1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ chấn thương do tai nạn giao thông đường bộ và kết quả điều trị tại Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận năm 2011

8 67 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 349,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu xác định tỷ lệ các loại chấn thương do tai nạn giao thông và kết quả điều trị tại bệnh viện tỉnh Ninh Thuận năm 2011. Nghiên cứu tiến hành thu thập từ các bệnh nhân nhập viện khoa cấp cứu bệnh viện tỉnh Ninh Thuận vì tai nạn giao thông đường bộ từ ngày 01/01/2011 đến 31/12/2011 được chọn vào nghiên cứu.

Trang 1

TỶ LỆ CHẤN THƯƠNG DO TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ  

VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TỈNH NINH THUẬN NĂM 2011 

Đàng Tấn An*, Đặng Văn Chính** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Đánh giá tỷ lệ chấn thương do tai nạn giao thông (TNGT) là cần thiết vì là vấn đề sức khỏe 

cộng đồng và bệnh nhân do TNGT chiếm một tỷ lệ cao trong những bệnh nhân nằm viện dài ngày. 

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các loại chấn thương do TNGT và kết quả điều trị tại BV Tỉnh Ninh Thuận năm 2011.  Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, cỡ mẫu n=385, thu thập từ các bệnh nhân nhập viện khoa cấp cứu BV 

Tỉnh Ninh Thuận vì tai nạn giao thông đường bộ từ ngày 01/01/2011 đến 31/12/2011 được chọn vào nghiên cứu. 

Kết quả: 28% trường hợp TNGT có sử dụng rượu/ bia, 15% không đội nón bảo hiểm. Thời gian xảy ra tai 

nạn chủ yếu là 18‐24h (49%). Các trường hợp tai nạn xảy ra trên Quốc lộ 1A chiếm 36%, phương tiện gây tai  nạn chủ yếu là xe máy với 70%. Chấn thương đầu mặt và chấn thương sọ não chiếm tỷ lệ cao nhất (42% và  15%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa uống rượu bia và các trường hợp tử vong, giữa uống rượu bia 

và chấn thương sọ não. 

Kết luận: Đa số bệnh nhân nhập viện tuổi 15‐35 tuổi, nam giới. Xe máy gây ra tai nạn là chủ yếu. Tai nạn 

thường xảy ra vào ban đêm từ 18 ‐ <24. Chấn thương đầu mặt và chấn thương sọ não chiếm tỷ lệ cao nhất (42% 

và 15%). Những người bị tai nạn mà có uống rượu bia có tỷ lệ tử vong cao gần gấp 3 lần so với những người  không uống rượu bia. 

Từ khóa: Tai nạn giao thông, chấn thương, rượu bia. 

ABSTRACT 

THE INCIDENCE OF TRAFFIC ROAD ACCIDENT INJURIES AND RESULTS OF TREATMENT AT 

NINH THUAN PROVINCE HOSPITAL, 2011 

Dang Tan An, Dang Van Chinh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 126 – 133 

Background: The incidence of traffic road accident injuries (TRAI) is a public health problem. TRAI were 

accounted for a high proportion of those being hospitalized and having a long treatment and being transferred. 

Objectives: To determine the proportion of kinds of traffic road accident injuries and its treatment results in 

Ninh Thuan Province General Hospital 2011. 

Methods: A cross‐sectional study of 385 hospitalized patients due to traffic road accidenst was carried out 

int Ninh Thuan Province General Hospital from 01/2011 to 12/2011. 

Result: The highest proportion of injuries was caused by motobikes (70%) in which head and face injuries 

were the most common (42% and 15%, respectively). The mortality and brain trauma of TRAI was signicicantly  associated with alcohol use. 

Conclusion: Most of the patients with TRAI were 15‐35 years old, being male, caused by motobikes often at 

night  of  6‐12  PM.  Head  and  face  trauma  accounted  for  more  than  one  half.  People  who  drank  alcohol  died  of  TRAI were nearly three times than those without drinking alcohol. 

Keywords: Traffic road accident, injuries, alcohol. 

