1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xác định độ ổn định giá trị trung vị của các thông số tầm soát ở ba tháng đầu thai kỳ và tính tỷ lệ nguy cơ cao mang thai hội chứng down trên hệ thống autodelfia và phần mềm lifecycle (perki

7 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 367,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định tính ổn định của giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do trong tầm soát thai phụ có nguy cơ cao với chứng Down trong ba tháng đầu thai kỳ bằng hệ thống miễn dịch tự động autodelfia và phần mềm lifecycle và xác định tỉ lệ tầm soát thai phụ có nguy cơ cao mang thai hội chứng Down với ngưỡng cut off là 1:250.

Trang 1

XÁC ĐỊNH ĐỘ ỔN ĐỊNH GIÁ TRỊ TRUNG VỊ CỦA CÁC THÔNG SỐ  TẦM SOÁT Ở BA THÁNG ĐẦU THAI KỲ VÀ TÍNH TỶ LỆ NGUY CƠ  CAO MANG THAI HỘI CHỨNG DOWN TRÊN HỆ THỐNG 

AUTODELFIA  

VÀ PHẦN MỀM LIFECYCLE (PERKIN ELMER) 

Nguyễn Thanh Trầm*, Nguyễn Diệp Hà*, Đỗ Thị Thanh Thủy* 

TÓM TẮT 

Giới thiệu: Tầm soát trước sinh ở 3 tháng đầu thai kỳ nhằm phát hiện sớm những thai phụ có nguy cơ cao 

mang thai hội chứng Down (T21). Sự kết hợp siêu âm đo khoảng sáng gáy (NT: nuchal translucency), tuổi thai 

và  các  dấu  ấn  hóa  sinh  pregnancy‐associated  plasma  protein  A  (PAPP‐A)  và  free  β‐human  chorionic  gonadotrophin (beta HCG tự do) sẽ nâng tỉ lệ phát hiện gần 90%. Hiệu quả của việc tầm soát phụ thuộc vào độ  tin cậy và độ chính xác của việc siêu âm đo NT và giá trị trung vị (MoM) của PAPP‐A và beta HCG tự do.Việc 

sử dụng các phần mềm khác nhau sẽ dẫn đến việc ước tính các nguy cơ không giống nhau. Với hệ thống tầm soát  trước sinh tự động AutoDelfia và phần mềm tính nguy cơ LifeCycle 3.2, chúng tôi xem xét tính ổn định của giá  trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do trong thời gian nghiên cứu.  

Mục tiêu: Xác định tính ổn định của giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do trong tầm soát thai phụ 

có nguy cơ cao với chứng Down trong ba tháng đầu thai kỳ bằng hệ thống miễn dịch tự động Autodelfia và phần  mềm Lifecycle và xác định tỉ lệ tầm soát thai phụ có nguy cơ cao mang thai hội chứng Down với ngưỡng cut off 

là 1:250.  

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sử dụng dữ liệu hồi cứu của 5000 thai phụ mang thai từ 11 đến 

13 tuần 6 ngày tuổi tham gia tầm soát trước sinh ở 3 tháng đầu thai kỳ để xác định tính ổn định của giá trị  trung vị của PAPP‐A và beta HCG tự do và tính tỉ lệ thai phụ có nguy cơ cao với hội chứng Down qua việc sử  dụng hệ thống tầm soát trước sinh tự động AutoDelfia theo cơ chế miễn dịch huỳnh quang và phần mềm tính  nguy cơ LifeCycle 3.2 trong khoảng thời gian từ 12/2011 đến 12/2012. 

Kết  quả:  Giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do theo tuổi thai ở 3 tháng đầu thai kỳ đã được hiệu 

chỉnh và ổn định trong phạm vi ± 5% so với giá trị trung vị đích đã được thiết lập. Tỉ lệ tầm soát thai phụ có  nguy cơ cao với hội chứng Down là 2,86%. 

Kết luận: Qua nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy có thể sử dụng hệ thống tự động AutoDelfia và phần 

mềm LifeCycle để tầm soát cho những thai phụ có nguy cơ cao mang thai hội chứng Down ở 3 tháng đầu thai kì. 

