1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu các đặc điểm giải phẫu bệnh có ý nghĩa tiên lượng trong u mô đệm tiêu hóa

7 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 476,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặt vấn đề về u mô đệm tiêu hóa là u trung mô thường gặp nhất của đường tiêu hóa, thường biểu hiện CD117 (+). Tại Việt Nam, u mô đệm tiêu hóa đã được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu nào về đặc điểm GPB có ý nghĩa tiên lượng trong u mô đệm tiêu hóa.

Trang 1

NGHIÊN CỨU CÁC ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH

CÓ Ý NGHĨA TIÊN LƯỢNG TRONG U MÔ ĐỆM TIÊU HÓA

Ngô Quốc Đạt*, Hứa Thị Ngọc Hà*, Trần Hương Giang*, Đỗ Trọng Hải**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: U mô đệm tiêu hóa (UMĐTH) là u trung mô thường gặp nhất của đường tiêu hóa, thường biểu hiện CD117 (+) Tại Việt Nam, UMĐTH đã được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng chưa

có nghiên cứu nào về đặc điểm GPB có ý nghĩa tiên lượng trong UMĐTH

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi nghiên cứu 130 ca UMĐTH từ 01-2005 đến

04-2011, được chẩn đoán xác định với CD117 dương tính

Kết quả: 43,1% u ở giai đoạn khu trú, 40,8% u không khu trú, 16,9% không xác định được giai đoạn bệnh

Kích thước u tương quan với giai đoạn u (χ 2 , p=0,000, r=0,528) Chỉ số phân bào (PB)/ 50 quang trường lớn (QTL) là 7,8 ± 8,97 PB/ 50 QTL, tương quan với giai đoạn u (χ 2 , p=0,000, r=0,47), không tương quan với hoại

tử u (χ 2 , p=0,2) Tiềm năng ác tính (TNAT) cao chiếm tỉ lệ cao nhất (46,9%), tương quan thuận với giai đoạn bệnh (χ 2 , p = 0,000, r = 0,7), với hoại tử u (χ 2 , p = 0,000, r = 0,38) 5 ca u xâm lấn niêm mạc (4 ca TNAT trung bình và cao) 34,5% u xâm lấn thanh mạc, tương quan với kích thước u (χ 2 , p = 0,000, r = 0,39), với TNAT (χ 2 ,

p = 0,000, r = 0,42) 36,2% u có hoại tử u nhiều, tương quan với kích thước u (χ 2 , p=0,000, r=0,42), với chỉ số phân bào (χ 2 , p=0,02, r=0,307) 38,5% u có dị dạng tế bào, 61,5% không có dị dạng tế bào

Kết luận: kích thước u và chỉ số phân bào là hai yếu tố tiên lượng quan trọng nhất Các yếu tố khác như

giai đoạn bệnh, hoại tử u, xâm lấn niêm mạc, thanh mạc và dị dạng tế bào là những yếu tố tiên lượng cũng quan trọng bổ trợ cho hai yếu tố chính

Từ khóa: U mô đệm tiêu hóa (UMĐTH)

ABSTRACT

A STUDY OF PATHOLOGICAL PROGNOSTIC FACTOR IN GASTROINTESTINAL STROMAL

TUMORS

Ngo Quoc Dat, Hua Thi Ngoc Ha, Tran Huong Giang, Do Trong Hai

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 82 - 88

Background: Gastrointestinal stromal tumors (GISTs) is the most common mesenchymal tumor of the GI

tract, often showing CD117 expression Although, GISTs has been studied in many medical fields in Vietnam, but there’s no study on pathological prognostic factors for GISTs so far

Material and method: This study analyzed 130 cases diagnosed GISTs from 01-2005 to 04-2011: 43.1% of

cases were local stage, advanced stage were 40.8%, 16.9% of tumors had unadequate data for staging Tumor size correlated with tumor stage (χ 2 , p=0.000, r=0.53) Mitotic index was 7.8 ± 8.97 mitoses/ 50 HPF Mitotic index correlated with tumor stage (χ 2 , p=0.000, r=0.47), uncorrelated with tumor necrosis (χ 2 , p=0.2) High risk tumor group was the most common (46.9%) Risk of aggressive behavior correlated with tumor stage (χ 2 , p = 0.000, r = 0.7), with tumor necrosis (χ 2 , p = 0.000, r = 0.38) 5 cases were mucosal invasion (4 of them were intermediate or