** Bệnh viện đa khoa Ninh Thuận  ** Viện Y tế công cộng TP. HCM 

Tác giả liên lạc: BS. CKI. Đàng Tấn An  ĐT: 0919318017   Email: danngtanan1964@yahoo.com.vn  

Trang 2

Tai nạn thương tích là một vấn đề sức khỏe 

cộng  đồng  tại  Việt  Nam  với  tỷ  lệ  tử  vong  và 

thương  tích  cao  so  với  các  bệnh  lây  nhiễm  và 

không  lây.  Mỗi  năm  ở  Việt  Nam  có  tới  hơn 

35.000  người  chết  do  tai  nạn  (trung  bình  100 

người  mỗi  ngày)  với  nhiều  nguyên  nhân  khác 

nhau. Một nghiên cứu tai nạn thương tích năm 

2010  (VNIS)  thực  hiện  trên  quy  mô  toàn  quốc 

cho  thấy  trong  số  nguyên  nhân  tai  nạn  giao 

thông (TNGT) gây tử vong, tai nạn giao thông là 

nguyên  nhân  hàng  đầu  với  tỷ  suất  là 

16,6/100.000(1). 

Hậu  quả  của  chấn  thương  do  tai  nạn  giao 

thông  đường  bộ  rất  lớn.  Theo  kết  quả  khảo  sát 

về  tai  nạn  thương  tích  tại  Việt  Nam  năm  2010 

(VNIS  2010),  Chỉ  tính  riêng  vấn  đề tai nạn giao 

thông, với tỷ lệ tàn tật vĩnh viễn là 5% trong số 

các  nạn  nhân  nhập  viện  thì  mỗi  năm  sẽ  có 

khoảng  trên  15.000  nạn  nhân  TNGT  tàn  tật  và 

con số này gia tăng tích lũy từng năm(6).  

Đánh  giá  từ  Ngân  hàng  phát  triển  châu  Á 

(ADB) cho biết: Tai nạn giao thông mỗi năm làm 

thiệt  hại  cho  nền  kinh  tế  Việt  Nam  khoảng  900 

triệu  USD,  chiếm  khoảng  hơn  1,6%  tổng  sản 

phẩm quốc nội. Ở Việt Nam, theo báo cáo giám 

sát tai  nạn  thương  tích  tại  bệnh  viện  năm 2006, 

trung bình viện phí cho một tai nạn thương tích 

bao gồm cả TNGT tại bệnh viện là gần 1,1 triệu 

đồng/người,  có  trường  hợp  viện  phí  lên  tới  25 

đến 30 triệu đồng.  

Theo  báo  cáo  tổng  kết  của  BV  Tỉnh  Ninh 

Thuận về tai nạn thương tích năm 2011, tổng số 

tai nạn thương tích 8.100 ca trong đó tai nạn giao 

thông 2.944 ca chiếm tỷ lệ 36,2%, điều trị nội trú 

1.599  ca.  Tổng  số  bệnh  nhân  nhập  viện  chung 

trong một năm là 31.895 ca, theo thứ tự cao nhất 

là bệnh tim mạch 3.136 ca, bệnh về hô hấp 2.817 

ca,  bệnh  tiêu  hóa  2.569  ca,  tai  nạn  giao  thông 

1.599 ca xếp thứ tư. Số lượng lớn nạn nhân này 

bệnh  viện  tỉnh  tiếp  nhận  cấp  cứu,  chăm  sóc  và 

điều trị trong khi tình hình thiếu nhân lực y tế, 

đặc  biệt  bác  sĩ  chuyên  khoa  ngoại  chấn  thương 

và  trang  thiết  bị  phục  vụ  cho  chăm  sóc  bệnh  nhân hạn chế. 

Thương  tích  do  TNGT  chiếm  một  tỷ  lệ  cao  trong  những  bệnh  nhân  nằm  viện  dài  ngày,  cùng với tình trạng quá tải thường xuyên ở bệnh  viện tỉnh. Để nâng cao công tác lập kế hoạch đào  tạo bác sĩ chuyên khoa, đánh giá tiên lượng bênh  nhân bị tai nạn giao thông, việc nghiên cứu các  loại  tần  suất  chấn  thương  do  TNGT  đường  bộ  kết  quả  điều  trị,  các  yếu  tố  tiên  lượng  nặng  tai 

BV Tỉnh Ninh Thuận là cần thiết.  

Mục tiêu tổng quát 

Xác định tỷ lệ các loại chấn thương và kết quả  điều trị tại bệnh viện Tỉnh Ninh Thuận năm 2011. 

