1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát nồng độ β2 microglobulin máu ở các bệnh nhân suy thận mạn chạy thận nhân tạo định kỳ sử dụng màng lọc high-flux (HF) và low-flux (LF)

7 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 447,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát nồng độ β2 microglobulin máu ở các bệnh nhân suy thận mạn chạy thận nhân tạo định kỳ sử dụng màng lọc high-flux (HF) và low-flux (LF). Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ β2 MICROGLOBULIN MÁU

Ở CÁC BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN CHẠY THẬN NHÂN TẠO ĐỊNH KỲ SỬ DỤNG MÀNG LỌC HIGH-FLUX (HF) VÀ LOW-FLUX (LF)

Phạm Văn Bùi*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát nồng độ β 2 microglobulin máu ở các bệnh nhân suy thận mạn chạy thận nhân tạo định

kỳ sử dụng màng lọc High-Flux (HF) và Low-Flux (LF)

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 30 bệnh nhân tại BV ĐKKV Củ Chi (sử dụng

màng lọc High-Flux) và 56 bệnh nhân tại BV Bình Dân (sử dụng màng lọc Low-Flux) từ ngày 01/01/2010 đến 30/06/2010

Kết quả: Nồng độ β 2 microglobulin máu trong cả hai nhóm BN đều cao hơn bình thường với giá trị trong nhóm bệnh nhân dùng màng HF thấp hơn nhóm dùng màng LF (26631,460 ± 7511,38 µg/L và 51580,11 ± 18811,09 µg/L, P < 0,01) Nồng độ Ure máu trước và sau lọc trong hai nhóm BN đều cao hơn bình thường, các giá trị trong nhóm HF đều thấp hơn nhóm LF (21,77 ± 6,67 mmol/L so với 26,54 ± 7,64 mmol/L, P < 0,05 trước lọc và 7,06 ± 2,54 mmol/L so với 9,41 ± 3,26 mmol/L, P < 0,01 sau lọc) Giá trị Kt/V đều thấp ở cả 2 nhóm (1,14

± 0,23 ở nhóm HF và 1,07 ± 0,46 ở nhóm LF, p > 0,05) Tỉ lệ BN có URR > 65% ở nhóm dùng màng HF cao hơn

LF (63,12 ± 12,13 % so với 67,05 ± 7,65 %, p < 0,05) Chúng tôi ghi nhận được mối tương quan thuận giữa nồng độ β 2 m máu với nồng độ Ure máu trước lọc ở nhóm sử dụng màng LF (r = 0,264; p > 0,05)

Kết luận: Nên sử dụng màng lọc High-Flux để tăng hiệu quả lọc các chất có TLPT trung bình nhằm hạn

chế các biến chứng do CTNT lâu dài

Từ khóa: suy thận mạn, chạy thận nhân tạo định kỳ,

ABSTRACT

STUDY OF BLOOD 2 MICROGLOBULIN LEVEL IN PATIENTS WITH END RENAL DISEASE ON

HEMODIALYSIS WITH EITHER HIGH FLUX MEMBRANE

Pham Van Bui * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 75 - 81

Objectives: To study blood β 2 microglobulin level in patients with end stage renal disease on hemodialysis with either High Flux or Low Flux membrane

Methods and Patients: A cross – sectional study was conducted on 30 patients in Cu Chi Hospital (where

High Flux membrane were used) and 56 patients in Binh Dan Hospital (where Low Flux membrane were used) from January 1 st to June 30 th , 2010 The β 2 microglobulin (β 2 m) value in blood of these two arms were compared with each other to see whether the high flux membrane was better than the low flux regarding the elimination of this globulin

