Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định tính ổn định của giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do trong tầm soát thai phụ có nguy cơ cao với chứng Down trong ba tháng đầu thai kỳ bằng hệ thống miễn dịch tự động autodelfia và phần mềm lifecycle và xác định tỉ lệ tầm soát thai phụ có nguy cơ cao mang thai hội chứng Down với ngưỡng cut off là 1:250.
Trang 1XÁC ĐỊNH ĐỘ ỔN ĐỊNH GIÁ TRỊ TRUNG VỊ CỦA CÁC THÔNG SỐ TẦM SOÁT Ở BA THÁNG ĐẦU THAI KỲ VÀ TÍNH TỶ LỆ NGUY CƠ CAO MANG THAI HỘI CHỨNG DOWN TRÊN HỆ THỐNG
AUTODELFIA
VÀ PHẦN MỀM LIFECYCLE (PERKIN ELMER)
Nguyễn Thanh Trầm*, Nguyễn Diệp Hà*, Đỗ Thị Thanh Thủy*
TÓM TẮT
Giới thiệu: Tầm soát trước sinh ở 3 tháng đầu thai kỳ nhằm phát hiện sớm những thai phụ có nguy cơ cao
mang thai hội chứng Down (T21). Sự kết hợp siêu âm đo khoảng sáng gáy (NT: nuchal translucency), tuổi thai
và các dấu ấn hóa sinh pregnancy‐associated plasma protein A (PAPP‐A) và free β‐human chorionic gonadotrophin (beta HCG tự do) sẽ nâng tỉ lệ phát hiện gần 90%. Hiệu quả của việc tầm soát phụ thuộc vào độ tin cậy và độ chính xác của việc siêu âm đo NT và giá trị trung vị (MoM) của PAPP‐A và beta HCG tự do.Việc
sử dụng các phần mềm khác nhau sẽ dẫn đến việc ước tính các nguy cơ không giống nhau. Với hệ thống tầm soát trước sinh tự động AutoDelfia và phần mềm tính nguy cơ LifeCycle 3.2, chúng tôi xem xét tính ổn định của giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do trong thời gian nghiên cứu.
Mục tiêu: Xác định tính ổn định của giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do trong tầm soát thai phụ
có nguy cơ cao với chứng Down trong ba tháng đầu thai kỳ bằng hệ thống miễn dịch tự động Autodelfia và phần mềm Lifecycle và xác định tỉ lệ tầm soát thai phụ có nguy cơ cao mang thai hội chứng Down với ngưỡng cut off
là 1:250.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sử dụng dữ liệu hồi cứu của 5000 thai phụ mang thai từ 11 đến
13 tuần 6 ngày tuổi tham gia tầm soát trước sinh ở 3 tháng đầu thai kỳ để xác định tính ổn định của giá trị trung vị của PAPP‐A và beta HCG tự do và tính tỉ lệ thai phụ có nguy cơ cao với hội chứng Down qua việc sử dụng hệ thống tầm soát trước sinh tự động AutoDelfia theo cơ chế miễn dịch huỳnh quang và phần mềm tính nguy cơ LifeCycle 3.2 trong khoảng thời gian từ 12/2011 đến 12/2012.
Kết quả: Giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do theo tuổi thai ở 3 tháng đầu thai kỳ đã được hiệu
chỉnh và ổn định trong phạm vi ± 5% so với giá trị trung vị đích đã được thiết lập. Tỉ lệ tầm soát thai phụ có nguy cơ cao với hội chứng Down là 2,86%.
Kết luận: Qua nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy có thể sử dụng hệ thống tự động AutoDelfia và phần
mềm LifeCycle để tầm soát cho những thai phụ có nguy cơ cao mang thai hội chứng Down ở 3 tháng đầu thai kì.