Mục tiêu cụ thể  

1.  Xác định tỷ lệ các loại chấn thương nhập  viện tại BV Tỉnh Ninh Thuận năm 2011. 

2.  Xác định tỷ lệ các loại chấn thương phân 

bố theo một số đặc điểm dân số xã hội. 

3.  Xác  định  tỷ  lệ  tử  vong  do  tai  nạn  giao  thông  tại  BV  Tỉnh  Ninh  Thuận  năm  2011  phân 

bố theo loại chấn thương 

4.  Xác  định  một  số  yếu  tố  liên  quan  đến  chấn  thương  sọ  não  tại  BV  Tỉnh  Ninh  Thuận  năm 2011. 

5.  Xác  định  yếu  tố  liên  quan  đến  tử  vong,  chuyển  viện  do  tai  nạn  giao  thông  tại  BV  Tỉnh  Ninh Thuận năm 2011. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện ở các  bệnh nhân nhập viện đến khoa cấp cứu BV Tỉnh  Ninh  Thuận  vì  tai nạn giao thông  đường  bộ từ  ngày  01/01/2011  đến  31/12/2011  được  chọn  vào  nghiên cứu 

Cỡ mẫu 

Công thức:  

Với α = 0,05, p = 0,5, d = 0,05, Z 1‐α/2 = 1,96.  

Từ công thức trên tính được cỡ mẫu n = 385. 

Kỹ thuật chọn mẫu 

Chọn  mẫu  ngẫu  nhiên  hệ  thống:  Đầu  tiên, 

Trang 3

lập  danh  sách  toàn  bộ  nạn  nhân  được  đưa  đến 

khoa cấp cứu BV Tỉnh từ 0 giờ ngày 1/1/2011 đến 

31/12/2011 do tai nạn giao thông đường bộ 1.599 

ca  và  đánh  số  thứ  tự  theo  danh  sách  từ  1  đến 

1.599. Tiếp theo tính khoảng cách mẫu bằng cách 

chia: k = 1599/385, và k = 4. Cuối cùng chọn ngẫu  nhiên  đối  tượng  từ  1  đến  4,  trong  trường  hợp  này  là  k  =  2.  Các  đối  tượng  được  chọn  mẫu  nghiên cứu lần lượt là 2, 2+1k, 2+2k,) đến khi đủ 

385 mẫu thì dừng lại. 

KẾT QUẢ 

Phân bố tỷ lệ tai nạn thương tích theo tuổi, giới, nghề nghiệp 

Bảng 1: Phân bố tỷ lệ tai nạn thương tích theo tuổi, giới, nghề nghiệp (n=386) 

Theo tuổi, tỷ lệ chấn thương chiếm hơn 50% là 

từ 15‐34 tuổi. Theo giới, tỷ lệ chấn thương ở nam 

chiếm đa số với 75%. Theo nghề nghiệp, nông dân 

và lao động tự do chiếm đa số (43% và 29%). 

Các đặc điểm khi xảy ra tai nạn và tỷ lệ các loại chấn thương 

Bảng 2: Những đặc điểm trước khi xảy ra tai nạn (n=386) 

Phương tiện gây chấn

thuơng

Thời gian xảy ra chấn

thuơng

Ghi nhận từ các trường hợp tai nạn cho thấy 

có 28% có sử dụng rượu, bia, 15% không đội nón 

bảo hiểm. Thời gian xảy ra tai nạn chủ yếu là 12‐

18h và 18‐24h (36% và 49%). Các trường hợp tai  nạn xảy ra trên Quốc lộ 1 A chiếm 36%, phương  tiện gây tai nạn chủ yếu là xe máy với 70%.  

Bảng 3: Tỷ lệ các loại chấn thương 

Trang 4

Các loại chấn thương Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Chấn  thương  đầu  mặt  và  chấn  thương  sọ 

não  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  (42%  và  15%),  gãy 

xương  chi  chiếm  20%  các  trường  hợp  trong  đó  chủ yếu là gãy chi dưới (15%). 

Tỷ lệ các trường hợp tử vong do tai nạn giao thông phân bố theo một số đặc điểm 

Bảng 4: Tỷ lệ các trường hợp tử vong phân bố theo một số đặc điểm (n=5) 

Ghi nhận các trường hợp tai nạn dẫn đến tử 

vong cho thấy địa điểm xảy ra tai nạn chủ yếu ở 

các  đường  quốc  lộ  khác  60%.  Thời  điểm  xảy  ra  tai nạn là từ 12 giờ đến 24 giờ.  