Từ khóa: Beta HCG tự do, CRL, double test, NT, PAPP‐A, tầm soát ba tháng đầu thai kỳ 

ABSTRACT 

DETERMINATION OF THE STABILITY OF MEDIAN VALUES OF SCREENING PARAMETERS  

IN THE FIRST‐TRIMESTER AND HIGH RISK ASSESSMENT FOR DOWN SYNDROME  

BY AUTOMATED AUTODELFIA SYSTEMS AND LIFECYCLE SOFWARE (PERKIN ELMER)  

Nguyen Thanh Tram, Nguyen Diep Ha, Đo Thi Thanh Thuy 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 64 ‐ 70 

Background:  The  first‐trimester  screening  is  to  early  detect  high  risk  pregnanies  for  Down   Syndrome  (T21)   Combining NT (nuchal translucency), maternal age and biomarkers such as pregnancy‐associated plasma 

* Đại học Y Dược TP. HCM  

Trang 2

protein  A  (PAPP‐A)  and  free  β‐human  chorionic  gonadotrophin  (free  β‐hCG)  has  reached  a  detection  rate  of  nearly  90%.  Effective  screening  depends  on  the  reliable  and  accurate  measurement  of  NT  ultrasoundly  and 

determination of median values of PAPP‐A and free β‐hCG. Using different software packages leads to diffirent 

risk calculation   With automated AutoDelfia and LifeCycle 3.2 sofware, we evaluated the stability of the median  values of PAPP‐A and free β‐hCG during the time of our study.  

Objectives: The purpose of this study is to determine the stability of the median values of PAPP‐A and 

free  β‐hCG  in  the  first‐trimester  screening  with  automated  AutoDelfia  and  LifeCycle  software  3.2.  Application  first‐trimester  combined  test  to  calculate  the  high  risk  of  Down  syndrome  for  each  pregnancy  with cut‐off risk of 1 in 250. 

Method: Retrospective data from 5000 pregnancies at 11 through 13 week and 6 days of gestation was used 

for calculation the median values of PAPP‐A and free β HCG with automated AutoDelfia run by time‐resolved  fluoroimmunoassay  method  and  LifeCycle  software  3.2  from  December  2011  to  December  2012.  Also,  we  caculated the percentage of high risk of Down syndrome pregnancies.  

Results:  The  median  values  of  PAAP‐A  and  free  beta  HCG  were  adjusted  and  stable  within  5%  bias 

compared to target median. The percentage of high risk of Down syndrome pregnancies was 2.86%.  

Conclusion: We stated automated AutoDelfia and LifeCycle sofware could be used for high‐risk pregnancies 

screening with Down syndrome in the first trimester. 

Key words: CRL, double test, first‐trimester screening, Free Beta HCG, NT, PAPP‐A  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Hội  chứng  Down  (Trisomy  21)  là  một 

trong những bất thường về số lượng nhiễm sắc 

thể  phổ  biến  nhấtTầm  soát  trước  sinh  ở  3 

tháng đầu thai kỳ thai kỳ nhằm tầm soát sớm 

những thai phụ có nguy cơ cao mang thai hội 

chứng  Down.  Sự  kết  hợp  siêu  âm  đo  khoảng 

sáng  gáy  (NT:  nuchal  translucency),  tuổi  thai 

và  các  dấu  ấn  hóa  sinh  pregnancy‐associated 

plasma  protein  A  (PAPP‐A)  và  free  β‐human 

chorionic  gonadotrophin  (beta  HCG  tự  do) 

trong  máu  thai  phụ  từ  khi  thai  từ  11  cho  đến 

13 tuần 6 ngày tuổi được xem như công cụ tầm 

soát hiệu quả với tỉ lệ phát hiện hơn 90% và tỉ 

lệ dương tính giả khoảng 5%(1,4).  

Việc sử dụng các phần mềm khác nhau sẽ 

dẫn  đến  việc  ước  tính  các  nguy  cơ  không 

giống  nhau.  Hệ  thống  tự  động  AutoDelfia  và 

phần  mềm  tính  nguy  cơ  LifeCycle  3.2  là  một 

hệ thống máy chuyên dụng cho tầm soát trước 

sinh  một  số  dị  dạng  bẩm  sinh  và  tầm  soát  sơ 

sinh một số bệnh lý chuyển hóa được tổ chức 

Y học phôi thai (FMF) công nhận(6,8). Hiệu quả  của việc tầm soát phụ thuộc vào việc đo NT và 