Từ khóa: Beta HCG tự do, CRL, double test, NT, PAPP‐A, tầm soát ba tháng đầu thai kỳ
ABSTRACT
DETERMINATION OF THE STABILITY OF MEDIAN VALUES OF SCREENING PARAMETERS
IN THE FIRST‐TRIMESTER AND HIGH RISK ASSESSMENT FOR DOWN SYNDROME
BY AUTOMATED AUTODELFIA SYSTEMS AND LIFECYCLE SOFWARE (PERKIN ELMER)
Nguyen Thanh Tram, Nguyen Diep Ha, Đo Thi Thanh Thuy
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 64 ‐ 70
Background: The first‐trimester screening is to early detect high risk pregnanies for Down Syndrome (T21) Combining NT (nuchal translucency), maternal age and biomarkers such as pregnancy‐associated plasma
* Đại học Y Dược TP. HCM
Trang 2protein A (PAPP‐A) and free β‐human chorionic gonadotrophin (free β‐hCG) has reached a detection rate of nearly 90%. Effective screening depends on the reliable and accurate measurement of NT ultrasoundly and
determination of median values of PAPP‐A and free β‐hCG. Using different software packages leads to diffirent
risk calculation With automated AutoDelfia and LifeCycle 3.2 sofware, we evaluated the stability of the median values of PAPP‐A and free β‐hCG during the time of our study.
Objectives: The purpose of this study is to determine the stability of the median values of PAPP‐A and
free β‐hCG in the first‐trimester screening with automated AutoDelfia and LifeCycle software 3.2. Application first‐trimester combined test to calculate the high risk of Down syndrome for each pregnancy with cut‐off risk of 1 in 250.
Method: Retrospective data from 5000 pregnancies at 11 through 13 week and 6 days of gestation was used
for calculation the median values of PAPP‐A and free β HCG with automated AutoDelfia run by time‐resolved fluoroimmunoassay method and LifeCycle software 3.2 from December 2011 to December 2012. Also, we caculated the percentage of high risk of Down syndrome pregnancies.
Results: The median values of PAAP‐A and free beta HCG were adjusted and stable within 5% bias
compared to target median. The percentage of high risk of Down syndrome pregnancies was 2.86%.
Conclusion: We stated automated AutoDelfia and LifeCycle sofware could be used for high‐risk pregnancies
screening with Down syndrome in the first trimester.
Key words: CRL, double test, first‐trimester screening, Free Beta HCG, NT, PAPP‐A
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng Down (Trisomy 21) là một
trong những bất thường về số lượng nhiễm sắc
thể phổ biến nhất. Tầm soát trước sinh ở 3
tháng đầu thai kỳ thai kỳ nhằm tầm soát sớm
những thai phụ có nguy cơ cao mang thai hội
chứng Down. Sự kết hợp siêu âm đo khoảng
sáng gáy (NT: nuchal translucency), tuổi thai
và các dấu ấn hóa sinh pregnancy‐associated
plasma protein A (PAPP‐A) và free β‐human
chorionic gonadotrophin (beta HCG tự do)
trong máu thai phụ từ khi thai từ 11 cho đến
13 tuần 6 ngày tuổi được xem như công cụ tầm
soát hiệu quả với tỉ lệ phát hiện hơn 90% và tỉ
lệ dương tính giả khoảng 5%(1,4).
Việc sử dụng các phần mềm khác nhau sẽ
dẫn đến việc ước tính các nguy cơ không
giống nhau. Hệ thống tự động AutoDelfia và
phần mềm tính nguy cơ LifeCycle 3.2 là một
hệ thống máy chuyên dụng cho tầm soát trước
sinh một số dị dạng bẩm sinh và tầm soát sơ
sinh một số bệnh lý chuyển hóa được tổ chức
Y học phôi thai (FMF) công nhận(6,8). Hiệu quả của việc tầm soát phụ thuộc vào việc đo NT và
độ tin cậy của các xét nghiệm hóa sinh. Tuy nhiên, việc đo khoảng sáng gáy có thể cho kết quả khác nhau giữa các chuyên gia và các trung tâm khác nhau, nên công việc này phải được thực hiện bởi những bác sĩ siêu âm đã qua huấn luyện hoặc phải có chứng chỉ của tổ chức FMF(2). Bên cạnh đó, độ đúng và độ xác thực của thuốc thử cần được chú trọng để đảm bảo độ tin cậy cho các xét nghiệm hóa sinh (12). Tính ổn định của giá trị trung vị PAPP‐A
và beta HCG tự do đã được xác lập sẽ ảnh hưởng đến kết quả tính nguy cơ hội chứng Down cho từng thai phụ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu xác định tính ổn định của giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do trong tầm soát hội chứng Down ở ba tháng đầu thai kỳ trên hệ thống tự dộng Autodelfia
và phần mềm LifeCycle (Perkin Elmer) với mục tiêu cụ thể: (1) xác định tính ổn định của giá trị trung vị PAPP‐A và beta HCG tự do trong tầm soát thai phụ ở ba tháng đầu thai kỳ, (2) xác định tỉ lệ tầm soát thai phụ có nguy cơ
Trang 3cao mang thai hội chứng Down với ngưỡng
cut off là 1:250.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Thai phụ có 1 thai ở tuần tuổi từ 11 tuần đến
13 tuần 6 ngày, được xác định qua siêu âm chiều
dài đầu mông CRL (từ 40‐79 mm).
