1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình trạng stress và các yếu tố liên quan ở học sinh trường THPT Nam Hà, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai năm 2012

7 152 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 373,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành nhằm xác định tỷ lệ stress ở học sinh trường THPT Nam Hà, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và các yếu tố liên quan. Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả tại trường Nam Hà, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai năm 2012. Cỡ mẫu là 401 học sinh, được chọn theo cụm với đơn vị cụm là lớp, chọn được 9 lớp. Mỗi khối chọn ngẫu nhiên 3 lớp bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên.

Trang 1

TÌNH TRẠNG STRESS VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH  TRƯỜNG THPT NAM HÀ, THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI 

NĂM 2012 

Phùng Đức Nhật*, Điền Ngọc Trang * , Nguyễn Nhất Chi Mai * , Nguyễn Thị Tuyết Vân *

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Ở Việt Nam, vấn đề stress học đường đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi những hệ 

quả do stress gây ra đối với học sinh như trầm cảm, có hành vi gây hấn hoặc thậm chí tự sát. Trong những năm  gần đây, viện Tâm thần Trung Ương, khoa tâm thần bệnh viện Nhi Trung Ương và các trung tâm tư vấn ngày  càng nhận nhiều phụ huynh đưa con em đi khám, với các triệu chứng chủ yếu là kém ăn, mất ngủ, chóng mặt, 

khó thở, tay chân bủn rủn

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ stress ở học sinh trường THPT Nam Hà, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và  các yếu tố liên quan. 

Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả tại trường Nam Hà, thành phố Biên Hòa, 

tỉnh Đồng Nai năm 2012. Cỡ mẫu là 401 học sinh, được chọn theo cụm với đơn vị cụm là lớp, chọn được 9 lớp. 

Mỗi khối chọn ngẫu nhiên 3 lớp bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên. 

Kết quả: Điểm trung bình tự cảm nhận stress của đối tượng tham gia là 23,9 +/‐ 4,35 điểm. Tỷ lệ học sinh 

có biểu hiện stress theo thang đo PSS‐10 (>=24 điểm) là 44,8%, trong đó stress bệnh lý nhẹ chiếm 34,8%, stress  bệnh lý nặng chiếm 10%. Nghiên cứu phát hiện các yếu tố sau là yếu tố gây stress ở học sinh: lo lắng về kết qủa  học tập, về tương lai; lo lắng về kinh tế gia đình, về áp lực học tập, tình hình an ninh nơi ở và thiếu bạn chia sẻ  khi buồn. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ stress ở học sinh với tỷ lệ học sinh cảm thấy lo lắng về  kết quả học tập, về tương lai và về bệnh của bản thân. Những học sinh lo lắng về kinh tế gia đình bị stress cao gấp  1,56 lần học sinh không lo lắng về kinh tế gia đình. Học sinh lo lắng nhiều về áp lực học tập sẽ bị stress gấp 1,81  lần học sinh không lo lắng. Tỷ lệ học sinh lo lắng vì không có bạn để chia sẻ cao gấp 1,57 lần học sinh không lo 

lắng. Nhóm học sinh lo lắng về tình hình an ninh nơi ở bị stress gấp 1,5 lần nhóm không lo lắng. 

Kết luận: Tỷ lệ stress ở học sinh là 44,8%, trong đó stress bệnh lý nhẹ là 34,8%, stress bệnh lý nặng là 10%. 

Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng stress của học sinh với lo lắng về: ngoại hình bản thân, kinh 

tế gia đình, áp lực học tập từ phía thầy cô, an ninh nơi ở, không có bạn bè để chia sẻ khi gặp chuyện buồn. Trong 

đó, áp lực học tập từ phía thầy cô và kinh tế gia đình là 2 yếu tố gây stress chính ở học sinh. 

Kiến nghị: Nhà trường cần xây dựng phòng tư vấn tâm lý và chăm sóc sức khỏe tâm thần để giải tỏa các 

vấn đề tâm lý cho học sinh.  