độ  tin  cậy  của  các  xét  nghiệm  hóa  sinh.  Tuy  nhiên, việc đo khoảng sáng gáy có thể cho kết  quả  khác  nhau  giữa  các  chuyên  gia  và  các  trung  tâm  khác  nhau,  nên  công  việc  này  phải  được  thực  hiện  bởi  những  bác  sĩ  siêu  âm  đã  qua huấn luyện hoặc phải có chứng chỉ của tổ  chức  FMF(2).  Bên  cạnh  đó,  độ  đúng  và  độ  xác  thực của thuốc thử cần được chú trọng để đảm  bảo độ tin cậy cho các xét nghiệm hóa sinh (12).  Tính  ổn  định  của  giá  trị  trung  vị  PAPP‐A 

và  beta  HCG  tự  do  đã  được  xác  lập  sẽ  ảnh  hưởng  đến  kết  quả  tính  nguy  cơ  hội  chứng  Down  cho  từng  thai  phụ.  Vì  vậy,  chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu  xác  định  tính  ổn  định  của giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do  trong  tầm  soát  hội  chứng  Down  ở  ba  tháng  đầu  thai  kỳ  trên  hệ  thống  tự  dộng  Autodelfia 

và  phần  mềm  LifeCycle  (Perkin  Elmer)  với  mục tiêu cụ thể: (1) xác định tính ổn định của  giá  trị  trung  vị  PAPP‐A  và  beta  HCG  tự  do  trong tầm soát thai phụ ở ba tháng đầu thai kỳ,  (2) xác định tỉ lệ tầm soát thai phụ có nguy cơ 

Trang 3

cao  mang  thai  hội  chứng  Down  với  ngưỡng 

cut off là 1:250.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Thai phụ có 1 thai ở tuần tuổi từ 11 tuần đến 

13 tuần 6 ngày, được xác định qua siêu âm chiều 

dài đầu mông CRL (từ 40‐79 mm). 

Cỡ mẫu 

Tất cả thai phụ tham gia tầm soát ba tháng 

đầu  thai  kỳ  từ  tháng  12/2011  đến  tháng 

12/2012. 

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp 

hồi cứu  

Phương pháp nghiên cứu 

Các  dữ  liệu  về  khoảng  sáng  gáy,  chiều  dài 

đầu mông, tuổi thai được thu thập dựa vào dữ 

liệu do bác sĩ sản khoa cung cấp. 

Dữ liệu về nồng độ PAPP‐A và beta HCG 

tự  do  trong  huyết  thanh  thai  phụ  được  tiến 

hành trên hệ thống tự động Auto Delfia theo 

cơ  chế  miễn  dịch  huỳnh  quang.  Các  dữ  liệu 

đi  kèm  với  các  dữ  liệu  nội  kiểm  chuẩn 

Maternal Lymphocheck của Biorad đạt trong 

phạm vi ±2SD.  

Dữ  liệu  về  giá  trị  trung  vị  cho  của  NT, 

PAPP‐A  và  beta  HCG  tự  do  được  thiết  lập  và 

hiệu chỉnh theo cân nặng của thai phụ dưới sự 

hỗ trợ của các chuyên gia IT hãng Perkin Elmer. 

Giá trị trung vị của mỗi thông số được kiểm tra 

hàng tháng và nếu không chênh lệch hơn ± 5% 

(với NT, beta hCG tự do và PAPPA) so với giá 

trị  trung  vị  hiện  tại  thì  tiếp  tục  sử  dụng  (theo 

khuyến cáo của nhà sản xuất và tổ chức FMF). 

Sử dụng dữ liệu trên phần mềm LifeCycle 

3.2,  xác  định  tỉ  lệ  nguy  cơ  cho  tổng  thai  phụ 

với  ngưỡng  (cut‐off)  cho  T21  là  1:250.  Nếu 

nguy cơ ≥ 1:250 được xem là nguy cơ cao và < 

1:250 được xem là nguy cơ thấp. 

Đặc  điểm  dân  số  nghiên  cứu  và  tỉ  lệ  tầm  soát nguy cơ cao dựa vào hàm thống kê mô tả  trên SPSS 19.0. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  Đặc điểm chung của mẫu tầm soát 

Tuổi thai phụ 

Nguy cơ cho T21 tăng theo tuổi mẹ(5). Ví dụ  như  mẹ  mang  thai  ở  tuổi  20  thì  nguy  cơ  mang  thai bị T21 là 1:1000 thì mẹ ở tuổi 35 là nguy cơ 

sẽ là 1:250 khi thai được 12 tuần tuổi(11).   Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tuổi  mẹ  nằm  trong  khoảng  16,34  đến  44,68  với  độ  tuổi  trung  bình  là  29,17  ±  4,6,  tương  đương  với  độ  tuổi trung bình của nghiên cứu khác trong nước 

là  29,3(10)  và  thấp  hơn  của  Hàn  Quốc(7)  và  Croatian(15). Trong đó, đa phần là thai phụ dưới 

35 tuổi (87,8%). Số thai phụ trên 35 tuổi chiếm tỉ 

lệ nhỏ (8%).Tỉ lệ phân bố tuổi thai phụ thể hiện ở  bảng 1. 

