năm, chúng tôi mong muốn tóm tắt lại những vấn đề về dinh dưỡng trong bệnh lý này

Từ khóa: tràn dịch dưỡng trấp, MCT, dinh dưỡng tĩnh mạch

ABSTRACT

NUTRITIONAL THERAPY IN CHYLE LEAKAGE: 2 CASE REPORT

Doan Uyen Vy, Luu Ngan Tam

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 2 - 2014: 378-383

The incidence of chyle leakage is low (1 – 4%), it causes significant management and treatment challenges Chylous fluid which is from lymphatic vessels leaks to cavities such as thoracic cavity, abdominal cavity, it can lead to increase infection, electrolyte disorders, hypoalbuminemia, or malnutrition Conservative treatment is always the first choice including drainage, antibiotics, replace fluid and electrolyte, and nutritional care Total parenteral nutrition and fasting prefer to choose in treatment Goal of nutrition therapy are to decrease production

of chyle, maintain nutrients However, the rate of success of total parenteral nutrition was 80%, while enteral nutrition is also safe and effective in these cases but it is less mention

Thanks to 2 cases of chyle leakage: 1 case of chylous effusion, lymphoma with chemical treatment; 1 case of chylous ascites, chylous effusion and chylopericardium, abdomial tuberculosis with history of ligation of the thoracic duct 3 years ago, we reviewed every aspect of nutrition in these cases

Key words: chyle leakage, MCT, parenteral nutrition

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tràn dịch dưỡng trấp xuất hiện với tần suất 1

- 4%, thường xảy ra sau chấn thương hay sau

phẫu thuật vùng ngực, bụng Tình trạng này là

do tổn thương hệ bạch huyết, dẫn đến dịch

dưỡng trấp xuất hiện trong khoang màng phổi,

bụng Điều trị phẫu thuật chỉ được đặt ra khi

điều trị nội khoa thất bại (như dẫn lưu, kháng sinh điều trị nhiễm trùng, cân bằng nước điện giải, thuốc giảm tiết và chăm sóc dinh dưỡng) Trong khi dinh dưỡng hoàn toàn qua đường tĩnh mạch thường được các nhà lâm sàng ưa dùng nhằm làm giảm tối đa lượng dịch rò, thì tỉ lệ thành công lành đường rò chiếm 60 – 80%(1,4)

Trang 2

Bên cạnh đó dinh dưỡng qua đường tiêu hóa

bằng chế độ ăn giàu năng lượng, đạm, ít béo

hoặc với tỉ lệ béo chuỗii trung bình (MCT -

Medium Chain Triglyceride) lại ít được chú ý

đến trong thực hành lâm sàng, dù phương pháp

này vẫn an toàn và hiệu quả trong nhiều trường

hợp chiếm tỷ lệ 50%(10)

Nhân 2 trường hợp được theo dõi và chăm

sóc dinh dưỡng chúng tôi không gì hơn ngoài

mục đích là đưa ra những chứng cứ về tính an

toàn, hiệu quả và hạn chế của các biện pháp

chăm sóc dinh dưỡng

TỔNG QUAN BỆNH LÝ TRÀN DỊCH

DƯỠNG TRẤP

Ảnh hưởng của bệnh đến tình trạng dinh

dưỡng

Thông thường biến chứng liên quan đến

tràn dịch dưỡng trấp là suy dinh dưỡng, giảm

miễn dịch, và có thể làm giảm thể tích, rối loạn

điện giải, giảm albumin huyết tương, giảm

lympho bào, và nhiễm trùng(9) Tràn dịch

dưỡng trấp kéo dài có thể làm tăng mất dịch,

làm giảm thể tích, hạ natri máu, hạ calci, và

toan chuyển hóa(14) Sự thiếu hụt các vitamin

tan trong béo cũng xảy ra do mất chất béo qua

dịch dưỡng trấp mà trong đó có triglyceride

cao và cholesterol thấp(14) Một lượng lớn

protein mất qua dịch dưỡng trấp nhiều nên

làm dịch thay đổi và tăng chuyển hóa Mất

protein nhiều làm giảm miễn dịch do giảm tế

bào T và giảm miễn dịch tế bào trung gian,

làm tăng nguy cơ nhiễm trùng(14)