Từ khóa: stress, học sinh trung học phổ thông  

ABSTRACT 

THE STATUS OF STRESS AND RELATED FACTORS OF HIGH SCHOOL STUDENTS IN NAM HA 

SCHOOL, BIEN HOA CITY, DONG NAI PROVINCE, 2012 

Phung Duc Nhat, Dien Ngoc Trang, Nguyen Nhat Chi Mai, Nguyen Thi Tuyet Van  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 639 ‐ 647 

Background:  In  Viet  Nam,  stress  in  school  students  had  been  concerned  by  many  researchers  due  to  its 

* Viện Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

consequences such as depression, rebelious behaviors, or even suicide. Recently, the central Institute for Mental  Health, the mental health department of Central Pediatrics Hospital, and many counselling centers received more  and  more  school  students  accompanied  by  their  parents  coming  to  consult  with  symptoms  like  anorexia, 

insomnia, dyspnea, weakness of limbs. 

Objectives: To determine the proportion of students having stress in Nam Ha high school, Bien Hoa city,  Dong Nai province and its related stressors. 

Methods: This is a cross‐sectional study at Nam Ha high school, Bien Hoa city, Dong Nai province in 2012 

with a sample of 401 students by class clusters, randomly chosed 3 classes for each grades: 10 th  grade, 11 th  grade,  and 12 th  grade. 

Result:  The  mean  of  self‐perceived  stress  score  was  23,9  +/‐  4.35.  Proportion  of  students  having  stress  measured by PSS‐10 scale was 44.8%, in which mild stress was 34.8% and serious stress was 10%.  The study 

revealed stressors: worry of study achievemnt, about the future, about household economy, study pressure, living  security at home, and lack of friend to share sadness feeling. There was an association between proportion of stress  and  worry  about  students’study,  worry  about  future,  and  worry  about their  own illness.  Students  suffered  by  poor  household  economy  have  a  tendency  of  getting  stress  1.56  times  higher  than  others.  Students  did  worry  about study pressure suffered stress 1.81 times higher than others. Proportion of students with no friend to share  sadness feeling who suffered stress was 1.57 times higher others. Those students who did worry about security of 

their living place suffered stress 1.5 times higher those who did not worry. 

Conclusion: Proportion of students having stress was 44.8%, in which mild stress was 34.8% and serious 

stress was 10%. There were relationships among stress and these stressors: worry about physical appearrances,  poor  household  economy,  study  pressure  from  teachers,  living  security,  no  friend  to  share  sadness  feeling.  In 

which,  study  pressure  from  teachers  and  poor  household  economy  were  two  main  stressors.  Recommendation:  schools should have a counselling room for students to release their mental stress. 

Key words: stress, high school student. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ở Việt Nam, vấn đề stress học đường đang 

được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi những 

hệ  quả  do  stress  gây  ra  đối  với  học  sinh  như 

trầm cảm, có hành vi gây hấn hoặc thậm chí tự 

sát.  Trong  những  năm  gần  đây,  viện  Tâm  thần 

Trung  Ương,  khoa  tâm  thần  bệnh  viện  Nhi 

Trung Ương và các trung tâm tư vấn ngày càng 

nhận nhiều phụ huynh đưa con em đi khám, với 

các  triệu  chứng  chủ  yếu  là  kém  ăn,  mất  ngủ, 

chóng mặt, khó thở, tay chân bủn rủn. Theo các 

chuyên gia tâm thần học, sức ép học tập, thi cử 

đang đè nặng lên trẻ ngay từ khi học mẫu giáo(5)

Nghiên  cứu  ở  các  trường  trung  học  phổ 

thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 

2007 cho thấy có 21% học sinh bị trầm cảm, 3% 

có hành vi cố ý tự gây thường tích, 8% đã từng 

bỏ  nhà  đi.  Một  nghiên  cứu  khác  của  trung  tâm 

Nghiên  cứu  Phụ  nữ,  đại  học  Quốc  gia  Hà  Nội,  năm  2008  khảo  sát  trên  200  học  sinh  lớp  12  đã  chỉ ra rằng 47% học sinh bị stress từ mức độ nhẹ,  vừa và nặng (3). 