Bảng 1: Phân bố tuổi của thai phụ 

Tuổi Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

Trước  đây,  số  thai  phụ  tham  gia  các  xét  nghiệm  tầm  soát  trước  sinh  chủ  yếu  là  trên  35  tuổi  và  đây  cũng  là  ngưỡng  chẩn  đoán  mang  thai hội chứng Down cho các thai phụ trước đây 

ở các nước phương tây. Vào những thập niên 70,  khi người ta chọn tuổi thai phụ làm xét nghiệm  chẩn đoán hội chứng Down là >=35 tuổi, thì chỉ 

có  phát  hiện  được  khoảng  30%  thai  phụ  mang  thai hội chứng Down. Như vậy có khoảng 70% 

thai phụ mang thai hội chứng Down <35 tuổi. Vì  vậy,  Hiệp  Hội  Sản  Phụ  Khoa  Hoa  Kỳ  khuyến  cáo tầm soát những bất thường về số lượng NST  nên được áp dụng như một xét nghiệm thường  qui cho tất cả thai phụ(6,13). 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  đa  phần  thai  phụ  tham  gia  tầm  soát  có  độ  tuổi  dưới  35  (87,8%) tỉ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu  trước đó là 69,3%(2) và 75,5%(3). Điều này chứng  minh  xu  thế  tầm  soát  này  ngày  càng  được  thai 

Trang 4

tính  hiệu  quả  của  công  tác  truyền  thông  trong 

việc nâng cao chất lượng dân số.  

Tuổi thai 

Bảng 2: Phân bố tuổi thai nhi 

Tuổi thai Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

11 tuần

(CRL từ 43-55mm)

1145 22,9

12 tuần

(CRL từ 56-68 mm)

2625 52,5

13 tuần

(CRL từ 69-82mm)

1230 24,6

Trong tất cả các trường hợp, tuổi thai được 

xác  định  dựa  vào  chiều  dài  của  đầu  mông 

(CRL:  Crown  Crump  Length).  Đo  chiều  dài 

đầu mông sớm sẽ giúp xác định tuổi thai chính 

xác  hơn.  Tuy  nhiên,  phương  pháp  tính  tuổi 

thai dựa vào CRL cũng có mặt hạn chế do các 

bác sĩ siêu âm không dùng cùng dữ liệu tham 

chiếu khi chuyển từ CRL sang tuổi thai(12). Khi 

thực  hiện  tầm  soát  trong  3  tháng  đầu  thai  kỳ, 

tuổi  thai  để  đo  NT  qua  siêu  âm  tốt  nhất  là  từ 

11  đến  13  tuần  6  ngày.  Mặt  khác,  độ  nhạy  để 

phân  biệt  sự  thay  đổi  nồng  độ  PAPP‐A  giữa 

thai  phụ  bình  thường  và  thai  phụ  mang  thai 

bệnh  lý  là  từ  9‐12  tuần  và  có  xu  hướng  giảm 

dần  từ  tuần  thứ  13  còn  beta  HCG  tự  do  thay 

đổi từ tuần thứ 10 và có xu hướng tiếp tục tăng 

đến 3 tháng giữa thai kỳ(15). Như vậy, tuổi thai 

từ tuần 11 và 12 được xem là lý tưởng cho việc 

tầm soát trong 3 tháng đầu thai kỳ do thai phụ 

đến  khám  thai  kết  hợp  siêu  âm  và  lấy  máu 

cùng lúc, có thể tăng tỉ lệ phát hiện lên 95% và 

có thể tầm soát thêm những bất thường về số 

lượng  NST  khác  như  T13  và  T18(4,11).  Trong 

nghiên  cứu  này,  đa  phần  thai  phụ  tham  gia 

tầm  soát  mang  thai  12  tuần  (52,5%),  tương 

đương với kết quả của các đồng nghiệp trong 

nước(2,14),  Hàn  Quốc  và  Croatian(7,15).  Điều  này 

chứng  tỏ  các  thai  phụ  đã  được  tư  vấn  và  chỉ 

định bởi các bác sĩ có kiến thức tốt về việc tầm 

soát T21 trong 3 tháng đầu thai kỳ. 