Results: The level of blood β 2 m in both groups were higher than normal with lower value in the HF group compared with the LF group (26631.460 ± 7511.38 µg/L vs 51580.11 ± 18811.09 µg/L, P < 0.01) Also, the level

of blood urea was higher than normal in both group with lower value in the HF group compared with the LF group (pre-dialysis: 21.77 ± 6.67 mmol/L vs 26.54 ± 7.64 mmol/L, P < 0.05, and post-dialysis: 7.06 ± 2.54 mmol/L vs 9.41 ± 3.26 mmol/L, P < 0.01, respectively) The Kt/V value was low in both groups (1.14 ± 0.23 in

* Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Trang 2

HF group and 1.07 ± 0.46 in LF group, P > 0.05) There was a lineaire correlation between the level of blood 2 m and the level of pre-dialysis blood urea (r = 0.264, P < 0.05)

Conclusions: HF dialyzer appears to be better than LF dialyzer in elimination of middle molecular weight

substances

Key words: β 2 microglobulin, hemodialysis, High Flux membrane, Low Flux membrane

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chạy thận nhân tạo (CTNT) kéo dài có thể

gây ra các biến chứng mạn tính, một trong

những biến chứng đó là tích tụ 2 microglobulin

(2m) trong máu gây nên bệnh thoái hóa dạng

tinh bột(10), ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất

lượng cuộc sống của những bệnh nhân CTNT

lâu dài Sự tích tụ 2m trong bệnh thoái hóa

dạng tinh bột tại xương, các khớp ngoại biên và

cột sống, gân với biểu hiện lâm sàng là hội

chứng ống cổ tay, viêm khớp ngoại biên, co rút

gân gây đau khớp, khó khăn trong di chuyển,

thậm chí gây liệt và tử vong cho bệnh nhân sau

thời gian dài lọc máu Cho đến nay, vẫn chưa có

phương pháp điều trị hữu hiệu cho bệnh thoái

hóa dạng tinh bột ngoài ghép thận, do đó việc

đưa ra một qui trình lọc máu phù hợp cho bệnh

nhân STM CTNT lâu dài để hạn chế sự tích tụ

của 2m là cần thiết(8)

Tại Việt Nam, các trung tâm CTNT chủ yếu

sử dụng màng lọc có hệ số siêu lọc thấp (Low

Flux-LF), ít có khả năng lọc được các chất có

trọng lượng phân tử (TLPT) trung bình như

2m Vài năm trở lại đây, màng lọc High Flux đã

được sử dụng ở một vài trung tâm Do đó,

chúng tôi thực hiện nghiên cứu (NC) này nhằm

mục đích “Khảo sát nồng độ 2m máu ở bệnh

nhân STM CTNT định kỳ sử dụng màng

High-Flux tại Bệnh viện (BV) Đa khoa khu vực

(ĐKKV) Củ Chi và Low-Flux tại Bệnh viện Bình

Dân”

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả cắt

ngang gồm tất cả BN STM giai đoạn cuối đang

CTNT tại BV Bình Dân, BV ĐKKV Củ Chi trong

thời gian từ 01/01/2010 đến 30/06/2010 Bệnh

nhân từ 15 tuổi trở lên, có thời gian chạy thận ≥1

tháng tính từ lúc bắt đầu chạy thận Tại BV Bình

Dân tất cả bệnh nhân hoàn toàn được CTNT với màng lọc Low Flux(NIPRO 130TGA), trong khi tại BV ĐKKV Củ Chi, bệnh nhân hoàn toàn CTNT với màng lọc High Flux(NIPRO 150UGA) Các bệnh nhân được CTNT 4 giờ/ lần

x 3 lần/ tuần, tốc độ lọc máu 200 ml/phút Trong khi tiến hành nghiên cứu bệnh nhân không truyền máu, truyền đạm để tránh làm tắc màng lọc ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Xét nghiệm 2m bằng máy AxSYM Nồng độ 2m máu bình thường < 2000 µg/L(5), tuy nhiên ở BN CTNT nồng độ 2m máu thường cao hơn và tăng gấp 15-20 lần so với bình thường(1) Theo