Nghiên cứu “Tình trạng stress và các yếu tố  liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông  Nam  Hà,  thành  phố  Biên  Hòa,  tỉnh  Đồng  Nai  năm 2012” nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ stress ở  học sinh và các yếu tố liên quan dẫn đến stress.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát

Xác định tỷ lệ stress ở học sinh trường THPT  Nam Hà, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và  các yếu tố liên quan. 

Mục tiêu cụ thể

1.  Xác  định  tỷ  lệ  stress  ở  học  sinh  trường  THPT Nam Hà, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng 

Trang 3

2.  Xác  định  mối  liên  quan  giữa  tình  trạng 

stress  và  yếu  tố  bản  thân,  môi  trường  học  tập, 

yếu tố gia đình, yếu tố xã hội ở học sinh trường 

THPT Nam Hà, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng 

Nai. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên  cứu  cắt  ngang  mô  tả.  Thời  gian: 

04/2012‐11/2012 

Địa điểm: trường THPT Nam Hà, thành phố 

Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 

Đối tượng nghiên cứu 

Học sinh trường THPT Nam Hà, thành phố 

Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 

Cỡ mẫu nghiên cứu 

Công thức tính cỡ mẫu 

k d

p p Z

2 1

 

  Trong đó: 

‐ Chọn =0,05 

‐ Z  (1‐/2)  = 1,96 

‐ p: Tỷ lệ stress của học sinh trường THPT Nam Hà, do 

chưa có số liệu chính thức nên ước tính là 50% 

‐ d: độ chính xác tương đối, d=5% 

‐ k: hệ số thiết kế, chọn k=1,5 do chọn mẫu cụm. 

Vậy:  n  =  576  học  sinh.  Do  cỡ  mẫu  n  vào 

khoảng  từ  10%  tổng  số  học  sinh  trở  lên,  nên  ta 

hiệu chỉnh cỡ mẫu theo kích thước quần thể. Cỡ 

mẫu cuối cùng là Nhc = 401 học sinh 

Kỹ thuật chọn mẫu 

Bước  1:  Chọn  mẫu  cụm  với  đơn  vị  cụm  là 

lớp, chọn được 9 lớp. Mỗi khối chọn ngẫu nhiên 

3 lớp bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên. 

Bước 2: Lấy thông tin của tất cả các học sinh 

trong lớp được chọn. Nếu học sinh vắng mặt thì 

sẽ quay lại lấy thông tin vào ngày hôm sau. 

Công cụ và cách thu thập số liệu  

Bộ câu hỏi soạn sẵn, hướng dẫn cho học sinh 

tự điền vào bộ câu hỏi 

Tiêu chí chọn mẫu 

Tiêu chí đưa vào  

Học  sinh  có  mặt  tại  thời  điểm  điều  tra  và  đồng ý tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chí loại ra  

Những học sinh trả lời không đủ 10 câu hỏi  trong bảng tự cảm nhận của Cohen. 

Xử lý số liệu  

Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 

3.1 và phân tích bằng phần mềm Stata 10.0. 

Biến số đánh giá tình trạng bị stress: là biến  nhị giá, gồm 2 giá trị: có và không. Dựa vào bảng  cảm nhận stress của Cohen:  

‐ Không bị stress hoặc phản ứng stress thích  nghi: <24 điểm. 

‐ Stress bệnh lý: >=24 điểm. 