Cân nặng của thai phụ 

Trọng  lượng  của  thai  phụ  dao  động  từ  32  đến 98 với cân nặng trung bình là 50,7±7,0. Cân  nặng  trung  bình  của  các  thai  phụ  Việt  Nam  là  tương  đương  với  các  nghiên  cứu  trước  đó(2,10).  Tuy nhiên, cân nặng trung bình lại thấp hơn so  với  của  các  nước  Châu  Á  như  Hàn  Quốc  (57,5kg)(7) và  các  nước  Châu  Âu  như  Croatian  (66,1kg)(15).Trong  đó,  nhóm  thai  phụ  có  trọng  lượng từ 40‐60 kg chiếm đa số với tỉ lệ 85,7%. 

Bảng 3: Phân bố cân nặng của thai phụ 

Cân nặng (kg) Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

Trọng  lượng  thai  phụ  là  môt  trong  những  yếu  tố  ảnh  hưởng  nhiều  đến  giá  trị  của  các  thông  số  sinh  hóa,  đặc  biệt  là  PAPP‐A.  Ở  các  thai  phụ  nhẹ  cân  thì  nồng  độ  trung  bình  của  PAPP‐A  và  beta  HCG  tự  do  sẽ  cao  hơn  ở  những  thai  phụ  nặng  cân.  Vì  thế,  trong  việc  tính giá trị trung vị cho các thông số tầm soát  thì  các  giá  trị  này  luôn  được  hiệu  chỉnh  theo  cân  nặng  để  tránh  ảnh  hưởng  đến  cách  tính  nguy cơ tầm soát(12). 

Khoảng sáng gáy 

Giá trị qua siêu âm của khoảng sáng gáy tại  tuần  thai  11‐14  được  xem  là  một  công  cụ  chẩn  đoán hiệu quả những bất thường số lượng NST. 

NT  có  khuynh  hướng  tăng  dần  theo  tuổi  thai  cùng với chiều dài đầu mông và khi đi kèm với  những  bất  thường  NST.  Độ  chính  xác  của  việc 

đo NT phụ thuộc vào bác sĩ siêu âm, chất lượng  của  hình  ảnh  trên  siêu  âm  cùng  với  việc  phân  tích  và  đảm  bảo  chất  lượng  kết  quả  siêu  âm(12).  Việc đo chính xác khoảng sáng gáy kết hợp với  tuổi  thai  có  thể  tăng  tỉ  lệ  phát  hiện  những  bất  thường  nói  trên  từ  70‐75%  và  giảm  tỉ  lệ  dương  tính giả dưới 5%(14).Vì thế, việc đo khoảng sáng  gáy  nên  được  tiến  hành  bởi  những  bác  sĩ  siêu 

âm đã qua huấn luyện. Hiện tại ở Việt Nam và  các  quốc  gia  như  Anh,  Mỹ  thì  cần  chứng  chỉ  hành nghề của Hiệp Hội Y Học về thai nhi FMF  (Fetal  Medicine  Foundation)(2).  Trên  5000  thai  phụ được khảo sát, giá trị NT trung bình thai nhi 

Trang 5

1,59mm  và  1,82mm  cho  thai  11,  12  và  13  tuần 

tuổi. Giá trị trung vị tính theo MoM ở nhóm thai 

phụ mang thai bình thường có tuổi thai từ 11‐13 

tuần 6 ngày tuổi là 0,99 (SD là 0,25) cho thấy việc 

đo  NT  được  thực  hiện  bởi  các  bác  sĩ  siêu  âm 

được huấn luyện kỹ năng siêu âm khoảng sáng 

gáy(2). Giá trị NT ở nhóm thai phụ nguy cơ cao 

mang  thai  hội  chứng  Down  là  2,88mm  (SD  là 

1,62)  và  trung  vị  MoM  NT  là  1,96  cho  thấy 

những  thai  nhi  có  nguy  cơ  cao  với  hội  chứng 

Down thì khoảng sáng gáy rộng ra  và  trung  vị 

MoM NT tăng cao(2,12). 

Tính  ổn  định  giá  trị  trung  vị  của  PAPP‐A 

và beta HCG 

Từ  12/2011  đến  tháng  12/2012,  dữ  liệu  tầm 

soát trước sinh của 5000 thai phụ đã được xem 

xét.Tại thời điểm tháng 12/2011, các giá trị trung 

vị  của  PAPP‐A  và  beta  HCG  tự  do  được  xác 

định trước đó theo các phương trình dưới đây.  