Tiêu chuẩn chẩn đoán tràn dịch dưỡng trấp

Các biểu hiện: khó thở, đau ngực, nhịp tim

nhanh Đôi khi sau phẫu thuật, thấy dịch dẫn

lưu ra màu trắng đục

Xét nghiệm: đo lượng chylomicron trong

dịch dẫn lưu, nếu > 4%, triglyceride >100 mg/dl

cho phép chẩn đoán dịch dưỡng trấp(6) Đếm tế

bào lynpho thấy >50% có thể cũng phản ánh dịch

dưỡng trấp trong dẫn lưu

Biện pháp điều trị

Điều trị bao gồm dẫn lưu, nghỉ ngơi tại giường, chế độ dinh dưỡng thích hợp Phương pháp nuôi dưỡng bệnh nhân thật sự cho đến này vẫn còn nhiều bàn cãi như nhiều trường hợp chỉ

sử dụng bằng dinh dưỡng tĩnh mạch hòng làm giảm lượng dịch rò hay giúp làm đóng lỗ rò hay một số nghiên cứu lại cho thấy chế độ ăn không béo hay dùng acid béo chuỗi trung bình (MCT) hay các sản phẩm nuôi ăn qua đường tiêu hóa với thành phần MCT cao cũng cho những kết quả như phòng ngừa suy dinh dưỡng, giảm lượng dịch rò Song điều trị bằng dinh dưỡng

có thể góp phần làm đóng kín các đường rò 80% các trường hợp Mục dích của dinh dưỡng điều trị là làm giảm dịch dưỡng trấp, bù dịch và điện giải, cải thiện tình trạng dinh dưỡng(12)

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG Trường hợp 1

- Bệnh nhân nữ, 56 tuổi, nhập viện 27/12/2012, nhập viện vì khó thở ngày càng nhiều và đau bụng thượng vị 6 tháng nay Bệnh nhân nhập bệnh viện Phạm Ngọc Thạch được chẩn đoán: tràn dịch dưỡng trấp màng phổi 2 bên (đang đặt dẫn lưu)/ U sau phúc mạc và được chuyển bệnh viện Chợ Rẫy để tiếp tục điều trị

- Tại bệnh viện Chợ Rẫy: M 100 l/p, HA 100/60 mmHg, Thở 20l/p

+ Dịch dẫn lưu màng phổi màu trắng đục như sữa, dẫn lưu bên phải ra 1000ml/24 giờ, bên trái ra 600 ml/24 giờ

+ Kết quả CTscan bụng: có nang gan phải, nhiều hạch sau phúc mạc, quanh bó mạch chủ, tổn thương phía trước khối mạch sau phúc mạc, nghĩ hạch mạc treo, theo dõi lymphoma Bệnh nhân được mổ sinh thiết u sau phúc mạc và kết quả giải phẫu bệnh là lympho dòng tế bào B lớn lan tỏa, độ ác trung bình

+ Kết quả sinh hóa: dịch dẫn lưu màng phổi

là dưỡng trấp (+), triglyceride/ dịch màng phổi là

236 mg/dl, LDH 334 U/L, protein/dich màng

Trang 3

phổi 1,5 g%, cell block dịch vàng, dịch phản ứng

viêm xuất tiết

CA 19.9 2,54 IU/ml, CEA < 0,2 ng/ml,

Albumin/máu 3,1 g%, prealbumin 26,9 mg/ml,

Triglyceride/máu 188 mg%

Các xét nghiệm khác trong giới hạn bình

thường

+ Chẩn đoán Lymphoma Tế bào B lớn, tràn

dịch dưỡng trấp màng phổi 2 bên

+ Điều trị: dẫn lưu màng phổi; hóa trị đợt 1,

ceftazidime 2g/ ngày, và thuốc hỗ trợ khác Chế

độ ăn: cơm thông thường do bệnh viện cung cấp

(1700- 1800 kcal, 50-54g đạm, 50-52g béo, 280-

283g đường)