Cỡ mẫu
Tất cả thai phụ tham gia tầm soát ba tháng
đầu thai kỳ từ tháng 12/2011 đến tháng
12/2012.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp
hồi cứu
Phương pháp nghiên cứu
Các dữ liệu về khoảng sáng gáy, chiều dài
đầu mông, tuổi thai được thu thập dựa vào dữ
liệu do bác sĩ sản khoa cung cấp.
Dữ liệu về nồng độ PAPP‐A và beta HCG
tự do trong huyết thanh thai phụ được tiến
hành trên hệ thống tự động Auto Delfia theo
cơ chế miễn dịch huỳnh quang. Các dữ liệu
đi kèm với các dữ liệu nội kiểm chuẩn
Maternal Lymphocheck của Biorad đạt trong
phạm vi ±2SD.
Dữ liệu về giá trị trung vị cho của NT,
PAPP‐A và beta HCG tự do được thiết lập và
hiệu chỉnh theo cân nặng của thai phụ dưới sự
hỗ trợ của các chuyên gia IT hãng Perkin Elmer.
Giá trị trung vị của mỗi thông số được kiểm tra
hàng tháng và nếu không chênh lệch hơn ± 5%
(với NT, beta hCG tự do và PAPPA) so với giá
trị trung vị hiện tại thì tiếp tục sử dụng (theo
khuyến cáo của nhà sản xuất và tổ chức FMF).
Sử dụng dữ liệu trên phần mềm LifeCycle
3.2, xác định tỉ lệ nguy cơ cho tổng thai phụ
với ngưỡng (cut‐off) cho T21 là 1:250. Nếu
nguy cơ ≥ 1:250 được xem là nguy cơ cao và <
1:250 được xem là nguy cơ thấp.
Đặc điểm dân số nghiên cứu và tỉ lệ tầm soát nguy cơ cao dựa vào hàm thống kê mô tả trên SPSS 19.0.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Đặc điểm chung của mẫu tầm soát
Tuổi thai phụ
Nguy cơ cho T21 tăng theo tuổi mẹ(5). Ví dụ như mẹ mang thai ở tuổi 20 thì nguy cơ mang thai bị T21 là 1:1000 thì mẹ ở tuổi 35 là nguy cơ
sẽ là 1:250 khi thai được 12 tuần tuổi(11). Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi mẹ nằm trong khoảng 16,34 đến 44,68 với độ tuổi trung bình là 29,17 ± 4,6, tương đương với độ tuổi trung bình của nghiên cứu khác trong nước
là 29,3(10) và thấp hơn của Hàn Quốc(7) và Croatian(15). Trong đó, đa phần là thai phụ dưới
35 tuổi (87,8%). Số thai phụ trên 35 tuổi chiếm tỉ
lệ nhỏ (8%).Tỉ lệ phân bố tuổi thai phụ thể hiện ở bảng 1.
Bảng 1: Phân bố tuổi của thai phụ
Tuổi Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Trước đây, số thai phụ tham gia các xét nghiệm tầm soát trước sinh chủ yếu là trên 35 tuổi và đây cũng là ngưỡng chẩn đoán mang thai hội chứng Down cho các thai phụ trước đây
ở các nước phương tây. Vào những thập niên 70, khi người ta chọn tuổi thai phụ làm xét nghiệm chẩn đoán hội chứng Down là >=35 tuổi, thì chỉ
có phát hiện được khoảng 30% thai phụ mang thai hội chứng Down. Như vậy có khoảng 70%
thai phụ mang thai hội chứng Down <35 tuổi. Vì vậy, Hiệp Hội Sản Phụ Khoa Hoa Kỳ khuyến cáo tầm soát những bất thường về số lượng NST nên được áp dụng như một xét nghiệm thường qui cho tất cả thai phụ(6,13).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa phần thai phụ tham gia tầm soát có độ tuổi dưới 35 (87,8%) tỉ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu trước đó là 69,3%(2) và 75,5%(3). Điều này chứng minh xu thế tầm soát này ngày càng được thai
Trang 4tính hiệu quả của công tác truyền thông trong
việc nâng cao chất lượng dân số.