*Bộ môn Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh;

**Bộ môn Ngoại tổng quát, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Trang 2

high risk tumors) 40 cases of GISTs (34.5%) were serosal invasion Serosal invasion correlated with tumor size (χ 2 , p = 0.000, r = 0.39), with risk of aggressive behavior (χ 2 , p = 0.000, r = 0.42) 36.2% of cases have had large amount of tumor necrosis Tumor necrosis correlated with tumor size (χ 2 , p=0.000, r=0.42), with mitotic index (χ 2 , p=0.02, r=0.31) 50 cases (38.5%) were significant nuclear pleomorphism, 80 cases were not significant nuclear pleomorphism

Conclusion: tumor size and mitotic index are the most important prognostic factors for GISTs Others, such

as tumor stage, tumor necrosis, mucosal invasion, serosal invasion and nuclear pleomorphism are also valuable for prognosis

Key words: Gastrointestinal Stromal Tumors (GISTs)

ĐẶT VẤN ĐỀ

U mô đệm đường tiêu hóa (UMĐTH) tương

đối hiếm gặp, chiếm < 1% u ác tính của đường

tiêu hóa(6) U có biểu hiện CD117 trong bào

tương và bề mặt tế bào UMĐTH là một trong

những u còn nhiều tranh cãi về yếu tố lượng

bệnh Tuy nhiên, hai yếu tố chính được chấp

nhận rộng rãi trong tiên lượng là kích thước u và

chỉ số phân bào (PB)/ 50 quang trường lớn

(QTL), ngoài ra còn nhiều yếu tố khác có ảnh

hưởng đến tiên lượng như: hoại tử u, thủng

tạng, bờ khối u, xâm lấn niêm mạc, thanh mạc,

cơ quan lân cận, dị dạng tế bào(1,2,3,6,19).…

Tại Việt Nam, những năm gần đây, u mô

đệm đường tiêu hóa bắt đầu được đề cập và

nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực từ lâm sàng,

chẩn đoán hình ảnh đến giải phẫu bệnh Tuy

nhiên, chỉ ở mức báo cáo một hoặc vài ca, hoặc

các nghiên cứu có cỡ mẫu nhỏ và chưa có

nghiên cứu nào tập trung vào nghiên cứu các

đặc điểm giải phẫu bệnh có ý nghĩa tiên lượng

trong UMĐTH

Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm tiên lượng chính:

kích thước u và chỉ số phân bào/ 50 QTL

- Nghiên cứu các đặc điểm giải phẫu bệnh

khác liên quan đến tiên lượng: hoại tử u, thủng

tạng, bờ khối u, xâm lấn thanh mạc, niêm mạc,

cơ quan lân cận, dị dạng tế bào

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

130 ca UMĐTH được chẩn đoán tại Bộ môn

Giải phẫu bệnh, Đại học Y dược Tp Hồ Chí

Minh, từ năm 01-2005 đến 04-2011

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả UMĐTH được chẩn đoán xác định bằng hóa mô miễn dịch (HMMD) với CD117 (+)

và nhuộm HE thường qui

Tiêu chuẩn loại trừ

Các u trung mô đường tiêu hóa có CD117 (– )

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Khảo sát giải phẫu bệnh

Khảo sát các đặc điểm đại thể của u

Vị trí, số lượng, kích thước, màu sắc, mật độ, hoại tử u, u vỡ

Khảo sát các đặc điểm mô bệnh học

Các mẫu bệnh phẩm được cố định trong formalin 10%, sau đó các mẫu bệnh phẩm được cắt lọc, xử lý mô và vùi trong paraffin Tiêu bản được nhuộm thường qui với Hematoxylin- Eosin (HE), sau đó đánh giá các đặc điểm mô bệnh học bằng kính hiển vi quang học của UMĐTH

Xử lý số liệu

Số liệu được tổng hợp, phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS 15.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Qua khảo sát 130 ca, chúng tôi có được những kết quả sau:

Về kích thước u

Kích thước u trung bình 7,8 +/- 5,1 cm, nhỏ nhất 1cm, lớn nhất 29 cm, nhóm u 5-10 cm