Y(PAAP‐A) = 9900.4‐318.855*Day + 2.6895*Day^2 

Y(beta  HCG  tự  do)  =  10^(‐4.53412+0.270717*Day‐

0.00398489*Day^2+0.0000237835*Day^3‐

5.10437E‐8*Day^4) 

Với  sự  trợ  giúp  của  IT  hãng  Perkin  Elmer, 

xem xét tính ổn định của các giá trị trung vị tại 2 

thời  điểm  là  05/2012  và  tháng  12/2012  với  kết 

quả như sau: 

Tại thời điểm tháng 05/2012, giá trị trung vị 

của PAPP‐A sau khi được hiệu chỉnh theo chiều 

cao và cân nặng của thai phụ theo tuần tuổi thai 

trong 6 tháng liên tiếp dao động trong giới hạn 

chấp nhận được là 95%‐105% so với giá trị trung 

vị  đích  nên  không  hiệu  chỉnh.  Giá  trị  trung  vị 

của  beta  HCG  tự  do  có  xu  hướng  tăng  nhẹ  tại 

thai  12  tuần  tuổi  là  1.08  và  13  tuần  tuổi  là  1.12 

MoM. Giá trị trung vị của beta HCG tự do theo 

dõi  trong  6  tháng  liên  tiếp  cũng  có  xu  hướng 

tăng  nên  cần  phải  hiệu  chỉnh.  Công  thức  hiệu 

chỉnh  beta  HCG  tự  do  với  theo  tuổi  thai  là  10 

(a+b*ga+  c*ga2)  với  a=0803234,  b=  0.034651  và  c=‐

0.000265  và  theo  cân  nặng  là  10(a+b*wt+  c*wt2)  với  a=0.443887, b=‐0.010153 và c= 0.000028. 

 

a) PAPP‐A 

 

b) Beta HCG tự do 

Hình 1: Giá trị trung vị của PAPP‐A và beta HCG tự do 

ở thời điểm 05/2012 trước khi hiệu chỉnh 

 

a) PAPP‐A 

 

b) Beta HCG tự do 

Hình 2: Giá trị trung vị của PAPP‐A và beta HCG 

tự do ở thời điểm 5/2012 sau khi hiệu chỉnh. 

Tại  thời  điểm  12/2012,  giá  trị  trung  vị  của  PAPP‐A và beta HCG tự do lần lượt là 1,050 và  0,988 và dao động trong giới hạn 5% nên không  cần hiệu chỉnh.  

Qua  hai  lần  kiểm  tra  và  hiệu  chỉnh,  chúng  tôi  nhận  thấy  giá  trị  trung  vị  của  PAPP‐A  và  beta HCG tự do ở mỗi tuần và tháng liên tiếp ổn 

Trang 6

để đánh giá nguy cơ mang thai hội chứng Down 

cho mỗi thai phụ tham gia tầm soát trước sinh ở 

3 tháng đầu thai kỳ. 

Tỉ  lệ  thai  phụ  nguy  cơ  cao  mang  thai  hội 

chứng Down 

Mục  tiêu  của  việc  tầm  soát  trước  sinh  ba 

tháng đầu thai kì là phát hiện những thai phụ có 

nguy  cơ  cao  mang  thai  hội  chứng  Down.  Các 

thai  phụ  này  sẽ  được  tư  vấn  để  làm  các  chẩn 

đoán xác định có thực sự là thai nhi bị hội chứng 

Down hay không. Chúng tôi chọn  ngưỡng  cut‐

off 1:250 để phân biệt mang thai nguy cơ cao và 

nguy  cơ  thấp  với  hội  chứng  Down.  Đây  là 

ngưỡng một số trung tâm tầm soát trên thế giới 

và tại Việt Nam lựa chọn(10,14)

Hệ  thống  tự  động  AutoDelfia  theo  cơ  chế 

miễn dịch huỳnh quang và phần mềm tính nguy 

cơ LifeCycle 3.2 cho phép tính và hiệu chỉnh giá 

trị  trung  vị  của  PAPP‐A  và  beta  HCG  tự  do 

hàng tháng. Các giá trị trung vị này ổn định và 

dao  động  xung  quanh  ±  5%  so  với  giá  trị  đích 

nên chúng tôi tin tưởng sử dụng trong việc tính 

toán  nguy  cơ  cho  từng  thai  phụ  mang  thai  hội 

chứng Down. 