đó, biến số nồng độ 2m máu được phân lớp thành ≤ 40000 µg/L và > 40000 µg/L

Ngoài ra còn lấy máu trước và sau CTNT để xét nghiệm các thông số khác như urea, hemoglobin, Kt/V… Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 17.0 Mọi sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,00

KẾT QUẢ Giới

Bảng 1: Đặc điểm về độ tuổi

Tuổi (Năm)

Màng lọc LF (N = 56)

Màng lọc HF

Số BN Tỉ lệ % Số BN Tỉ lệ %

Trang 3

(Năm)

Màng lọc LF

(N = 56)

Màng lọc HF

Số BN Tỉ lệ % Số BN Tỉ lệ %

Trung bình 52,52 ± 13,39 42,66 ± 12,22 0,010

Bảng 2: Đặc điểm về nguyên nhân suy thận mạn

Nguyên nhân

STM

Màng lọc LF (N = 56)

Màng lọc HF (N = 30)

Số BN Tỉ lệ (%) Số BN Tỉ lệ (%) Không rõ NN 17 30,4 15 50,0

Viêm khớp dạng thấp 1 1,8 0 0,0

Bệnh thận đa nang 2 3,6 0 0,0

Dị dạng đường niệu 4 7,1 0 0,0

Bảng 3: Đặc điểm về thời gian chạy thận nhân tạo

Thời gian

CTNT

(Tháng)

Màng lọc LF

(N = 56)

Màng lọc HF (N = 30) P

Số BN Tỉ lệ (%) Số BN Tỉ lệ (%)

Trung bình 35,52 ± 33,85 32,97 ± 27,99 0,725

Biểu đồ 2: Giá trị trung bình nồng độ Ure máu

trước và sau buổi lọc

Nhận xét:

Trung bình nồng độ Ure máu trước lọc

(26,54 ± 7,64 mmol/L) và sau lọc (9,41 ± 3,26

mmol/L) ở BN sử dụng màng LF đều cao hơn

nồng độ Ure máu trước lọc (21,77 ± 6,67 mmol/L) và sau lọc (6,7,06 ± 2,54 mmol/L) ở BN

sử dụng màng HF

Giá trị trung bình nồng độ Ure máu trước lọc ở BN CTNT sử dụng màng LF và HF khác biệt có ý nghĩa thống kê (P= 0,005)

Giá trị trung bình nồng độ Ure sau lọc ở BN CTNT sử dụng màng LF và HF khác biệt có ý nghĩa thống kê (P= 0,001)

Bảng 4: Độ thanh thải từng phần Ure (Kt/V)

Kt/V Ure

Màng lọc LF (N = 56)

Màng lọc HF

Số BN Tỉ lệ (%) Số BN Tỉ lệ (%)

> 1,2 16 28,6 23 43,4 Trung bình 1,07 ± 0,46 1,14 ± 0,23 0,503 Nhận xét:

Hơn 2/3 (71,4%) nhóm bệnh nhân dùng màng LF có Kt/V Ure ≤ 1,2

Hơn 1/2 (56,7%) nhóm bệnh nhân dùng màng HF có Kt/V Ure ≤ 1,2

Giá trị trung bình chỉ số Kt/V Ure ở BN CTNT sử dụng màng LF và HF không khác biệt

có ý nghĩa thống kê

Bảng 5: Tỉ lệ giảm Ure trong máu sau buổi lọc

(URR)

URR (%) Màng lọc LF

(N = 56)

Màng lọc HF

Số BN Tỉ lệ (%) Số BN Tỉ lệ (%)

Trung bình 63,12 ± 12,13 67,05 ± 7,65 0,070 Nhận xét:

Tỉ lệ BN có URR > 65% ở màng HF hơn gần gấp đôi màng LF (70% so với 42,9%)

Giá trị trung bình chỉ số URR ở BN CTNT sử dụng màng LF và HF không khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 6: Nồng độ β 2 m