Trang 3

chiếm tỉ lệ cao nhất 46,2%, phù hợp với nhiều

nghiên cứu khác (bảng 1) Tỉ lệ u <2 cm rất

thấp 3 ca (2,3%)

Bảng 1: So sánh kích thước u với các tác giả khác

Nghiên

cứu này

DeMateo

RP (5)

Kim

KM (16)

Goh BKP (8)

2-4,9 cm 34 (26,2%) 35 (18%) 276 (37%) 56 (33%)

5-10 cm 60 (46,2%) 69 (35%) 255 (34%) 67 (39%)

>10 cm 33 (25,4%) 76 (38%) 104 (14%) 48 (28%)

Không xác

định

20 (10%) 8 (1%) (*)

(*) Mẫu sinh thiết u, không mổ được

Bảng 2: Một số kết luận về ý nghĩa tiên lượng của

kích thước u

Goh

V (2)

Kích

thước u ≥ 10 cm ≥ 10 cm > 5 cm ≥ 5 cm

Thời gian

theo dõi

(tháng)

40 (1-187) 49 (7,2 –

176) 31 (4 – 292) 78 (0 – 293)

Ý nghĩa

tiên lượng

Tái phát Tái phát Tái phát Độ ác tính

Giá trị p p = 0,04,

HR = 2,31

p = 0,02 p = 0,00001 p = 0,001

DeMateo, Hsu KH, kích thước u ≥ 10 cm là

yếu tố tiên lượng quan trọng nhất, mạnh nhất(5,

14) Khi phân tích tương quan đa biến, kích thước

u ≥ 10 cm là yếu tố tiên lượng tái phát quan

trọng nhất (p = 0,032, Hsu KH) và là yếu tố tiên

lượng xấu độc lập về khả năng sống còn (p =

0,02, Hsu KH), trong khi chỉ số phân bào ≥ 5 PB/

50 QTL chỉ có ý nghĩa tiên lượng yếu (p = 0,

085)(14)

Nghiên cứu này, 20 ca được theo dõi diễn

tiến bệnh, u > 6 cm có xu hướng tương quan với

tái phát hoặc di căn 16 ca u > 6 cm, có đến 13

(81,3%) ca tái phát hoặc di căn Nhận xét này

khá phù hợp với nhiều nghiên cứu khác, kích

thước u là yếu tố tiên lượng độc lập rất quan

trọng về thời gian sống còn không bệnh và tái

phát Tuy nhiên, kích thước u bao nhiêu là có ý

nghĩa rõ rệt nhất thì còn chưa thống nhất, nhưng

đều có đặc điểm chung là kích thước u ≥ 5 cm (>

10 cm; ≥ 7 cm; ≥ 5 cm; nghiên cứu này ≥ 6 cm)

mới có giá trị tiên lượng tái phát hoặc di căn(2, 3, 8,

14, 27) Kích thước u tương quan thuận với giai đoạn u (χ2, p=0,000, r=0,53) Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác, cùng với khả năng cắt trọn khối u và chỉ số phân bào, kích thước u là các yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng nhất của khối u nguyên phát(5,11,12,24,27)

Về đặc điểm phân bào

Bảng 3: So sánh đặc điểm phân bào với các tác giả

khác

Nghiên cứu này

DeMatteo

RP. (3)

Rutkowski

P. (27) (*)

Goh BKP (8)

Miettinen

M. (19) (**)

(56,2%) 94 (74%) 171 (51,1%) (50%) 86 (66,6%) 603

(13,8%) 19 (15%) 47 (14%) (15%) 26

> 10 39 (30%)

14 (11%) 76 (22,7%) 59

(35%)

303 (33,4%)

(*): 41/335 (12,2%) ca không ghi nhận được dữ liệu về phân bào

(**): 906 ca UMĐTH ruột non

Theo bảng 3, nghiên cứu này, chỉ số phân bào 7,8 +/- 8,97 PB/50 QTL, cao nhất 53 PB/50 QTL, thấp nhất 0 PB/50 QTL 73 ca ≤5 PB/ 50 QTL chiếm tỉ lệ cao nhất (56,2%), phù hợp với các nghiên cứu khác

Bảng 4: Ý nghĩa của chỉ số phân bào đối với tiên

lượng

≥ 5 PB/

50 QTL

DeMatteo

V (2)

Thời gian theo dõi (tháng)