Với tổng số thai phụ tham gia tầm soát, thai 

phụ tham gia tầm soát <35 tuổi có tỉ lệ tầm soát 

có nguy cơ cao là 1,5% và thai phụ ≥ 35 tuổi là 

13%. Tỉ lệ nguy cơ cao trên toàn nhánh tầm soát 

là 2,86%. Tất cả các tỉ lệ này đều thấp hơn nhiều 

so  với  yêu  cầu  và  kết  quả  của  các  công  trình 

nghiên cứu của các đồng nghiệp trong nước và 

trên thế giới có cùng ngưỡng cut‐off (trừ nghiên 

cứu  của  Nguyễn  Minh  Hùng  và  cộng  sự  năm 

2012  với  tỉ  lệ  nguy  cơ  cao  là  1,66%).  Tỉ  lệ  phát 

hiện  thai  phụ  có  nguy  cơ  với  hội  chứng  Down 

khác nhau có thể do trang thiết bị máy móc, hóa 

chất, phần mềm phân tích và các sai số trong khi 

tiến hành hoặc cỡ mẫu chưa đủ lớn(10).  

Nếu ngưỡng cut off được mở rộng ra 1:300, 

1:350 và 1:400 là ngưỡng dùng để tầm soát sớm 

với  mục  đích  giảm  tỉ  lệ  âm  tính  giả,  tỉ  lệ  phát 

hiện  thai  phụ  có  nguy  cơ  cao  với  hội  chứng 

Down  lần  lượt  là  3,3%;  3,7%  và  4,1%.  Mặc  dù 

mục  tiêu  của  xét  nghiệm  tầm  soát  là  phát  hiện  khoảng  5%  dân  số  tham  gia  tầm  soát  thuộc  nhóm có nguy cơ cao nhưng nếu tỉ lệ này thấp  quá sẽ dẫn đến tăng tỉ lệ âm tính giả và bỏ sót  những  trường  hợp  những  thai  phụ  có  nguy  cơ  cao  cần  được  tiến  hành  các  xét  nghiệm  chẩn  đoán xác định. Ngược lại, nếu tỉ lệ phát hiện cao  hơn 5% thì sẽ làm tăng tỉ lệ dương tính giả và sẽ 

có nhiều thai phụ phải bị chọc ối hay tiến hành  các thủ thuật xâm lấn vốn được xem là tiềm ẩn  những rủi ro cao cho cả thai phụ và thai nhi. Vì  vậy,  việc  chọn  giá  trị  ngưỡng  để  tầm  soát  thai  phụ  có  nguy  cơ  cao  hay  thấp  mang  thai  hội  chứng Down phụ thuộc vào quá trình tầm soát,  hiệu  quả  kinh  tế  và  tính  an  toàn  của  các  xét  nghiệm xâm lấn cùng độ tuổi mang thai tại mỗi  quốc  gia(9).  Sau  khi  có  kết  quả  sẽ  hiệu  chỉnh  lại  sao cho tỉ lệ  phát  hiện  nhỏ  hơn  5%  dân  số  tầm  soát.  Chúng  tôi  hy  vọng  khi  số  thai  phụ  tham  gia sàng lọc nhiều hơn và có thể theo dõi đến khi  sinh  một  cách  đầy  đủ  thì  có  thể  chọn  một  ngưỡng cut‐off thích hợp hơn không những cho  phòng xét nghiệm mà còn có thể là cơ sở tham  chiếu  cho  các  phòng  xét  nghiệm  khác  có  cùng  trang thiết bị và phần mềm tính nguy cơ(2).  

Bảng 4: Tỉ lệ tầm soát nguy cơ cao ở nhóm thai phụ 

<35 tuổi và ≥ 35 tuổi  

Tuổi Số thai phụ Ngưỡng

cut-off

Nguy cơ T21

<35 4390 (87,8%) 1:250 66 (1,5%)

≥ 35 610 (12,2%) 1:250 79 (13%)

Tóm lại, tỉ lệ tầm soát cho thai phụ có nguy 

cơ  cao  mang  thai  hội  chứng  Down  theo  phần  mềm này là dưới 5% dân số tầm soát nên có thể 

sử dụng phần mềm này để tầm soát trước sinh ở 

3 tháng đầu thai kỳ. Tuy nhiên, tính hiệu quả và 

độ  chính  xác  của  chương  trình  tầm  soát  phụ  thuộc  vào  việc  nâng  cao  tỉ  lệ  phát  hiện  và  hạn  chế tỉ lệ dương giả đến mức thấp nhất. Để làm  được điều này, cần phải tiến hành trên cỡ mẫu  lớn hơn và phối hợp với xét nghiệm nhiễm sắc  thể đồ để cho kết luận cuối cùng. 