Mối liên quan giữa các trường hợp tử vong với một số đặc điểm 

Bảng 5: Mối liên quan giữa trường hợp tử vong và một số đặc điểm (n=5) 

P

Có (n,%) Không (n,%)

Thời gian xảy ra tai nạn

0,55

Địa điểm xảy ra tai nạn

0,356

Phương tiện gây tai nạn

0,315

0,022

Trang 5

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

uống  rượu  bia  và  các  trường  hợp  tử  vong, 

PR=2,96,  95%  CI  (1,9  –  4,7),  p=0,022.  Những 

người bị tai nạn mà có uống rượu bia có tỷ lệ tử 

vong cao gấp 2,96 lần so với những người không  uống rượu bia. 

Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê  giữathời gian xảy ra tai nạn, địa điểm xảy ra tai  nạn, phương tiện gây tai nạn và tỷ lệ tử vong. 

Bảng 6: Mối liên quan giữa chấn thương sọ não và chuyển viện, tử vong 

Đặc tính Chấn thương sọ não (n=57)

Có (%) Không (%)

Chuyển viện

4,3

Tử vong

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

chấn thương sọ não và chuyển viện, PR=4,3, 95% 

CI  (2,9  –  6,3),  p<0,001.  Tỷ  lệ  chuyển  viện  ở  các 

trường hợp bị chấn thương sọ não cao gấp 4,3 lần 

những trường hợp không chấn thương sọ não. 

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  chấn thương sọ não và tử vong, PR=23,1, 95% CI  (2,6 – 202,8), p<0,001. Những trường hợp bị chấn  thương  sọ  não  có  tỷ  lệ  tử  vong  cao  hơn  những  trường hợp không bị chấn thương sọ não. 

Bảng 7: Mối liên quan giữa chấn thương sọ não và một số đặc điểm 

Có (%) Không (%)

Phương tiện gây tai nạn

0,05

Thời gian xảy ra tai nạn

0,265

Uống rượu bia

1,95 (1,4 –

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

uống rượu bia và chấn thương sọ não, PR=1,95, 

95%  CI  (1,4  –  2,7),  p<0,001.  Những  người  uống 

rượu bia mà bị tai nạn có tỷ lệ bị chấn thương sọ 

não cao gấp 1,95 lần so với những người không 

uống rượu bia.  

Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê 

giữa phương tiện gây tai nạn và chấn thương sọ 

não,  p=0,05.  Không  có  liên  quan  có  ý  nghĩa 

thống  kê  giữa  thời  gian  xảy  ra  tai  nạn  và  chấn  thương sọ não, p=0,265. 

BÀN LUẬN  Những yếu tố ảnh hưởng đến tai nạn giao  thông đường bộ  

Theo kết quả nghiên cứu cho thấy nạn nhân 

bị  tai nạn  giao thông đường  bộ  ở độ  tuổi  15‐34  chiếm tỷ lệ cao 55,2% và chấn thương có khuynh 

Trang 6

Đặc  điểm  này  có  thể  lý  giải  được  rằng  đây  là 

nhóm dân số trẻ, bất cẩn nên là đối tượng nguy 

cơ  cao  xảy  ra  tai  nạn  khi  tham  gia  giao  thông. 

Nhóm  dân  số  này  cũng  là  lực  lượng  lao  động 

chính của gia đình và xã hội, với tần suất tham 

gia giao thông cao hơn các nhóm tuổi khác, cho 

nên khả năng bị TNGT nhiều hơn và gây ra hậu 

quả nặng nề hơn về mặt tinh thần cũng như về 

mặt kinh tế cho gia đình và đất nước. 

Trong  nghiên  cứu  này,  tỷ  lệ  nam  bị  chấn 

thương  (74,6%)  cao  hơn  nữ  (25,4%).  Nam  giới 

tham  gia  giao  thông  uống  rượu  bia  thường 

không làm chủ tốc độ và phản xạ chậm; chạy xe 

với  tốc  độ  cao,  không  làm  chủ  được  bản  thân 

nên nguy cơ tai nạn nhiều hơn. Nữ giới đi xe cẩn 

thận hơn, tốc độ chậm hơn ít uống rượu bia, nên 

ít tai nạn hơn và thường chấn thương nhẹ hơn. 