Tuổi thai
Bảng 2: Phân bố tuổi thai nhi
Tuổi thai Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
11 tuần
(CRL từ 43-55mm)
1145 22,9
12 tuần
(CRL từ 56-68 mm)
2625 52,5
13 tuần
(CRL từ 69-82mm)
1230 24,6
Trong tất cả các trường hợp, tuổi thai được
xác định dựa vào chiều dài của đầu mông
(CRL: Crown Crump Length). Đo chiều dài
đầu mông sớm sẽ giúp xác định tuổi thai chính
xác hơn. Tuy nhiên, phương pháp tính tuổi
thai dựa vào CRL cũng có mặt hạn chế do các
bác sĩ siêu âm không dùng cùng dữ liệu tham
chiếu khi chuyển từ CRL sang tuổi thai(12). Khi
thực hiện tầm soát trong 3 tháng đầu thai kỳ,
tuổi thai để đo NT qua siêu âm tốt nhất là từ
11 đến 13 tuần 6 ngày. Mặt khác, độ nhạy để
phân biệt sự thay đổi nồng độ PAPP‐A giữa
thai phụ bình thường và thai phụ mang thai
bệnh lý là từ 9‐12 tuần và có xu hướng giảm
dần từ tuần thứ 13 còn beta HCG tự do thay
đổi từ tuần thứ 10 và có xu hướng tiếp tục tăng
đến 3 tháng giữa thai kỳ(15). Như vậy, tuổi thai
từ tuần 11 và 12 được xem là lý tưởng cho việc
tầm soát trong 3 tháng đầu thai kỳ do thai phụ
đến khám thai kết hợp siêu âm và lấy máu
cùng lúc, có thể tăng tỉ lệ phát hiện lên 95% và
có thể tầm soát thêm những bất thường về số
lượng NST khác như T13 và T18(4,11). Trong
nghiên cứu này, đa phần thai phụ tham gia
tầm soát mang thai 12 tuần (52,5%), tương
đương với kết quả của các đồng nghiệp trong
nước(2,14), Hàn Quốc và Croatian(7,15). Điều này
chứng tỏ các thai phụ đã được tư vấn và chỉ
định bởi các bác sĩ có kiến thức tốt về việc tầm
soát T21 trong 3 tháng đầu thai kỳ.
Cân nặng của thai phụ
Trọng lượng của thai phụ dao động từ 32 đến 98 với cân nặng trung bình là 50,7±7,0. Cân nặng trung bình của các thai phụ Việt Nam là tương đương với các nghiên cứu trước đó(2,10). Tuy nhiên, cân nặng trung bình lại thấp hơn so với của các nước Châu Á như Hàn Quốc (57,5kg)(7) và các nước Châu Âu như Croatian (66,1kg)(15).Trong đó, nhóm thai phụ có trọng lượng từ 40‐60 kg chiếm đa số với tỉ lệ 85,7%.
Bảng 3: Phân bố cân nặng của thai phụ
Cân nặng (kg) Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Trọng lượng thai phụ là môt trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến giá trị của các thông số sinh hóa, đặc biệt là PAPP‐A. Ở các thai phụ nhẹ cân thì nồng độ trung bình của PAPP‐A và beta HCG tự do sẽ cao hơn ở những thai phụ nặng cân. Vì thế, trong việc tính giá trị trung vị cho các thông số tầm soát thì các giá trị này luôn được hiệu chỉnh theo cân nặng để tránh ảnh hưởng đến cách tính nguy cơ tầm soát(12).
Khoảng sáng gáy
Giá trị qua siêu âm của khoảng sáng gáy tại tuần thai 11‐14 được xem là một công cụ chẩn đoán hiệu quả những bất thường số lượng NST.