62,4 (0,24 – 153,6)

40 (1-187) (7,2 – 49

176)

31 (4 – 292) (0 – 293)78

Ý nghĩa tiên lượng

p = 0.001,

HR = 14,6 0,000, p =

HR = 7,06

p = 0,046 p = 0,0001 p = 0,001

Theo bảng 4, chỉ số PB ≥ 5 PB/ 50 QTL là yếu tố tiên lượng độc lập rất quan trọng về thời gian sống còn không bệnh và tái phát Đối với UMĐTH ruột non, DeMatteo(3), PB ≥ 5 PB/

50 QTL có ý nghĩa tiên lượng quan trọng hơn kích thước u: “Kích thước u là yếu tố tiên lượng quan trọng cho những u có chỉ số phân bào thấp, nhưng ít có ý nghĩa tiên lượng đối với những u có chỉ số phân bào ≥ 5 PB/ 50

Trang 4

QTL, bởi vì những u này có tỉ lệ tử vong rất

cao, ≥ 50% (cho mọi kích thước u)”

Trên 20 ca theo dõi được diễn tiến bệnh, có

xu hướng nhóm u PB ≥ 5 PB/ 50 QTL tái phát

hoặc di căn nhiều hơn so với u PB < 5 PB/ 50

QTL Nhận xét này khá phù hợp với nhiều

nghiên cứu khác, chỉ số PB ≥ 5 PB/ 50 QTL bào là

yếu tố tiên lượng độc lập rất quan trọng về thời

gian sống còn không bệnh và tái phát(2,3,8,14,27)

Ngoài ra, nghiên cứu này còn ghi nhận chỉ

số phân bào tương quan thuận với giai đoạn

bệnh (χ2, p = 0,000, r = 0,47), với vị trí u dạ dày

(χ2, p = 0,04, r = 0,27), không tương quan với hoại

tử u (χ2, p = 0,2 > 0,05)

Về phân độ tiềm năng ác tính

Hiện nay trên thế giới có hai bảng hệ thống

phân độ ác tính cho UMĐTH được chấp nhận

rộng rãi là: bảng phân độ tiềm năng ác tính

(TNAT) của National Institutes of Health

(NIH)(7) và bảng phân độ TNAT của National

Comprehensive Cancer Network (NCCN)(20)

Tham khảo y văn và đặc điểm cụ thể của nghiên

cứu này Chúng tôi chọn cách phân độ TNAC

theo NIH năm 2002 vì:

- Bảng phân độ TNAC theo NIH năm 2002

được chấp nhận rộng rãi nhất, nên dễ có tiếng

nói chung với thế giới

- Dễ áp dụng Đặc biệt có thể áp dụng cho cả

những ca UMĐTH ngoài ống tiêu hóa

Bảng 5: So sánh TNAT với các tác giả khác

Nghiên

cứu

này

NV

Mão (23) Lopes

LF (17) Bertolini

BKP

(8)

Rutkowski

P (27) (*)

Rất

thấp

3 ca

(2,3%)

3 ca (4,1%)

14 ca (4,1%)

19 ca (17%)

3 ca (2%)

(29,2%)

15 ca (20,5%)

46 ca (13,4

%)

34 ca (30,4%)

40 ca (23%)

78 ca (23,8%)

Trung

bình (21,5%) 28 ca (23,3%) 17 ca 93 ca (27,1

%)

29 ca (25,9%) (23%) 39 ca (20,3%) 68 ca

(46,9%)

38 ca (52,1%)

190 ca (55,4

%)

30 ca (26,8%)

89 ca (52%)

177 ca (52,8%)

(*): có 12 ca không mất dữ liệu

Theo bảng 5, 130 ca UMĐTH, u TNAT cao chiếm tỉ lệ cao nhất 61 ca (47%), kết quả tương tự các nghiên cứu khác

Ngoài ra, nghiên cứu này còn ghi nhận TNAT tương quan thuận với giai đoạn bệnh (χ2, p = 0,000, r = 0,7), với hoại tử u (χ2, p = 0,000, r = 0,38)

Mối tương quan của phân độ TNAT theo NIH và khả năng tái phát hoặc di căn:

Trên 20 trường được theo dõi diễn tiến bệnh, nhóm 16 ca tái phát hoặc di căn đều có phân độ TNAT trung bình đến cao, không có ca nào TNAT thấp hoặc rất thấp Ngược lại, 4 ca không tái phát hoặc di căn chỉ có 1 ca TNAT thấp Như vậy, tỉ lệ các ca tái phát hoặc di căn có xu hướng tương quan với TNAT (p = 0,04) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lopes LF(17)., 97 ca tái phát hoặc di căn hoặc tử vong vì bệnh không

có ca nào TNAT rất thấp và chỉ có 3,9% TNAT thấp, ngược lại có đến 19,8% u TNAT trung bình

và 76,3% u TNAT cao

Rutkowski P(27) phân độ TNAT theo NIH rất

có giá trị trong tiên đoán thời gian sống còn không bệnh sau 5 năm: 96% cho nhóm UMĐTH TNAT rất thấp hoặc thấp; 54% cho nhóm UMĐTH TNAT trung bình; và chỉ còn 20% cho nhóm UMĐTH TNAT cao Alvarado-Cabrero

I(1)cũng cho nhận xét phân độ TNAT theo NIH là yếu tố tiên lượng mạnh nhất

Về giai đoạn bệnh

Bảng 6: So sánh giai đoạn bệnh với các tác giả khác

Nghiên cứu này

Trần

T (29)

Kim

KM (15)

(*)

) (*)

Goh BKP (**) (8)

Khu trú 56 ca (43,1%) 53% 654 (88%) ca 58% 41% 149 (87%) Không

khu trú (40,8%) 53 ca (40 ca

XN lân cận; 13

ca DC

xa

42%

(19% XN lân cận;

23% DC xa)

83 ca (6% XN lân cận;

4% DC

xa, 1%

TP)

36%

(17%

XN lân cận;

19% DC xa)

42%

(25%

XN lân cận, 17% DC xa)

22 (13%)

Không xác định

21 ca (16,9%)

(1,3%)

6% 17%

Trang 5

(*) Tổng hợp từ hai dữ liệu rất lớn về ung thư của Hoa Kỳ

là SEER (13 trung tâm) và Trung tâm dữ liệu ung thư

Florida từ năm 1992 đến 2002 trên các trường hợp

UMĐTH ác tính

(**) Loại các trường hợp có di căn, tái phát

Hình 1: UMĐTH dạ dày TNAT cao có kích thước

lớn, xâm lấn, dính chặt vào lách ( >) (Y10-29011)

Hình 2: UMĐTH dạ dày di căn gan ( >) sau 22

tháng cắt trọn u dạ dày (Y10-19655)

Theo bảng 6, nghiên cứu này, tại thời điểm

chẩn đoán, ghi nhận được giai đoạn bệnh của

109 ca Trong đó 56 ca (43,1%) u giai đoạn còn

khu trú, 53 ca (40,8%) u không khu trú Tỉ lệ u

không khu trú tương đối cao so với các nghiên

cứu khác Như vậy, bệnh nhân trong nghiên cứu

này nhập viện trễ hơn, khi bệnh đã ở giai đoạn

muộn Theo Fisher C., có 47% UMĐTH có di căn

ở thời điểm chẩn đoán và 2/3 trường hợp u lớn

hơn 5cm(6)

Nghiên cứu này ghi nhận có mối tương

quan thuận giữa vị trí u (ở dạ dày và không dạ

dày) với giai đoạn u (χ2, p = 0,000, r = 0,357) Kết

quả này phù hợp với Goh BKP(8), tỉ lệ u không

khu trú giữa dạ dày và không phải dạ dày (9%

so với 20%, p=0,04) Nhiều nghiên cứu cũng ghi

nhận UMĐTH dạ dày tiên lượng tốt hơn so với

UMĐTH ở ngoài dạ dày, đặc biệt u ở ruột non(18,22)

Về đặc điểm xâm lấn niêm mạc

Bảng 7: So sánh đặc điểm xâm lấn niêm mạc với các

tác giả khác

TNAT Rất

thấp

bình Cao Tổng cộng

Nghiên cứu này

(4,3%)

(19,9%)

(11,9%) Miettinen

(3,7%)

(*): 906 ca UMĐTH ruột non, 33 ca xâm lấn niêm mạc đều có hoạt động phân bào mạnh, 16/33 trường hợp chết vì bệnh