Nghiên  cứu  của  Nilambar  Jha  và  Chandra 

Shekhar  Agrawal  tại  hai  bệnh  viện  phía  đông 

Nepal từ tháng 5‐1997 đến tháng 4‐1998 cho thấy 

tỷ số tai nạn theo giới số nam/nữ là 3,2/1) vì so 

với nam phụ nữ ít hoạt động và ít tham gia giao 

thông hơn. 

Tỷ lệ bị TNGT ở người có sử dụng rượu bia 

chiếm  tỷ  lệ  27,7%.  Kết  quả  này  phù  hợp  với 

nghiên  cứu của  Nguyễn  Phú  Định năm 2005  là 

30,8%.  Theo  nghiên  cứu  của  Trần  Tân  Dân  và 

cộng  sự,  tỷ  lệ  uống  rượu  là  12,9%  thấp  hơn 

chúng  tôi.  Rượu  là  nguyên  nhân  trực  tiếp  làm 

giảm  tốc  độ  phản  ứng  của  ngưới  lái  xe  từ  10‐

30%, rượu làm giảm khả năng điều khiển tự chủ, 

phản  xạ  và  thị  lực.  Lái  xe  trong  tình  trạng  say 

rượu,  bia không  chỉ  là nguy  cơ  cao dẫn  đến tai 

nạn  giao  thông  mà  còn  làm  trầm  trọng  thêm 

chấn  thương  khi  xảy  ra  tai  nạn,  gây  phức  tạp 

thêm cho việc gây mê và phẫu thuật do sự tương 

tác  giữa  thuốc  và  chất  cồn  dẫn  đến.  Theo  Tổ 

chức Y tế Thế giới, người đã uống rượu, bia thì 

không nên lái xe vì nghiên cứu y tế cho thấy khi 

có nồng độ cồn trong máu là 40mg/ 100ml máu 

thì nguy cơ dẫn tới tai nạn cũng đã rất cao, với 

nồng độ quá 50 mg/ml máu thì nguy cơ xảy ra 

tai nạn gấp 40 lần.  

Rượu bia hiện nay là nguyên nhân thứ 5 gây 

tử vong trong 10 nguyên nhân gây tử vong cao  nhất trên toàn cầu. Tại Việt Nam, theo thống kê  của Viện Chiến lược và Chính sách y tế và Bộ Y 

tế,  1/3  số  người  sử  dụng  rượu  bia  đã  bắt  đầu  uống trước tuổi 20. Hậu quả của sử dụng rượu  bia là, trên 10% dẫn đến tai nạn giao thông làm  hơn 12.000 người tử vong mỗi năm. Ước tính phí  tổn do rượu bia chiếm từ 2 ‐ 8% GDP của nhiều  quốc gia. 

Phương  tiện  gây  tai  nạn  nhiều  nhất  là  xe  máy  chiếm  tỷ  lệ  70%,  có  thể  do  xe  máy  là  phương tiện chính sử dụng nhiều nhất khi tham  gia  giao  thông.  Ngoài  ra  tình  trạng  chưa  chấp  hành tốt các luật giao thông, các lỗi vi phạm như  phóng  nhanh  vượt  ẩu,  lấn  tuyến,  lái  xe  trong  tình  trạng  say  rượu  góp  phần  gia  tăng  tỷ  lệ  TNGT.  Ở  đây  tình  trạng  tự  ngã  khá  cao  25,1%  điều  này  như  gián  tiếp  nói  lên  thực  trạng  tình  trạng  uống  rượu  bia  vẫn  còn  phổ  biến.  Nhóm  nghiên  cứu  của  Bệnh  viện  Nhân  Dân  Gia  Định  chấn  thương  do  xe  máy  là  64%,  tự  ngã  20% (4),  tương tự như nghiên cứu của Takashi Nagata và  cộng sự do xe máy là 63%(5). 