+ Diễn tiến:

Từ 27/12/2012 đến 25/1/2013 (26 ngày): Dịch

dẫn lưu màng phổi đục như sữa, tổng lượng

dịch ra 2 bên màng phổi thay đổi mỗi ngày dao

động ở mức từ 1000 đến 1600ml Hàng ngày ăn

khoảng 1/2 suất cơm bệnh viện

Kết quả xét nghiệm: Albumin /máu 2,9 g%,

Prealbumin 7,5 mg/ml

Dịch màng phổi: trắng đục, Protein 1,5 g%, tế

bào nhiều, N 0%, L 89%, TBLV 4%, TBTH 5%

Na 125 mmol/l, K+ 2,9 mmol/l, Cl 91 mmol/l,

Ca 2,2 mmol/l

Điều trị: quá trình theo dõi tràn dịch dưỡng

trấp vẫn chưa cải thiện, thay đổi từ 800 - 1000ml

/ngày Bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng,

rối loạn điện giải

Từ 25/1 đến 6/2 (14 ngày): Có hội chẩn dinh

dưỡng

Tình trạng dinh dưỡng: Thể trạng gầy, teo cơ

vừa, không phù Cân nặng ước khoảng 46 kg

Chỉ định nhịn ăn hoàn toàn (theo yêu cầu

của bác sĩ điều trị tại khoa) và nuôi bằng dinh

dưỡng tĩnh mạch toàn phần (1 túi nutriflex lipid

và glucose 20% 500ml, 1400kcal)

Dịch dưỡng trấp giảm, trong dần và ngừng

tiết Rút dẫn lưu màng phổi 2 bên và bệnh nhân

tiếp tục đợt hóa trị đợt 2 và xuất viện sau 40 ngày điều trị

Trường hợp 2

Bệnh nhân nữ, 30 tuổi, nhập viện ngày 7/12/2012 Lý do vào viện: bụng báng to, khó thở nhẹ, phù chân nhiều

Tiền sử: Đã được điều trị lao màng bụng 2 lần, mỗi đợt điều trị 8 tháng (SRH2E) (đợt cuối vào tháng 1/2012) và có bụng báng to không giảm

Tràn dịch dưỡng trấp và đã được mổ mở ngực thắt ống ngực và làm dính màng phổi vào năm 2008

+ Tình trạng lúc nhập viện: M 90 l/p, HA 90 /69 mmHg, thở 20 lần/p

Da niêm nhạt, phổi có rale nổ 2 bên, bụng báng to

+ Cận lâm sàng:

CTscan ngực bụng: có tràn dịch màng phổi 2 bên, xẹp phổi thụ động 2 bên, tràn dịch màng tim, tràn dịch màng bụng lượng nhiều, ổ tụ dịch vùng hội âm phải Ống ngực từ vị trí túi dưỡng trấp đến chỗ đổ về tĩnh mạch dưới đòn trái thấy

rõ hình dạng ống ngực, không bất thường hình dạng, kích thước

Siêu âm tim: có dãn buồng tim phải và động mạch phổi, tăng áp động mạch phổi nhẹ, EF 78%, có tràn dịch màng ngoài tim lượng ít, tập trung ở thành sau thất trái d = 7 mm, thành sau nhĩ phải d = 10 mm

X quang phổi có thâm nhiễm 2 bên, tràn dịch màng phổi 2 bên

Dịch màng bụng có màu đỏ sậm, để lâu lắng

có lớp đục như sữa ở trên bề mặt Xét nghiệm dịch màng bụng có màu đỏ, hồng cầu nhiểu, tế bào nhiều, L 84%, N 2%, Tế bào liên võng 14%, LDH 107 U/L, ADA 9,5 U/L, protein 4.6 g%, Albumin 2,4 g%, Glucose 164 mg%, Triglyceride