‐ Stress bệnh lý nhẹ: từ 24 đến 29 điểm 

‐ Stress bệnh lý nặng: >= 30 điểm 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Đặc điểm phân bố mẫu nghiên cứu 

Bảng 1: Đặc điểm dân số ‐ xã hội của mẫu nghiên 

cứu (n= 400)  

Trình độ học

Học lực hiện nay

Nhà trọ 8 2,0

Trang 4

nam là 35%. Số học sinh nữ cao gần gấp đôi số 

học  sinh  nam.  Đa  số  học  sinh  là  dân  tộc  Kinh 

chiếm 96,8%, tỷ lệ học sinh là người Hoa chiếm 

2,8%.  Phần  lớn  học  sinh  có  học  lực  ở  loại  khá 

(70,5%), số học sinh có học lực ở mức trung bình 

và  giỏi  lần  lượt  chiếm  tỷ  lệ  14,8  và  13,8%.  Có 

97,2% học sinh đang ở nhà của mình, số học sinh 

ở nhà trọ chiếm 2%. 

Bảng 2: Tỷ lệ stress ở học sinh (n=400) 

Không (<24điểm) 221 55,2

Điểm trung bình tự cảm nhận stress của đối 

tượng tham gia là 23,9 +/‐ 4,35 điểm. 

Tỷ lệ học sinh có biểu hiện stress theo thang 

đo  PSS‐10  (>=24  điểm)  là  44,8%,  trong  đó  stress 

bệnh  lý  nhẹ  chiếm  34,8%,  stress  bệnh  lý  nặng 

chiếm 10%.  

Bảng 3: Mối liên quan giữa tỷ lệ stress với các yếu tố 

thuộc về bản thân học sinh (n=400)  

Đặc điểm Stress (n, %)

p PR (KTC 95%)

Có Không

Lo lắng về ngoại hình bản thân

(1,03-1,67)

Lo lắng về bệnh của bản thân

0,65

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

tình  trạng  stress  ở  học  sinh  với  việc  lo  lắng  về 

ngoại hình bản thân. Học sinh lo lắng nhiều về 

ngoại  hình  bản  thân  bị  stress  cao  gấp  1,31  lần 

học  sinh  không  lo  lắng,  p=0,02<0,05,  PR=1,31 

(KTC 95%: 1,03‐1,67)

Bảng 4: Mối liên quan giữa tỷ lệ stress với các yếu tố  gia đình (n=400) 

Đặc điểm Stress (n, %)

p PR (KTC 95%)

Có Không

Lo lắng về kinh tế gia đình

(1,1-2,1)

(48,4)

163 (51,6)

Lo lắng về hôn nhân của cha mẹ

0,3

(42,9)

154 (57,1)

Lo lắng về xáo trộn trong gia đình

0,5

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ 

lệ stress ở học sinh với sự lo lắng của học sinh về  tình  trạng  kinh  tế  gia  đình  (p<0,01),  PR  =  1,56  (KTC  95%:  1,1‐2,1),  theo  đó  học  sinh  lo  lắng  về  tình trạng kinh tế gia đình bị stress cao gấp 1,56  lần học sinh không lo lắng về kinh tế gia đình. 

Bảng 5: Mối liên quan giữa tỷ lệ stress với các yếu tố 

thuộc về nhà trường (n=400)  

Đặc điểm Stress (n, %)

p (KTC 95%) PR

Có Không

Không lo lắng 100 (42,2)

79

137 (57,8)

Lo lắng về áp lực học từ thầy cô 0,002 1,81

(1,16-2,84)

(47,8) (52,2) 179

Lo lắng về khối lượng bài vở <0,001 2,26

(1,57-2,27)

(47,6)

(60,9)

(54,8)

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ 

lệ stress ở học sinh với việc học sinh lo lắng về  những  áp  lực  học  tập  từ  phía  thầy  cô,  với  p<0,002,  PR=1,81  (KTC  95%:  1,16‐2,84),  theo  đó  những  học  sinh  lo  lắng  về  áp  lực  học  tập  xuất  phát  từ  phía  thầy  cô  bị  stress  cao  gấp  1,81  lần  học sinh không lo lắng về những áp lực này. 