2m (µg/L)

Màng lọc LF (N = 56)

Màng lọc HF

Số BN Tỉ lệ (%) Số BN Tỉ lệ (%)

> 40000 45 80,4 1 3,3

Trang 4

Trung bình 51580,11 ± 18811,09 26631,46 ± 7511,38 0,0001

Nhận xét:

Hơn 4/5 (80,3%) nhóm bệnh nhân dùng

màng LF có nồng độ β2m trong máu > 40000

µg/L

Hầu hết (96,6%) nhóm bệnh nhân dùng

màng HF có nồng độ β2-m trong máu ≤ 40000

µg/L

Giá trị trung bình nồng độ β2m ở BN CTNT

sử dụng màng LF và HF khác biệt có ý nghĩa

thống kê (P < 0,05)

Biểu đồ 3: Tương quan giữa nồng độ 2 m máu với

TGCT ở bệnh nhân dùng màng LF và HF

máu với TGCT ở BN sử dụng màng lọc LF là

tương quan không chặt với r = -0,060; p = 0,658

và sử dụng màng lọc HF là tương quan không

chặt với r = 0,207; p = 0,271

Biểu đồ 4: Tương quan giữa nồng độ β 2 m máu với

Hb ở bệnh nhân dùng màng LF và HF

Tương quan giữa nồng độ β2m máu với Hb

ở BN sử dụng màng lọc LF là tương quan không

chặt với r = -0,070; p = 0,899 và sử dụng màng

lọc HF là tương quan nghịch có ý nghĩa với r = -0,362; p = 0,049

Biểu đồ 5: Tương quan giữa nồng độ β 2 m máu với Ure máu trước lọc ở bệnh nhân dùng màng LF và

HF

máu với Ure máu trước lọc ở BN sử dụng màng lọc LF là tương quan thuận với r = 0,264; p = 0,050 và màng lọc HF là tương không chặt với r

= 0,054; p = 0,776

Biểu đồ 6:Tương quan giữa nồng độ β 2 m máu với Ure máu sau lọc ở bệnh nhân dùng màng LF và HF

máu với Ure máu sau lọc ở BN sử dụng màng lọc LF là tương quan không chặt với r = 0,240; p