Tỷ  lệ  tai  nạn  giao  thông  đường  bộ  xảy  ra  nhiều  từ  18  giờ  đến  24  giờ  là  48,5%.  Kết  quả  nghiên  cứu  chấn  thương  tai  nạn  giao  thông  tại 

Hà  Nội  năm  2006  là  40%(2).  Có  thể  do  trước  18  giờ  mật  độ  lưu  thông  ít  hơn  sau  18h,  hơn  nữa  sau 18 giờ, tầm quan sát bị giảm do trời tối và sử  dụng  rượu  bia  trong  khoảng  thời  gian  này  gia  tăng, dẫn đến làm tăng khả năng xảy ra tai nạn  giao  thông  đường  bộ  tăng.  Ban  đêm  hệ  thống  chiếu sáng công cộng không đủ ở nhiều đường,  khả  năng  quan  sát  kém  của  người  điều  khiển  phương  tiện  giao  thông,  thường  lái  với  tốc  độ  cao  hơn  ban  ngày  vì  đường  thoáng  hơn  góp  phần gia tăng tai nạn. 

Trong nghiên cứu này tỷ lê người không đội  nón là 15,3%. Kết quả nghiên cứu của Bệnh viện  Nhân  Dân  Gia  Định  năm  2007  tỷ  lệ  không  đội  nón  bảo  hiểm  là  23,2%(4).  Điều  này  có  thể  giải  thích  thời  điểm  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  vào 

Trang 7

năm  2011  này,  người  dân  đã  có  ý  thức  về  đội 

nón bảo hiểm cao hơn. Một nghiên cứu gần đây 

về  các  trường  hợp  tai  nạn  xe  gắn  máy  từ  Los 

Angeles và Thái Lan cho thấy rằng lái xe không 

đội mũ bảo hiểm có khả năng bị thiệt mạng gấp 

2‐3 lần. Theo nghiên cứu của Pervin và cộng sự 

người lớn tần suất đội nón bảo hiểm 90% ‐ 99% 

nhưng  trẻ  em  từ  7  tuổi  trở  xuống  là  15‐33%  và 

trẻ  em  từ  17  ‐  14  tuổi  là  38  ‐  53%.  Một  trong 

những nguyên nhân khiến các bậc cha mẹ không 

cho con cái đội mũ bảo hiểm vì lo lắng trẻ sẽ bị 

thương  ở  vùng  cổ.  Kết  quả  nghiên  cứu  khẳng 

định sự cần thiết phải đội mũ bảo hiểm cho trẻ 

em khi tham gia giao thông, mũ bảo hiểm giúp 

giảm  nguy  cơ  chấn  thương  đầu  tới  69%,  giảm 

42% nguy cơ tử vong. Theo thống kê của Bộ Y tế, 

mỗi năm có khoảng 4.000 ca tử vong thương tâm 

và  hàng  nghìn  trường  hợp  thương  tích  nghiêm 

trọng ở trẻ em, phần lớn trong số này liên quan 

tới việc đi lại bằng xe máy, các thương tích giao 

thông  đường  bộ  là  nguyên  nhân  hàng  đầu  gây 

ra tử vong và thương tật ở trẻ em Việt Nam. 

Hậu  quả  chấn  thương  sọ  não  của  tai  nạn 

giao thông 

Trong nghiên cứu này chấn thương sọ não tỷ 

lệ 14,8%. So với BV Nhân Dân Gia Định tỷ lệ có 

tổn  thương  trên  phim  CT  sọ  (18,2%)  cao  hơn 

chúng tôi, có thể BV Nhân Dân Gia Định là bệnh 

viện  tuyến  cao  hơn  do  đó  có  nhiều  bệnh  nhân 

nặng hay chuyển tuyến hơn.  

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ 

lệ có tổn thương trên phim CT sọ ở nhóm có đội 

nón  bảo  hiểm  và  nhóm  không  đội  nón  bảo 

hiểm.Nhóm không đội nón bảo hiểm có nguy cơ 

chấn  thương  sọ  gần  gấp  2  so  với  nhóm  có  đội 

nón bảo hiểm. Có sự liên quan giữa chấn thương 

sọ não và không đội nón bảo hiểm. Nghiên cứu 

tại  BV  Lê  Lợi  Vũng  Tàu,  bác  sĩ  Trần  Tân  Dân, 

Đoàn  Đức  Tiến  và  y  sĩ  Lê  Thị  Thu  Đông  tỷ  lệ 

chấn thương sọ não 11% (3), thấp hơn chúng tôi.  