Trang 5

với các yếu tố thuộc về môi trường xã hội (n=400) 

Đặc điểm Stress (n, %)

p (KTC 95%) PR

Có Không

Lo lắng vì không có bạn để chia sẻ <0,001 1,57

(1,26-1,96) Không lo lắng 76 (35,3) 139 (64,7)

Lo lắng về an ninh nơi ở <0,001 1,5

(1,19-1,88) Không lo lắng 72 (35,8) 129 (64,2)

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ 

lệ stress của học sinh với việc học sinh lo lắng vì 

không  có  bạn  thân  để  chia  sẻ  khi  có  chuyện 

buồn,  p  <0,001,  PR  =  1,57  (KTC  95%:  1,26‐1,96), 

theo đó học sinh lo lắng vì không có bạn để chia 

sẻ  bị  stress  cao  gấp  1,57  lần  học  sinh  không  lo 

lắng về vấn đề này. 

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ 

lệ stress của học sinh với việc học sinh lo lắng về 

tình  hình  an  ninh  nơi  ở,  p  <0,001,  PR=1,5  (KTC 

95%:  1,19‐1,88),  theo  đó những học  sinh  lo  lắng 

về an ninh nơi ở bị stress cao gấp 1,5 lần học sinh 

không cảm thấy lo lắng. 

BÀN LUẬN 

Đặc tính mẫu nghiên cứu

Qua khảo sát 400 học sinh của trường trung 

học  phổ  thông  Nam  Hà,  có  140  học  sinh  nam 

(35%)  và  260  học  sinh  nữ  (65%).  Tỷ  lệ  học  sinh 

nữ  nhiều  gần  gấp  đôi  tỷ  lệ  học  sinh  nam,  sự 

chênh lệch về giới tính trong mẫu khảo sát hoàn 

toàn phù hợp với sự phân bố giới tính tại trường 

THPT Nam Hà.  

Về học lực 

Đa số học sinh có học lực khá, giỏi. Tỷ lệ học 

sinh  giỏi  là  13,7%,  khá  70,5%,  trung  bình  14,8% 

và yếu kém là 0,7%.  

Về nơi ở hiện tại 

Tỷ lệ học sinh sống chung với gia đình khá 

cao (97,2%). 

Mức  độ  stress  ở  học  sinh  và  các  mối  liên  quan 

Tỷ lệ stress chung ở học sinh khối 10, 11, 12 

là  44,8%,  trong  đó,  học  sinh  có  biểu  hiện  stress  bệnh lý nặng là 10%, stress bệnh lý nhẹ là 34,8%. 

Tỷ  lệ  này  khá  cao  so  với  nghiên  cứu  trên  sinh  viên  năm  thứ  nhất  đại  học  Y  dược  TP.HCM,  trong  đó  stress  nặng  chiếm  4,3%  và  stress  nhẹ  chiếm  24,8%.  Sự  khác  biệt  này  có  thể  là  do  đối  tượng khảo sát ở nghiên cứu này là học sinh cấp 

3, đang ở lứa tuổi vị thành niên, chưa biết cách  ứng  phó  stress  và  các  học  sinh  lớp  12  phải  đối  mặt  với  kỳ  thi  đại  học  nên  chịu  áp  lực  học  tập  nhiều hơn.  

Kết quả tỷ lệ stress thu được từ nghiên cứu  cũng cao hơn nghiên cứu ở 182 sinh viên khoa Y 

tế công cộng của tác giả Lê Thu Huyền, trong đó 

có  44  sinh  viên  bị  stress  bệnh  lý  chiếm  tỷ  lệ 

24,2%, trong đó stress nhẹ chiếm tỷ lệ 21,4% và 

stress nặng chiếm 2,8% (4). 