NT có khuynh hướng tăng dần theo tuổi thai cùng với chiều dài đầu mông và khi đi kèm với những bất thường NST. Độ chính xác của việc
đo NT phụ thuộc vào bác sĩ siêu âm, chất lượng của hình ảnh trên siêu âm cùng với việc phân tích và đảm bảo chất lượng kết quả siêu âm(12). Việc đo chính xác khoảng sáng gáy kết hợp với tuổi thai có thể tăng tỉ lệ phát hiện những bất thường nói trên từ 70‐75% và giảm tỉ lệ dương tính giả dưới 5%(14).Vì thế, việc đo khoảng sáng gáy nên được tiến hành bởi những bác sĩ siêu
âm đã qua huấn luyện. Hiện tại ở Việt Nam và các quốc gia như Anh, Mỹ thì cần chứng chỉ hành nghề của Hiệp Hội Y Học về thai nhi FMF (Fetal Medicine Foundation)(2). Trên 5000 thai phụ được khảo sát, giá trị NT trung bình thai nhi
Trang 51,59mm và 1,82mm cho thai 11, 12 và 13 tuần
tuổi. Giá trị trung vị tính theo MoM ở nhóm thai
phụ mang thai bình thường có tuổi thai từ 11‐13
tuần 6 ngày tuổi là 0,99 (SD là 0,25) cho thấy việc
đo NT được thực hiện bởi các bác sĩ siêu âm
được huấn luyện kỹ năng siêu âm khoảng sáng
gáy(2). Giá trị NT ở nhóm thai phụ nguy cơ cao
mang thai hội chứng Down là 2,88mm (SD là
1,62) và trung vị MoM NT là 1,96 cho thấy
những thai nhi có nguy cơ cao với hội chứng
Down thì khoảng sáng gáy rộng ra và trung vị
MoM NT tăng cao(2,12).
Tính ổn định giá trị trung vị của PAPP‐A
và beta HCG
Từ 12/2011 đến tháng 12/2012, dữ liệu tầm
soát trước sinh của 5000 thai phụ đã được xem
xét.Tại thời điểm tháng 12/2011, các giá trị trung
vị của PAPP‐A và beta HCG tự do được xác
định trước đó theo các phương trình dưới đây.
Y(PAAP‐A) = 9900.4‐318.855*Day + 2.6895*Day^2
Y(beta HCG tự do) = 10^(‐4.53412+0.270717*Day‐
0.00398489*Day^2+0.0000237835*Day^3‐
5.10437E‐8*Day^4)
Với sự trợ giúp của IT hãng Perkin Elmer,
xem xét tính ổn định của các giá trị trung vị tại 2
thời điểm là 05/2012 và tháng 12/2012 với kết
quả như sau:
Tại thời điểm tháng 05/2012, giá trị trung vị
của PAPP‐A sau khi được hiệu chỉnh theo chiều
cao và cân nặng của thai phụ theo tuần tuổi thai
trong 6 tháng liên tiếp dao động trong giới hạn
chấp nhận được là 95%‐105% so với giá trị trung
vị đích nên không hiệu chỉnh. Giá trị trung vị
của beta HCG tự do có xu hướng tăng nhẹ tại
thai 12 tuần tuổi là 1.08 và 13 tuần tuổi là 1.12
MoM. Giá trị trung vị của beta HCG tự do theo
dõi trong 6 tháng liên tiếp cũng có xu hướng
tăng nên cần phải hiệu chỉnh. Công thức hiệu
chỉnh beta HCG tự do với theo tuổi thai là 10
(a+b*ga+ c*ga2) với a=0803234, b= 0.034651 và c=‐
0.000265 và theo cân nặng là 10(a+b*wt+ c*wt2) với a=0.443887, b=‐0.010153 và c= 0.000028.
a) PAPP‐A
b) Beta HCG tự do
Hình 1: Giá trị trung vị của PAPP‐A và beta HCG tự do
ở thời điểm 05/2012 trước khi hiệu chỉnh
a) PAPP‐A
b) Beta HCG tự do
Hình 2: Giá trị trung vị của PAPP‐A và beta HCG
tự do ở thời điểm 5/2012 sau khi hiệu chỉnh.
Tại thời điểm 12/2012, giá trị trung vị của PAPP‐A và beta HCG tự do lần lượt là 1,050 và 0,988 và dao động trong giới hạn 5% nên không cần hiệu chỉnh.
Qua hai lần kiểm tra và hiệu chỉnh, chúng tôi nhận thấy giá trị trung vị của PAPP‐A và beta HCG tự do ở mỗi tuần và tháng liên tiếp ổn
Trang 6để đánh giá nguy cơ mang thai hội chứng Down
cho mỗi thai phụ tham gia tầm soát trước sinh ở
3 tháng đầu thai kỳ.