KẾT LUẬN 

Đa số bệnh nhân nhập viện trẻ mà tập trung 

phần  lớn  vào  nhóm  tuổi  15  ‐  35  tuổi,  nam  giới 

chiếm đa số các trường hợp (74,6%). Xe máy gây 

ra tai nạn là chủ yếu (72,7%). Tai nạn thường xảy 

ra vào ban đêm từ 18 ‐ < 24 giờ (48,5%).Tỷ lệ các  trường  hợp  không  đội  nón  bảo  hiểm  còn  cao  (15,3%).  Tỷ  lệ  chấn  thương  sọ  não  chiếm  tỷ  lệ  14,8%, gẫy chi dưới 14,5%. 

Các yếu tố liên quan, tai nạn xảy ra trên Quốc 

lộ 1A có tỷ lệ chuyển viện cao gấp 1,5 lần so với  các  đường  khác.  Những  người  bị  tai  nạn  mà  có  uống rượu bia có tỷ lệ tử vong cao gần gấp 3 lần 

so với những người không uống rượu bia. 

KIẾN NGHỊ 

Kíp  trực  ngoại  chấn  thương  phải  có  bác  sĩ  chuyên  khoa  ngoại  thần  kinh  để  giải  quyết  kịp  thời những ca chấn thương sọ não. Đào tạo đội  ngũ điều dưỡng chuyên hồi sức chăm sóc, theo  dõi về chấn thương sọ não. 

Để  góp  phần  hạn  chế  những  tai  nạn  đáng  tiếc  do  sử  dụng  rượu  bia,  còn  cần  sự  giáo  dục,  tuyên truyền quyết liệt từ phía gia đình và nhà  trường đối với  học sinh, sinh  viên. Gia đình  và  nhà  trường  cần  có  sự  phối  hợp  đồng  bộ  nhằm  giúp các em tránh xa bia, rượu. 

Các  cấp,  các  ngành  của  tỉnh  cần  huy  động  các  tổ  chức  xã  hội,  các  đoàn  thể  quần  chúng  đóng góp và tham gia các cuộc vận động người  dân  không  sử  dụng  rượu,  bia  khi  điều  khiển  phương  tiện  tham  gia  giao  thông.  Vận  động  người  dân  nêu  cao  tinh  thần  trách  nhiệm,  thường  xuyên  nhắc  nhở  cũng  như  phản  đối  những  người  điều  khiển  phương  tiện  đã  sử  dụng rượu, bia. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ Lao động ‐ Thương binh và Xã hội (2012). Công bố kết quả  khảo sát quốc gia về tai nạn thương tích tại Việt Nam. http:  //www.molisa.gov.vn/news/detail/tabid/75/newsid/54763/seo/ Cong‐bo‐ket‐qua‐khao‐sat‐quoc‐gia‐ve‐tai‐nan‐thuong‐tich‐ tai‐Viet‐Nam/language/vi‐VN/Default.aspx.  Truy  cập  ngày  24/3/2013. 

2 Nagata T, Takamori A, Kimura Y, Kimura A, Hashizume M,  Nakahara S (2011). Trauma center accessibility for road traffic  injuries  in  Hanoi.  Vietnam.  Journal  of  Trauma  management  and Outcome 2011. 5: 11. 

3 Trần Tân Dân, Đoàn Đức Tiến, Lê Thị Thu Đông (2010). Tình  hình  tai  nạn  giao  thông  tại  Bệnh  viện  Lê  Lợi  năm  2009  –  2010.Báo cáo bệnh viện Lê Lợi. Tr.34‐57.  

Trang 8

4 Trương  Phước  Sở,  Tô  Vĩnh  Ninh,  Phạm  Dũng  Nghiệp,  Hồ 

Thái Sơn (2009). Nghiên cứu tình trạng chấn thương sọ não từ 

sau  quy  định  đội  nón  bảo  hiểm.  Tạp  chí  Y  Học  TP.  HCM. 

13(6) 319 ‐ 327. 

5 World Health Organization (2011). Road traffic injuries. Fact 

sheet No.43. Tr. 12‐13. 

6 World  Health  Organization.  Văn  phòng  đại  diện  tại  Việt 

Nam.  Phòng  chống  tai  nạn  thương  tích.  bạo  lực  và  an  toàn 

//www.wpro.who.int/vietnam/topics/injuries/vi/.  Truy  cập  ngày 12/12/2013. 

  Ngày nhận bài báo:       16/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   20/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 06:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w