Trang 7

Qua nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy có 

thể  sử  dụng  hệ  thống  tự  động  AutoDelfia  và 

phần mềm LifeCycle để tầm soát cho những thai 

phụ có nguy cơ cao mang thai Hội chứng Down 

ở  ba  tháng  đầu  thai  kỳ.  Tuy  nhiên,  cần  những 

nghiên  cứu  sâu  và  rộng  hơn  để  đánh  giá  tính 

hiệu quả của hệ thống này. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

HS, Porter TF, Nyberg DA, Comstock CH, et al.(2007), “First 

and  second‐trimester  screening:  detection  of  aneuploidies 

other than Down syndrome”, Obstet Gynecol, 110(3): 651‐7. 

Phùng Như Toàn, Trương Đình Kiệt.(2009), “Nghiên cứu ứng 

dụng test phối hợp(combined test) trong tầm soát trước sinh 

ba tháng đầu thai kỳ”, Tạp chí Y Học TP.Hồ Chí Minh, 13 (1), 

pp.190‐7. 

(2009), “Tầm soát trước sinh hội chứng Down ba tháng giữa 

thai kỳ bằng hệ thống tự động immulite 2000 và phần mềm 

Prisca”, Tạp chí Y Học TP.Hồ Chí Minh, 13 (1), pp.198‐203. 

Damnjanovic‐Pazin  B,  Milovanovic  Z,  Joksic  I,  et  al  (2012), 

“Screening  for  aneuploides  by  maternal  age,  fetal  nuchal 

translucency  and  maternal  serum  biochemistry  at  11‐13+6 

gestational weeks”, Srp Arh Celok Lek, 140(9‐10), pp. 606‐11. 

Obstet Gynecol India, 56(3), pp.205‐11. 

(2012),”  Comparison  of  risk  calculation  approaches  in  a  screening 

programme for Down syndrome”,J Perinat Med, 40(3), pp.259‐63. 

specific  parameters  model  for  the  risk  of  down  syndrome  in  the 

second  trimester  of  Pregnancy”,  J  Korean  Med  Sci,  26(12), 

pp.1619–24. 

Tuấn.(2012),” Đánh giá độ nhạy của triple test trong tầm soát một 

số bất thường nhiễm sắc thể thai nhi trên hệ thống autodelfia bằng  phần mềm lifecycle 3.2”, Tạp chí phụ sản, 10(2),pp. 29‐33. 

screening factors in down’s syndrome”. Journal of Theoretical 

& Applied Information Technology, 46(2), pp.790‐3 

Trần Quang Vinh, Trần Thị Huyền Trâm. (2012),“Giá trị độ mờ 

da gáy và nồng độ các chất free β‐hCG, PAPP‐A trong tầm soát hội  chứng Down tại bệnh viện Phụ Sản Quốc Tế Sài Gòn”,  Tạp  chí 

Phụ sản, 10 (2), pp. 34‐9. 

to 13 weeks”, Prenat Diagn, 31, pp. 7–15. 

Donhowe  JM  (2009),  “Technical  standards  and  guidelines: 

prenatal screening for Down Syndrome that includes first‐trimester 

biochemistry and/or ultasound measurements”, Genet Med, 11 (9), 

pp.669–81. 

Cheng  PJ  (2008),  “First  and  second‐trisemster  Down  syndrome 

screening:  current  strategies  and  clinical  guidelines”,  Taiwan  J 

Obstet Gynecol, 47(2), pp.157‐62. 

American  Journal  of  Medical  Genetics  Part  C  (Seminars  in  Medical Genetics), 145C, pp.18–32  

S, Kos M, Megla ZB (2010), “The impact of temporal variability of 

biochemical markers PAPP‐A and free  β‐hCG  on  the  specificity  of  the  first‐trimester  Down  syndrome  screening:  a  Croatian  retrospective  study”,  BMC  Research  Notes,3,  pp. 194.  doi: 

10.1186/1756‐0500‐3‐194. 

Methods to Prenatal Screening for Down’s Syndrom During  First  and  Second  Trimester  Pregnancy  of  Chinese  Women”,  Biomed Environ Sci, 26(2), pp. 87‐93 

 

05/01/2014 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w