Tỉ lệ thai phụ nguy cơ cao mang thai hội
chứng Down
Mục tiêu của việc tầm soát trước sinh ba
tháng đầu thai kì là phát hiện những thai phụ có
nguy cơ cao mang thai hội chứng Down. Các
thai phụ này sẽ được tư vấn để làm các chẩn
đoán xác định có thực sự là thai nhi bị hội chứng
Down hay không. Chúng tôi chọn ngưỡng cut‐
off 1:250 để phân biệt mang thai nguy cơ cao và
nguy cơ thấp với hội chứng Down. Đây là
ngưỡng một số trung tâm tầm soát trên thế giới
và tại Việt Nam lựa chọn(10,14)
Hệ thống tự động AutoDelfia theo cơ chế
miễn dịch huỳnh quang và phần mềm tính nguy
cơ LifeCycle 3.2 cho phép tính và hiệu chỉnh giá
trị trung vị của PAPP‐A và beta HCG tự do
hàng tháng. Các giá trị trung vị này ổn định và
dao động xung quanh ± 5% so với giá trị đích
nên chúng tôi tin tưởng sử dụng trong việc tính
toán nguy cơ cho từng thai phụ mang thai hội
chứng Down.
Với tổng số thai phụ tham gia tầm soát, thai
phụ tham gia tầm soát <35 tuổi có tỉ lệ tầm soát
có nguy cơ cao là 1,5% và thai phụ ≥ 35 tuổi là
13%. Tỉ lệ nguy cơ cao trên toàn nhánh tầm soát
là 2,86%. Tất cả các tỉ lệ này đều thấp hơn nhiều
so với yêu cầu và kết quả của các công trình
nghiên cứu của các đồng nghiệp trong nước và
trên thế giới có cùng ngưỡng cut‐off (trừ nghiên
cứu của Nguyễn Minh Hùng và cộng sự năm
2012 với tỉ lệ nguy cơ cao là 1,66%). Tỉ lệ phát
hiện thai phụ có nguy cơ với hội chứng Down
khác nhau có thể do trang thiết bị máy móc, hóa
chất, phần mềm phân tích và các sai số trong khi
tiến hành hoặc cỡ mẫu chưa đủ lớn(10).
Nếu ngưỡng cut off được mở rộng ra 1:300,
1:350 và 1:400 là ngưỡng dùng để tầm soát sớm
với mục đích giảm tỉ lệ âm tính giả, tỉ lệ phát
hiện thai phụ có nguy cơ cao với hội chứng
Down lần lượt là 3,3%; 3,7% và 4,1%. Mặc dù
mục tiêu của xét nghiệm tầm soát là phát hiện khoảng 5% dân số tham gia tầm soát thuộc nhóm có nguy cơ cao nhưng nếu tỉ lệ này thấp quá sẽ dẫn đến tăng tỉ lệ âm tính giả và bỏ sót những trường hợp những thai phụ có nguy cơ cao cần được tiến hành các xét nghiệm chẩn đoán xác định. Ngược lại, nếu tỉ lệ phát hiện cao hơn 5% thì sẽ làm tăng tỉ lệ dương tính giả và sẽ
có nhiều thai phụ phải bị chọc ối hay tiến hành các thủ thuật xâm lấn vốn được xem là tiềm ẩn những rủi ro cao cho cả thai phụ và thai nhi. Vì vậy, việc chọn giá trị ngưỡng để tầm soát thai phụ có nguy cơ cao hay thấp mang thai hội chứng Down phụ thuộc vào quá trình tầm soát, hiệu quả kinh tế và tính an toàn của các xét nghiệm xâm lấn cùng độ tuổi mang thai tại mỗi quốc gia(9). Sau khi có kết quả sẽ hiệu chỉnh lại sao cho tỉ lệ phát hiện nhỏ hơn 5% dân số tầm soát. Chúng tôi hy vọng khi số thai phụ tham gia sàng lọc nhiều hơn và có thể theo dõi đến khi sinh một cách đầy đủ thì có thể chọn một ngưỡng cut‐off thích hợp hơn không những cho phòng xét nghiệm mà còn có thể là cơ sở tham chiếu cho các phòng xét nghiệm khác có cùng trang thiết bị và phần mềm tính nguy cơ(2).