Mối liên quan giữa tình trạng stress và các  yếu tố thuộc về bản thân học sinh 

Cảm nhận về ngoại hình bản thân và lo lắng 

về ngoại hình 

Ngoại  hình  bản  thân  là  yếu  tố  nguy  cơ  gây  stress cao ở học sinh trung học phổ thông vì đây 

là  giai  đoạn  trẻ  đang  lớn,  có  nhiều  thay  đổi  về  thể chất và tâm sinh lý.  

Lo lắng về kết quả học tập và tương lai 

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ 

lệ stress ở học sinh với tỷ lệ học sinh cảm thấy lo  lắng về kết quả học tập, về tương lai và về bệnh  của bản thân, p <0,05. 

Mối liên quan giữa tình trạng stress và các  yếu tố thuộc về gia đình 

Hoàn  cảnh  kinh  tế  gia  đình  là  một  trong  những  yếu  tố  gây  stress  ở  học  sinh.  Tình  trạng  kinh  tế  gia  đình  càng  kém  thì  lo  lắng  và  stress  càng tăng lên. Những học sinh lo lắng về kinh tế  gia đình bị stress cao gấp 1,56 lần học sinh không 

lo lắng về kinh tế gia đình (p=0,004). 

Trang 6

yếu tố thuộc về nhà trường 

Áp lực học tập và mối lo lắng của học sinh 

Theo điều tra về stress do học tập của tác giả 

Phạm Thanh Bình, trong đó có 15,3% học sinh có 

stress nặng(6). 

Trong nghiên cứu 333 học sinh tại hai trường 

trung  học  phổ  thông  Massachusette  (106  học 

sinh)  và  Washington  (227  học  sinh)  tác  giả  có 

nhận  định  rằng  nhiều  học  sinh  chịu  gánh  nặng 

stress  từ  chương  trình  học  nặng  nề  và  sức  ép 

phải vào được các trường danh tiếng(2).  

Môi  trường  học  tập  trong  nhà  trường  cũng 

có ảnh hưởng đáng kể đến stress, trong đó quan 

trọng nhất là áp lực từ thầy cô và khối lượng bài 

vở.  Nghiên cứu  cũng  cho  thấy  học  sinh  lo  lắng 

nhiều về áp lực học tập sẽ bị stress gấp 1,81 lần 

học  sinh  không  lo  lắng  và  vượt  qua  được.  Kết 

quả  này  theo  tác  giả  Hồ  Hữu  Tính  nghiên  cứu 

trên học sinh trung học phổ thông tại Phan Thiết 

là 1,62 lần(1). 

Khối lượng bài vở 

Kết quả nghiên cứu cho thấy khi khối lượng bài 

vở học tập tăng lên, tỷ lệ stress của học sinh tăng 

lên. Học sinh cảm nhận khối lượng bài vở nhiều 

bị  stress  gấp  2,26  lần  so  với  học  sinh  có  khối 

lượng bài vở ở mức vừa phải.  

Mối liên quan giữa tình trạng stress và các yếu 

tố thuộc về môi trường xã hội 

Có hai yếu tố khảo sát là mối quan hệ bạn bè 

ngoài xã hội và tình hình an ninh nơi ở.  

Quan hệ với bạn bè ngoài xã hội 

Việc  không  có  bạn  thân  để  chia  sẻ  khi  gặp 

chuyện buồn lại gây stress cao ở học sinh. Tỷ lệ 

học sinh lo lắng vì không có bạn để chia sẻ cao 

gấp  1,57  lần  học  sinh  không  lo  lắng  (KTC95%: 

1,26‐1,96) (p <0,05). 

An ninh nơi ở 

Có mối liên quan giữa việc lo lắng về an ninh 

nơi  ở  và  tình  trạng  stress  của  học  sinh.  Nhóm 

học  sinh  lo  lắng  về  tình  hình  an  ninh  nơi  ở  bị 

stress  gấp  1,5  lần  nhóm  không  lo  lắng.  Nghiên  cứu của Hồ Hữu Tính cũng cho kết quả tương tự  với nhóm an ninh nơi ở kém có tỷ lệ stress tăng  lên gấp 1,53 lần nhóm ở nơi có an ninh tốt (1).  