Theo bảng 7, nghiên cứu này chỉ có 5 ca xâm lấn niêm mạc (3 ca dạ dày, 2 ca ruột non), khá tương đồng với nghiên cứu của Miettinen M(19), nhưng thấp hơn so với các tác giả khác

Nghiên cứu này và của Kim KM(16) thấy các

ca u xâm lấn niêm mạc chiếm tỉ lệ rất cao ở nhóm u TNAT trung bình và cao, rất thấp ở nhóm TNAT rất thấp Kim KM(16) kết luận sự gia tăng mức độ ác tính tương quan thuận với xâm lấn niêm mạc với (p = 0,000)(16), Miettinen M(19) cũng khẳng định xâm lấn niêm mạc là yếu tố tiên lượng không thuận lợi (p = 0,0001)

Về đặc điểm xâm lấn thanh mạc

Trong 116 ca UMĐTH của ống tiêu hóa, 40

ca (34,5%) u xâm lấn đến thanh mạc (1/ u vỡ (11 ca), 2/ xâm lấn các cơ quan lân cận (24 ca) hoặc 3/

vi thể tế bào u ăn lan đến thanh mạc (5 ca)) Như vậy, nghiên cứu này khá tương đồng với nghiên cứu của Goh BKP(8) UMĐTH ở ống tiêu hóa điển hình là khối u đặc nằm ở dưới niêm mạc (60%), hoặc dưới thanh mạc (30%) và 10% u xuyên thành(26) Do đó, những u dưới thanh mạc hoặc u xuyên thành sẽ có khuynh hướng ăn lan ra khỏi thanh mạc, đặc biệt khi u có kích thước lớn, hoại

tử nhiều và có TNAT cao

Chúng tôi cũng ghi nhận, xâm lấn thanh mạc có mối tương quan thuận với kích thước u

Trang 6

(χ2, p = 0,000, r = 0,39), với TNAT (χ2, p = 0,000,

r = 0,42)

Về hoại tử u

Hoại tử u là một yếu tố quan trọng đánh giá

ác tính của u(3,5,6,25,26) Khi u hoại tử nhiều, đặc biệt

trên những u > 10 cm, u rất dễ vỡ gây thủng

tạng dẫn đến phát tán tế bào u Do đó cần phải

thận trọng khi phẫu thuật những ca này, tránh

tình trạng đụng chạm u quá mức(14)

Bảng 8: So sánh đặc điểm hoại tử u mức độ nhiều với

các tác giả khá

TNAT

rất thấp

TNAT thấp

TNAT trung bình

TNAT cao

Nghiên cứu này

Kim KM 215/747

Nghiên cứu này, 47 ca (36,2%) có hoại tử

nhiều Lopes LF(17) 26,8% trường hợp hoại tử

nhiều, trong đó 34% u ≥ 10 cm và thường u giới

hạn không rõ, hoại tử, xuất huyết nhiều

Bertolini V(8) 38/118 ca (32%) có hoại tử nhiều và

u ở dạ dày có tỉ lệ số ca có hoại tử thấp hơn so

với u ở vị trí khác(2) Goh BKP(8) có 45% u có hoại

tử Miettinen M(19) 332 ca (36,6%) có hoại tử

nhiều và hoại tử u có liên quan với biểu hiện ác

tính của u (p = 0,0001)

Hình 3: UMĐTH ở hỗng tràng hoại tử, vỡ, đây là

một yếu tiên lượng xấu (Y05-376), bệnh nhân tái

phát 3 lần và tử vong sau 25 tháng

Chúng tôi ghi nhận, hoại tử u tương quan

thuận với tiềm năng ác tính (χ2, p=0,000, r=0,38)

Kim KM(16) cũng nhấn mạnh nhóm u TNAT thấp có biểu hiện hoại tử u nhiều là những u có kích thước quanh mốc 5 cm và có chỉ số phân bào gần 5/50 QTL, nghĩa là những u TNAT thấp gần mấp mé tiêu chuẩn của u TNAT trung bình(16) Bertolini V(2) cũng ghi nhận hoại tử u có tương quan thuận rất mạnh với TNAT (p = 0,001)

Ngoài ra, chúng tôi cũng ghi nhận hoại tử u tương quan thuận với kích thước u (χ2, p=0,000, r=0,42), với chỉ số phân bào (χ2, p=0,02, r=0,307)