1012 mg%

Dịch màng phổi có màu đỏ, Tế bào 2600, L 85%, hồng cầu +++, glucose 1,3 mmol/l, protein 53,8/69 U/L, LDH 1098/128 U/L

Trang 4

Albumin/máu 3,2 g%, Protid/máu 5,7 g%,

prealbumin/máu 18,1 mg/ml, triglyceride máu

208 mg%, CA 15.3 9,86 IU/ml, Cyfra 21.1 là 1, 21

ng/ml

Các xét nghiệm cơ bản khác ban đầu có giới

hạn bình thường

+ Chẩn đoán: tràn dịch đa màng chưa rõ

nguyên nhân, theo dõi tràn dịch dưỡng trấp do

rò ống ngực – Viêm phổi Tăng áp phổi

+ Điều trị:

Từ 7/12 đến 18/12 (11 ngày): kháng sinh

Cefsul –S 4g/ngày x 7 ngày, sau đó đổi kháng

sinh Tienam 2g/ngày, và Digoxin, Imdur,

Spiromide, Nexium

Tình trạng bệnh nhân bụng vẫn báng to, thở

mệt, ăn kém (½ phần cháo thịt của bệnh viện,

uống sữa vinamilk 150ml/ngày)

Ngày 19/12: Hội chẩn dinh dưỡng

Tỉnh, không khó thở; thể trạng gầy, teo cơ

nặng, chân phù (+++) Ăn uống dưới

1000kcal/ngày (1/2 suất cháo bệnh viện, 150ml

sữa tươi vinamilk) Bụng báng đang được tiếp

tục dẫn lưu

Chỉ định chế độ ăn: cháo thịt nạc, béo < 5%,

ăn lạt (1500kcal, 60g, sodium < 2500mg/ ngày)

Bổ sung dinh dưỡng tĩnh mạch (Aminoplasmal

10% 250 ml + cernervit 1 lọ)

Sau đó được đặt pigtail dẫn lưu dịch màng

bụng, dịch ra trắng đục

Điều trị khác không thay đổi gì thêm

Ngày 20- 27/12:

Ăn uống cải thiện hơn (khoảng 2/3 suất cháo

bệnh viện), dịch dẫn lưu ra ít dần

Điều trị không thay đổi gì thêm

Phối hợp về dinh dưỡng chế độ ăn giàu đạm,

không béo, ăn lạt, và kết hợp dinh dưỡng tĩnh

mạch sau 1 tuần nằm viện Sau một tuần tình

trạng bệnh nhân tràn dịch dưỡng trấp có cải

thiện và được xuất viện sau 21 ngày điều trị

BÀN LUẬN

Rõ ràng qua 2 trường hợp tràn dịch dưỡng trấp có thể thấy rằng chăm sóc dinh dưỡng bệnh nhân đã được chỉ định từ khi bắt đầu và trong suốt quá trình điều trị Một trường hợp được dinh dưỡng ngay từ đầu là chế độ ăn cơm thông thường, sau đó là chỉ định dinh dưỡng tĩnh mạch toàn phần Trường hợp thứ 2 là chế độ cháo thông thường bệnh viện, sau đó được đổi sang chế độ cháo giàu đạm và rất ít béo, phối hợp với dinh dưỡng tĩnh mạch Kết quả: cả hai giảm lượng dịch rò và được xuất viện về

Tuy nhiên cả hai trường hợp đều có tình trạng suy dinh dưỡng mức độ vừa và nặng Là kết quả của cân bằng năng lượng âm (ăn uống ít

so với mất chất dinh dưỡng do dị hóa và rò dưỡng trấp lượng cao) Đồng thời chế độ ăn thật