= 0,074 và sử dụng màng lọc HF là tương quan không chặt với r = 0,244; p = 0,193

Trang 5

Biểu đồ 7: Tương quan giữa nồng độ β 2 m máu với

URR ở bệnh nhân dùng màng LF và HF

máu với URR ở BN sử dụng màng lọc LF là

tương quan không chặt với r = -0,063; p = 0,647

và sử dụng màng lọc HF là tương quan không

chặt với r = -0,318; p = 0,087

Biểu đồ 8: Tương quan giữa nồng độ β 2 m máu với

Kt/V Ure ở bệnh nhân dùng màng LF và HF

máu với Kt/V Ure ở BN sử dụng màng lọc LF là

tương quan không chặt với r = -0,001; p = 0,992

và sử dụng màng lọc HF là tương quan không

chặt với r = -0,305; p = 0,101

BÀN LUẬN

Hơn 2/3 BN trong nghiên cứu của chúng tôi

dưới 60 tuổi (69,64 % ở nhóm LF và 93,3% ở

nhóm HF) chỉ có 30,36% BN ở nhóm LF và 6,7%

BN ở nhóm HF trên 60 tuổi, khác với báo cáo

của USRDS(2005) BN trên 60 tuổi chiếm gần

50%(7) Tuổi cũng là một yếu tố nguy cơ của

STM giai đoạn cuối Ở các nước phát triển (như

Mỹ) suy thận do ĐTĐ tăng rõ theo tuổi, trên

66% xảy ra trước 64 tuổi ĐTĐ và THA là

nguyên nhân gây STM ngày càng tăng ở người

> 75tuổi, và khi diễn tiến tới STM giai đoạn cuối

họ thường bị các bệnh kết hợp do hậu quả của

bệnh nguyên (thiếu máu cơ tim, bệnh mạch máu

ngoại biên, suy tim) Ngược lại, ở các nước đang

phát triển các nguyên nhân dẫn đến suy thận

theo độ tuổi khác so với các nước phát triển, do

có một số bệnh đặc trưng ở các nước đang phát

triển dẫn đến suy thận nhanh hơn ở lứa tuổi trẻ

Ở Việt Nam, các nguyên nhân như bệnh viêm

cầu thận, viêm thận mô kẽ, sỏi niệu chiếm tỷ lệ khá cao và gây ra suy thận tập trung nhiều ở lứa tuổi 30-60 Do đó độ tuổi trung bình của BN STM giai đoạn cuối ở các nước đang phát triển cũng thấp hơn so với các nghiên cứu, các thống

kê của các nước phát triển

Thời gian chạy thận nhân tạo trung bình trong NC của chúng tôi là 35,52 ± 33,85 tháng

ở nhóm dùng màng LF, và 32,97 ± 27,99 tháng

ở nhóm dùng màng HF, và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (P > 0,05) TGCT trung bình ở hai nhóm trong NC của chúng tôi không có chênh lệch đáng kể và thấp hơn so với NC của Alfred K.Cheung và cộng sự (2005)là 44,4 ± 51,6 tháng(4) Điều này

có thể giải thích một phần do kỹ thuật lọc máu ở các trung tâm CTNT tại Việt Nam chưa tốt bằng các nước phát triển, thêm vào đó điều kiện kinh tế thấp của người bệnh cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của buổi lọc máu cũng như khả năng

duy trì thời gian CTNT về sau

Kết quả NC cho thấy giá trị trung bình của Ure máu sau lọc ở màng HF là 7,06 ± 2,54 mmol/L, trong khi đó giá trị này sau khi lọc bằng màng LF là 9,41 ± 3,26 mmol/L, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (p = 0,01) Tuy nhiên, nồng độ Ure máu sau lọc chỉ là giá trị đánh giá hiệu quả lọc Ure cũng như các chất có TLPT thấp một cách khách quan Hiện nay trên thế giới tỷ số Kt/V Ure và URR được các nhà thận học chấp nhận để đánh giá hiệu quả lọc máu và hiệu quả loại bỏ các chất có TLPT thấp(9) Kt/V là hệ số phản ánh sự loại bỏ các chất có TLPT thấp ra khỏi cơ thể như Ure, Creatinin, Phospho, PTH Theo tiêu chuẩn của lọc máu tối ưu được thận Hội thận học quốc gia

Mỹ (NKF-DOQI) khuyến cáo các buổi lọc cần đạt mức URR tối thiểu là 65% và Kt/V Ure tối thiểu là 1,2(3) Kết quả thu được trong NC của chúng tôi cho thấy giá trị trung bình của Kt/V Ure ở cả 2 nhóm dùng màng HF và LF đều không đạt được mục tiêu yêu cầu Tuy nhiên, ở nhóm BN sử dụng màng HF thì giá trị trung

Trang 6

bình của Kt/V Ure có cao hơn ở nhóm LF (1,14 ±

0,23 so với 1,07 ± 0,46), nhưng khác biệt này

không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)

Đối với URR, nhóm BN sử dụng màng HF

đã đạt được mục tiêu URR > 65% cao hơn LF

(67,05 ± 7,65% ở nhóm HF so với 63,12 ±

12,13% ở nhóm LF) Tuy nhiên, sự khác biệt

này cũng không có ý nghĩa thống kê ở cả 2

nhóm (P > 0,05)