Về dị dạng tế bào

Nhiều tác giả đề nghị chia làm hai nhóm chính, nhóm có dị dạng tế bào (có thành phần sarcomatoid) và nhóm không có dị dạng tế bào(2,8)

Bảng 9: So sánh đặc điểm dị dạng với các tác giả khác

này 130 ca

Goh BKP

171 ca (8)

Bertolini V 118

ca (2)

Theo bảng 9, 130 ca UMĐTH có 50 ca (38,5%) có dị dạng tế bào Tỉ lệ ca có tế bào dị dạng thay đổi rất lớn tùy nghiên cứu Tuy nhiên,

đa số đều ghi nhận mức độ dị dạng nhân là yếu

tố tiên lượng bệnh về khả năng tái phát và di căn(2,3,8)

Nghiên cứu này, u ở vị trí dạ dày có tế bào u

ít dị dạng hơn u ở các vị trí khác (29,9% so với 44%, p= 0,04) Goh BKP(8) cũng có kết quả tương

tự, không dạ dày (39%), dạ dày (21%) (p = 0,01)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu đặc điểm giải phẫu bệnh của 130 ca UMĐTH, chúng tôi ghi nhận:

- Kích thước u, chỉ số phân bào là hai yếu tố tiên lượng rất quan trọng, nên áp dụng bảng phân độ TNAT theo NIH 2002 trong UMĐTH

- Các yếu tố vị trí u, hoại tử, xâm lấn thanh mạc, niêm mạc, dị dạng tế bào là những yếu tố tiên lượng bổ trợ cho hai yếu tố chính

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alvarado-Cabrero I, Vázquez G, Sierra Santiesteban FI, Hernández-Hernández DM, Pompa AZ (2007):