sự là chưa phù hợp với tình trạng bệnh lý như chế độ ăn thông thường với lượng đạm 11 - 12% tổng năng lượng, lượng béo chiếm 25 - 30% tổng năng lượng, thay vào đó phải là chế độ ăn giàu đạm 13 - 14% tổng năng lượng, béo thấp (<5% tổng năng lượng) hay cung cấp bằng acid béo chuỗi trung bình (MCT- Medium Chain Triglyceride), giảm Natri, theo khuyến nghị của Hội Dinh dưỡng lâm sàng Mỹ (ASPEN 2008) Thật vậy sau quá trình tiêu hóa nhờ các acid dạ dày, men tụy, ruột thì tinh bột đường ở dạng phần lớn glucose (một ít fructose và galactose); protein ở dạng di hoặc tripeptide hoặc acid amin được hấp thu tại ruột non vào hệ thống tĩnh mạch cửa đến gan để tham gia quá trình chuyển hóa, trong khi đó các chất béo triglyceride chuỗi dài có trong thức ăn sẽ được hấp thu vào hệ bạch huyết, nhưng acid béo chuỗi trung bình (MCT) lại được hấp thu trực tiếp vào hệ tĩnh mạch cửa

Vì vậy, chế độ ăn ít béo hay thay bằng acid béo MCT không những làm giảm tiết dịch dưỡng trấp, mà còn phòng ngừa thiếu hụt các chất, phục hồi được tình trạng suy dinh dưỡng, tăng cường chức năng miễn dịch (tăng tiết IgA cho cơ thể), trong khi dinh dưỡng tĩnh mạch chi phí cao, ít được cung cấp đầy đủ cho người bệnh (7,3) Dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch thường được

Trang 5

áp dụng khi dinh dưỡng qua đường tiêu hóa

không đạt đủ nhu cầu hay khi không thể làm

giảm lượng dịch tiết Tỉ lệ thành công trong lành

đường rò là 60 - 80% với dinh dưỡng tĩnh mạch

toàn phần và 50% với dinh dưỡng qua đường

tiêu hóa (1,4,10) Mặt khác trong nhiều trường hợp

được chỉ định dùng octreotide giúp cải thiện

lượng rò dịch dưỡng trấp bằng cơ chế ức chế tiết

dịch bạch huyết thông qua các receptor đặc biệt

được tìm thấy ở trong thành ruột của mạch bạch

huyết (13,15), và ngày nay được khuyến nghị là

điều trị đầu tay trong tràn dịch dưỡng trấp bụng

với bất cứ nguyên nhân rối loạn nào và nên bắt

dầu càng sớm càng tốt(8)

Ở bệnh nhân có tràn dịch ổ bụng lượng

nhiều thì chọc dò tháo dịch là cần thiết để làm

giảm sự khó chịu và khó thở cho người bệnh

Điều trị lợi tiểu spironolactone, cân bằng nước

điện giải là quan trọng Tuy nhiên bù albumin

qua tĩnh mạch sau chọc tháo dịch bụng để tránh

suy chức năng tuần hoàn sau chọc tháo là không

cần thiết, trừ khi bệnh nhân có xơ gan, hay khi

chọc tháo nhiều lần là biện pháp điều trị duy

nhất ở bệnh nhân không thể chịu đựng cuộc mổ

hay điều trị bằng thuốc(2)

Như vậy, qua 2 trường hợp trên có thể

thấy rằng các bệnh nhân có tràn dịch dưỡng

trấp đều phải trải qua quá trình theo dõi dài

ngày tại bệnh viện từ 21 ngày đến 40 ngày,

lượng dịch dưỡng trấp nhiều thì không thể

tránh được những biến chứng do tràn dịch

dưỡng trấp gây ra như suy dinh dưỡng, rối

loạn điện giải, giảm albumin, giảm miễn dịch

cơ thể xảy ra trong quá trình theo dõi Các

bệnh nhân nêu trên đã được kiểm soát và bù

điện giải tốt Dinh dưỡng điều trị (chế độ ăn

đạm cao, béo thấp, giàu MCTs) được theo dõi

đáp ứng như thế nào bởi vì việc điều chỉnh

dinh dưỡng phù hợp làm giảm được 50% các

trường hợp bệnh(9), và dinh dưỡng tĩnh mạch

toàn phần là lựa chọn thứ hai, tỷ lệ thành công

60% - 80% các trường hợp(1,4) Theo nghiên cứu

của Mincher và cộng sự cho thấy tỷ lệ thành

công 100% khi cho phối hợp điều trị

somatostatin và điều chỉnh chế độ ăn không béo ở các bệnh nhân có tràn dịch dưỡng trấp màng bụng(11)