KẾT LUẬN 

Tỷ  lệ  stress  ở  học  sinh  phân  bố  theo  đặc  tính mẫu 

Tỷ  lệ  stress  ở  học  sinh  là  44,8%,  trong  đó  stress bệnh lý nhẹ là 34,8%, stress bệnh lý nặng 

là  10%.  Tỷ  lệ  stress  ở  nữ  là  51,5%,  ở  nam  là  32,1%.  

Mối liên quan giữa tỷ lệ stress và 4 nhóm  yếu  tố:  bản  thân  học  sinh,  gia  đình,  môi  trường học tập, xã hội 

Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa tình  trạng  stress  của  học  sinh  với  lo  lắng  về:  ngoại  hình bản thân, kinh tế gia đình, áp lực học tập từ  phía thầy cô, an ninh nơi ở, không có bạn bè để  chia  sẻ  khi  gặp  chuyện  buồn.  Trong  đó,  áp  lực  học tập từ phía thầy cô và kinh tế gia đình là 2  yếu tố gây stress chính ở học sinh. Đây cũng là  hai  nguyên  nhân  chủ  yếu  ảnh  hưởng  đến  sức  khỏe tâm thần của học sinh trung học cơ sở.  

KIẾN NGHỊ 

Nhà trường cần xây dựng phòng tư vấn tâm 

lý và chăm sóc sức khỏe tâm thần để giải tỏa các  vấn đề tâm lý cho học sinh như học tập quá căng  thẳng, vấn đề gia đình có xáo trộn, sức khỏe kém  ảnh hưởng việc học; tránh việc học sinh bị stress  lâu  dài  có  thể  dẫn  đến  các  hậu  quả  không  tốt  như bị trầm cảm, các bệnh lý tâm thần, tự sát

Bổ sung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh  trong nhà trường, đưa chương trình giáo dục kỹ  năng  sống  vào  chương  trình  chính  khóa  hoặc  ngoại khóa tại trường, trong đó nên có kỹ năng  đương đầu với stress và đề ra cách ứng phó với  stress. 

Trang 7

1 Hồ  Hữu  Tính  (2009).  Thực  trạng  stress  lo  âu  và  những  liên 

quan  đến  lo  âu  ở  học  sinh  lớp  12  trường  THPT  Phan  Bội 

Châu. Phan Thiết. Bình Thuận. Luận văn tốt nghiệp cử nhân 

Y Tế công cộng năm 2009. Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí 

Minh. Tr. 185. 

2 Lauren  DF  (2011).  Students  Stress  in  high‐pressure  college 

preparatory  schools.  Degree  of  Bachelor  of  Arts.  Wesleyan 

University. Pp 42.  

3 Lê Thị Thanh Thủy (2009). Stress trong học tập và cách ứng 

phó ở học sinh cuối cấp trung học phổ thông. Tạp chí Tâm lý 

y học. 4. 22. 

4 Lê  Thu  Huyền  (2010).  Tình  trạng  stress  và  các  yếu  tố  liên 

quan của sinh viên Y tế công cộng. đại học Y Dược thành phố 

Hồ  Chí  Minh.  năm  2010.  Luận  văn  tốt  nghiệp  cử  nhân  y  tế  công cộng. Đại học Y dược Thành Phố Hồ Chí Minh. Tr 91. 

5 Ngô Toàn Định (1995). Tâm lý y học. Nhà xuất bản y học. Hà  Nội. 89‐89.  

6 Phạm  Thanh  Bình  (2007).  Stress  trong  học  tập  của  học  sinh  trung học phổ thông. Tạp chí tâm lý y học. 12 (105). 

 

Ngày nhận bài báo:       13/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   12/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 07:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w