Trang 7

”Clinicopathologic study of 275 cases of gastrointestinal

stromal tumors: the experience at 3 large medical centers in

Mexico” Annals of Diagnostic Pathology 11: 39-45

2 Bertolini V, Chiaravalli AM, Klersy C, Placidi C, Marchet S,

Boni L, Capella C (2008) ”Gastrointestinal stromal

tumors frequency, malignancy, and new prognostic factors: the

experience of a single institution” Pathol Res

Pract.;204(4):219-33

3 DeMatteo RP et al (2008) “Tumor Mitotic Rate, Size, and

Location Independently Predict Recurrence After Resection of

Primary Gastrointestinal Stromal Tumor (GIST)” Cancer Feb

1;112(3):608-15

4 DeMatteo RP (2002) “The GISTs of targeted cancer therapy:

A tumor (gastrointestinal stromal tumor) a mutated gene

(c-kit), and a molecular inhibitor (STI571)” Ann Surg Oncology

9: 831-39

5 DeMatteo RP, Lewis Leung D, et al (2000) “Two hundred

gastrointestinal stromal tumors: Recurrence patterns and

prognostic factors for survival” Ann Surg 231: 51-58

6 Fisher C (2003) “Pathology of Gastrointestinal Stromal

Tumours”, Royal Marsden Hospital London UK, pp 1 – 12

7 Fletcher CD, Berman JJ, Corless C, Gorstein F, Lasota J,

Longley BJ, Miettinen M, O'Leary TJ, Remotti H, Rubin BP,

Shmookler B, Sobin LH, Weiss SW (2002): “Diagnosis of

gastrointestinal stromal tumors: A consensus approach” Hum

Pathol May;33(5):459-65

8 Goh BKP et al (2008) “Which Is the Optimal Risk

Stratification System for Surgically Treated Localized Primary

GIST? Comparison of Three Contemporary Prognostic

Criteria in 171 Tumors and a Proposal for a Modified Armed

Forces Institute of Pathology Risk Criteria” Annals of Surgical

Oncology 15(8):2153–2163

9 Gupta M, Sheppard BC, Corless CL, et al (2006) “Outcome

following surgical therapy for gastrointestinal stromal

tumors” J Gastrointest Surg; 10:1099–105

10 Gutierrez JC (2007) “Optimizing diagnosis, staging, and

management of gastrointestinal stromal tumors” J Am Coll

Surg 205(3):479-491

11 Hassan I, You YN, Shyyan R, et al (2008) “Surgically

managed gastrointestinal stromal tumors: a comparative and

prognostic analysis” Ann Surg Oncol; 15:52–9

12 Hu X et al (2003) “Primary Malignant Gastrointestinal

Stromal Tumor of the Liver” Arch Pathol Lab Med, Vol 127,

1606-1608

13 Huang HY, Li CF, Huang WW, et al (2007) “A modification of

NIH consensus criteria to better distinguish the highly subset

of primary localized gastrointestinal stromal tumors: a

subdivision of the original high-risk group on the basis of

outcome.” Surgery; 141:748–56

14 Hsu KH et al (2007) “Tumor size is a major determinant of

recurrence in patients with resectable gastrointestinal stromal

tumor” The American Journal of Surgery (194): 148–152

15 Kim G et al (2001) “Gastrointsetinal Stromal Tumors:

Analysis of Clinical and Pathologic Factors” American

surgeon, Vol 67, 135-142

16 Kim KM et al (2005) “Gastrointestinal stromal tumors in Koreans: it's incidence and the clinical, pathologic and immunohistochemical findings”, J Korean Med Sci Vol 20: 977-984

17 Lopes LF et al (2008) “Gastrointestinal stromal tumor in Brazil: Clinicopathology, immunohistochemistry, and molecular genetics of 513 cases”, Pathology International, Vol 58: 344-352

18 Miettinen M, Kopczynski J, Makhlouf HR, Sarlomo-Rikala M, Gyorffy H, Burke A, Sobin LH, Lasota J: Gastrointestinal stromal tumors, intramural leiomyomas, and leiomyosarcomas in the duodenum: a clinicopathologic, immunohistochemical, and molecular genetic study of 167 cases Am J Surg Pathol 2003, 27:625-641

19 Miettinen M, Makhlouf H, Sobin LH, Lasota J (2006) “ Gastrointestinal stromal tumors of the jejunum and ileum: a linicopathologic, immunohistochemical, and molecular genetic study of 906 cases before imatinib with long-term follow-up” Am J Surg Pathol, 30:477-489

20 Miettinen M, Lasota J (2006): “Gastrointestinal stromal tumors: pathology and prognosis at different sites” Semin Diagn Pathol May;23(2):70-83

21 Miettinen M, Lasota J (2006) “Gastrointestinal Stromal Tumors: Review on Morphology, Molecular Pathology, Prognosis, and Differential Diagnosis” Arch Pathol Lab Med—Vol 130, October 2006: 1466-1478

22 Miettinen M el al (2002) “Evaluation of Malignancy Prognosis of Gastrointestinal Stromal Tumor”, Human Pathology, Vol 33, pp 478 – 483

23 Nguyễn Văn Mão, Nguyễn Phúc Cương, Trần Văn Hợp, Phạm Kim Bình, Tạ Văn Tờ, Nguyễn Phi Hùng (2010) ” Mô bệnh học và sự bộc lộ một số dấu ấn miễn dịch trong u mô đệm dạ dày-ruột” Y học Việt Nam, tập 375, tr 14-20

24 Pidhorecky I, Cheny RT, Kraybill WG, Gibbs JF (2000)

“Gastrointestinal stromal tumors: Current diagnosis, biologic behavior and management” Ann Surg Oncol.:9: 705-712

25 Riddell RH, Petras RE, Williams GT, Sobin LH (2002): Atlas of Tumor Pathology, 3rd Series, Fascicle 32: Tumors of the Intestines AFIP

26 Rosai J (2004) “Gastrointestinal Tract” Rosai and Ackerman’s Surgical pathology, 9th Edition, Vol 1, Mosby, pp 623 – 822

27 Rutkowski P, Nowecki ZI, Michej W, et al (2007) “Risk criteria and prognostic factors for predicting recurrences after resection of primary gastrointestinal stromal tumor” Ann Surg Oncol; 14:2018–27

28 Steinberg SS (2004) “Alimentary Canal and Associated Organs” Diagnostic Surgical Pathology, Linppincott Williams and Winlkins, 4th Edition, Vol 2, pp 1463–1466

29 Tran T, Davila JA, El-Serag HB: The epidemiology of malignant gastrointestinal stromal tumors: an analysis of 1,458 cases from 1992 to 2000 Am J Gastroenterol 2005, 100:162-168

Ngày đăng: 21/01/2020, 07:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w