KẾT LUẬN

Tràn dịch dưỡng trấp gây ra nhiều rối loạn như nhiễm trùng, suy dinh dưỡng, rối loạn nước điện giải… và khó khăn trong điều trị Bên cạnh các biện pháp điều trị như dẫn lưu, kháng sinh, lợi tiểu, cân bằng nước điện giải thì chế độ chăm sóc và theo dõi đáp ứng dinh dưỡng là quan trọng Trong đó, chế độ ăn giàu đạm, ít béo hay thay bằng acid béo chuỗi trung bình nên được chỉ định đầu tiên, dinh dưỡng tĩnh mạch thường chỉ định để bổ sung năng lượng, đạm và các chất khi dinh dưỡng qua đường tiêu hóa không đủ nhu cầu, hoặc khi chế độ ăn không thể làm giảm lượng dịch rò Đồng thời điều trị giảm tiết ngày nay thường được phối hợp trong điều trị Phẫu thuật chỉ được đặt ra một khi điều trị bảo tồn bị thất bại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Baniel J et al (1993) Management of chylous ascites after retroperitoneal lymph node dissection for testicular cancer J Urol 150: 1422-1424

2 Cardenas A, Chopra S (2002) Chylous ascite – Clinical reviews Vol 97, No 8, 2002

3 Cárdenas A, Chopra S.(2002) Chylous ascites Am J Gastroenterol;97:1896–1900

4 Combe J et al (1992) Chylothorax and chylous ascites following surgery of an inflammatory aortic aneurysm Case report with review of the literature [French] J Mal Vasc 17: 151-156

5 Dugue L, Sauvanet A, Farges O, Goharin A, Le Mee J, Belghiti J (1998) Output of chyle as an indicator of treatment for chylothorax complicating oesophagectomy Br

J Surg.;85:1147-1149

6 Gregor R (2000) Management of chyle fistulization in association with neck dissection Otolaryngol Head Neck Surg 2000;122:434-439

7 Huang Q, Jiang ZW, Jiang J et al.(2004) Chylous ascites: treated with total parenteral nutrition and somatostatin World J Gastroenterol 2004;10:2588–2591

8 Huang Qi, Jiang Zhi-Wei, Jiang Jun, Li Ning, Li Jie-Shou.(2004) Chylous ascites: Treated with total parenteral nutrition and somatostatin World J Gastroenterol; 10 (17):2588-2591

9 Jensen GL, Masceoli EA, Meyer LP, et al.(1989) Dietary modification of chyle composition in chylothorax Gastroenterology 1989;97:761-765

10 Leibovitch I et al (2002) The diagnosis and management of postoperative chylous ascites J Urol 167: 449-457

11 Mincher L et al (2005) The successful treatment of chylous effusions in malignant disease with octreotide Clin Oncol (R

Trang 6

12 Parrish CR, McCray S (2004) When chyle leaks: nutrition

management options Pract Gastroenterol 2004;28:60-76

13 Shapiro AM, Bain VG, Sigalet DL, Kneteman NM (1996) Rapid

resolution of chylous ascites after liver transplantation using

somatostatin analog and total parenteral nutrition

Transplantation;61:1410–1

14 Spain DA, McClave SA.(2001) Chylothorax and chylous ascites,

In: Gottschlich MM, Fuhrman MP, Hammond KA, Holcombe

BJ, Seidner DL, eds The Science and Practice of Nutrition

Support Dubuque, Iowa: Kendall/Hunt;481-485

15 Widjaja A, Gratz KF, Ockenga J, et al Octreotide for therapy of chylous ascites in yellow nail syndrome Gastroenterology 1999;116:1017–8

Ngày nhận bài: 10/03/2013 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 25/08/2013 Ngày bài báo được đăng: 30/05/2014

Ngày đăng: 21/01/2020, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w