Để đánh giá hiệu quả lọc đối với β2m, các

NC trước đây dựa vào kết quả xét nghiệm nồng

độ β2m máu trước và sau lọc Nhưng do những

khó khăn trong vấn đề kinh phí bệnh nhân phải

tự chi trả, nên chúng tôi chỉ lấy máu xét nghiệm

β2m tại một thời điểm Kết quả này cũng có thể

đánh giá được phần nào những khác biệt nếu có

về nồng độ β2m nói chung và các chất có TLPT

trung bình nói riêng giữa 2 nhóm sử dụng màng

HF và LF

Trong NC của chúng tôi, nồng độ 2m máu ở

cả 2 nhóm đều cao hơn rất nhiều so với giá trị

bình thường (< 2000 µg/L) Kết quả NC cho thấy,

nhóm BN sử dụng màng HF, phần lớn BN có

nồng độ β2m máu ≤ 40000 µg/L (chiếm tỉ lệ

96,7%), ngược lại, nhóm BN sử dụng màng LF

phần lớn có nồng độ 2m máu > 40000 µg/L

(chiếm tỉ lệ 80,4%) Giá trị trung bình của nồng

độ β2m máu giữa 2 nhóm cũng chênh lệch khá

cao (26631,46 ± 7511,38 µg/L ở nhóm sử dụng

màng HF so với 51580,11 ± 18811,09 µg/L ở

nhóm sử dụng màng LF, sự khác biệt này có ý

nghĩa về mặt thống kê P < 0,001) Kết quả này

cho thấy khi sử dụng màng có hệ số siêu lọc cao

HF thì khả năng lọc các chất có TLPT trung bình

(ở NC này là β2m) tốt hơn khi sử dụng màng có

hệ số siêu lọc thấp LF

Trong NC của Asim M và cộng sự (2010)

thì giá trị trung bình của nồng độ β2m sau lọc

với màng LF là 92600 ± 17100 µg/L(2) Còn NC

của Mario T và cộng sự thì giá trị trung bình

của nồng độ 2m sau lọc với màng LF là 42140

± 14000 µg/L, màng HF là 21000 ± 10800 µg/L

và sự khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống

kê (P < 0,05)(11) Alfred K Cheung và cộng sự

cũng nhận thấy giá trị trung bình của nồng độ

β 2m khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa màng

HF và LF (33600 µg/L so với 41500 µg/L, P < 0,05)(3) Lý giải về nguyên nhân gây ra tăng nồng độ 2m, Asim M và cộng sự đưa ra kết luận việc sử dụng màng LF là nguyên nhân chính gây nên việc tăng nồng độ β2m ở BN STM giai đoạn cuối Chất liệu màng lọc, dịch lọc Bicarbonate và thời gian của buổi lọc không liên quan đến nguyên nhân này(2) Trong NC khác của Willy Lorny và cộng sự cũng cho thấy màng HF loại bỏ 2m tốt hơn LF: với cùng tốc độ dịch là 100ml/ph thì độ thanh thải 2m của HF là 116,8ml/phút so với LF là 63,8 ml/phút (P < 0,01)(6)

Trong NC của chúng tôi, giữa 2 nhóm ngoài

sự khác nhau giữa loại màng HF và LF thì đều giống nhau về chất liệu màng lọc (cellulose), dịch lọc Bicarbonate và thời gian của mỗi buổi lọc (240 phút) So sánh về 2 màng lọc, chúng tôi thấy rằng màng lọc HF có hệ số siêu lọc (Kuf = 29,8 ml/giờ/mmHg) cao hơn hẳn hệ số siêu lọc của LF (Kuf = 12,8 ml/giờ/mmHg) Ngoài ra, màng lọc HF còn có hệ số lọc β2m (0,88) cao hơn của LF (0,36) Các đặc tính trội hơn của màng

HF so với LF là do sự khác biệt về kích thước của lỗ lọc, đối với HF là 70 và LF là 50 Như vậy cũng có thể nói hệ số siêu lọc của màng lọc cũng như kích thước của lỗ lọc là yếu tố chính của quá trình lọc máu ảnh hưởng đến nồng độ β2m máu, gây ứ đọng β2m và dẫn đến bệnh thoái hóa tinh bột trên BN STM CNTN định kỳ