Bảng 4: Tỉ lệ tầm soát nguy cơ cao ở nhóm thai phụ
<35 tuổi và ≥ 35 tuổi
Tuổi Số thai phụ Ngưỡng
cut-off
Nguy cơ T21
<35 4390 (87,8%) 1:250 66 (1,5%)
≥ 35 610 (12,2%) 1:250 79 (13%)
Tóm lại, tỉ lệ tầm soát cho thai phụ có nguy
cơ cao mang thai hội chứng Down theo phần mềm này là dưới 5% dân số tầm soát nên có thể
sử dụng phần mềm này để tầm soát trước sinh ở
3 tháng đầu thai kỳ. Tuy nhiên, tính hiệu quả và
độ chính xác của chương trình tầm soát phụ thuộc vào việc nâng cao tỉ lệ phát hiện và hạn chế tỉ lệ dương giả đến mức thấp nhất. Để làm được điều này, cần phải tiến hành trên cỡ mẫu lớn hơn và phối hợp với xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ để cho kết luận cuối cùng.
Trang 7Qua nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy có
thể sử dụng hệ thống tự động AutoDelfia và
phần mềm LifeCycle để tầm soát cho những thai
phụ có nguy cơ cao mang thai Hội chứng Down
ở ba tháng đầu thai kỳ. Tuy nhiên, cần những
nghiên cứu sâu và rộng hơn để đánh giá tính
hiệu quả của hệ thống này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
HS, Porter TF, Nyberg DA, Comstock CH, et al.(2007), “First
and second‐trimester screening: detection of aneuploidies
other than Down syndrome”, Obstet Gynecol, 110(3): 651‐7.
Phùng Như Toàn, Trương Đình Kiệt.(2009), “Nghiên cứu ứng
dụng test phối hợp(combined test) trong tầm soát trước sinh
ba tháng đầu thai kỳ”, Tạp chí Y Học TP.Hồ Chí Minh, 13 (1),
pp.190‐7.
(2009), “Tầm soát trước sinh hội chứng Down ba tháng giữa
thai kỳ bằng hệ thống tự động immulite 2000 và phần mềm
Prisca”, Tạp chí Y Học TP.Hồ Chí Minh, 13 (1), pp.198‐203.
Damnjanovic‐Pazin B, Milovanovic Z, Joksic I, et al (2012),
“Screening for aneuploides by maternal age, fetal nuchal
translucency and maternal serum biochemistry at 11‐13+6
gestational weeks”, Srp Arh Celok Lek, 140(9‐10), pp. 606‐11.
Obstet Gynecol India, 56(3), pp.205‐11.
(2012),” Comparison of risk calculation approaches in a screening
programme for Down syndrome”,J Perinat Med, 40(3), pp.259‐63.
specific parameters model for the risk of down syndrome in the
second trimester of Pregnancy”, J Korean Med Sci, 26(12),
pp.1619–24.
Tuấn.(2012),” Đánh giá độ nhạy của triple test trong tầm soát một
số bất thường nhiễm sắc thể thai nhi trên hệ thống autodelfia bằng phần mềm lifecycle 3.2”, Tạp chí phụ sản, 10(2),pp. 29‐33.
screening factors in down’s syndrome”. Journal of Theoretical
& Applied Information Technology, 46(2), pp.790‐3
Trần Quang Vinh, Trần Thị Huyền Trâm. (2012),“Giá trị độ mờ
da gáy và nồng độ các chất free β‐hCG, PAPP‐A trong tầm soát hội chứng Down tại bệnh viện Phụ Sản Quốc Tế Sài Gòn”, Tạp chí
Phụ sản, 10 (2), pp. 34‐9.
to 13 weeks”, Prenat Diagn, 31, pp. 7–15.
Donhowe JM (2009), “Technical standards and guidelines:
prenatal screening for Down Syndrome that includes first‐trimester
biochemistry and/or ultasound measurements”, Genet Med, 11 (9),
pp.669–81.
Cheng PJ (2008), “First and second‐trisemster Down syndrome
screening: current strategies and clinical guidelines”, Taiwan J
Obstet Gynecol, 47(2), pp.157‐62.
American Journal of Medical Genetics Part C (Seminars in Medical Genetics), 145C, pp.18–32
S, Kos M, Megla ZB (2010), “The impact of temporal variability of
biochemical markers PAPP‐A and free β‐hCG on the specificity of the first‐trimester Down syndrome screening: a Croatian retrospective study”, BMC Research Notes,3, pp. 194. doi:
10.1186/1756‐0500‐3‐194.
Methods to Prenatal Screening for Down’s Syndrom During First and Second Trimester Pregnancy of Chinese Women”, Biomed Environ Sci, 26(2), pp. 87‐93
05/01/2014