Chúng tôi nhận thấy, để loại thải các chất có TLPT trung bình trở lên cần sử dụng màng lọc

HF Ngoài ra, những BN sử dụng màng LF dù

có Kt/V Ure đạt yêu cầu thì cũng cần kiểm tra định kỳ nồng độ các chất có TLPT trung bình trở lên xem có ứ đọng các chất này không nếu có điều kiện vì có thể gây nên biến chứng lâu dài

về sau

Về mối tương quan giữa nồng độ β2m máu với các giá trị thu thập trong NC, chúng tôi không ghi nhận mối tương quan giữa nồng độ

2m máu với TGCT, Hb ở nhóm LF, Ure máu

Trang 7

trước lọc ở nhóm HF, Ure máu sau lọc, Kt/V Ure

và URR Ngoại trừ, mối tương quan nghịch giữa

nồng độ β2m máu với Hb ở nhóm HF và mối

tương quan thuận giữa nồng độ β2m máu với

Ure máu trước lọc ở nhóm LF

Nghiên cứu có những hạn chế: vì là NC

mô tả cắt ngang, chỉ ghi nhận số liệu tại một

thời điểm, chúng tôi không thể theo dõi được

sự thay đổi của nồng độ β2m máu theo thời

gian ở 2 nhóm BN sử dụng màng HF và LF

Mẫu NC còn khá nhỏ nên hạn chế mức độ

mạnh của NC Chúng tôi chưa ghi nhận được

mối tương quan giữa nồng độ β2m máu và các

biểu hiện lâm sàng của các biến chứng do ứ

đọng β2m Sau cùng, do hạn chế về kinh phí

cũng như mục tiêu của NC là chỉ khảo sát

nồng độ β2m máu giữa 2 nhóm HF và LF nên

chúng tôi chỉ lấy xét nghiệm β2m máu một lần

mà không đánh giá hiệu quả lọc β2m giữa 2

loại màng này trước và sau chạy thận

Cám ơn: Chúng tôi xin chân thành cám ơn các sinh viên Y6

và các BS Lưu Thị Thủy Tiên, Lâm Hoàng Thy Vân, Ban

giám đốc, Phòng kế hoạch tổng hợp, Khoa lọc máu các Bệnh

viện Bình dân, Đa khoa khu vực Củ chi đã giúp chúng tôi

thực hiện công trình này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American Kidney Foundation (2003) β2-microglobulin amylodosis American kidney foundation - NKF/DOQI Guideline

2 Asim M., Anees M (2010), β2m levels in Heamodialysis Saudi J Kidney Dis Transl, 21(4): p 701-706

3 Cheung AK., Greene T., Leypoldt JK (2008) Association between serum β2m level and infectious mortality in hemodialsis patients J Am Soc Nephron 3: p 69-77

4 Cheung AK., Rocco VM., Guofen V., Leypoldt KJ., Levin WN (2006) Serum β2m levels predict mortality in Dialusis patients: Results of the HEMO study J Am Soc Nephron, 17: p 546-555

5 Ford LL., Ward RA., Cheung AK (2009) Choice of the Hemodialysis Membrane, Principles and Practice of Dialysis Lippincott Williams & Wilkins, p.65-69

6 Lorny W., Because J., Sierens L (1998) Remarkable removal of β2m by online hemodiafiltration, Am J Nephron, (18): p

105-108

7 Slinin Y., Foley RN., Collins AJ (2005) Calcium, Phosphorus, Parathyroid Hormone and Cardiovascular Disease in hemodialysis patients J Am Soc Nephron - The USRDS 16: p 1788-1793

8 Sprague SM., Moe SM (2004) Clinical manifestations and pathogenesis of dialysis-related amyloidosis Semin Dial

p.360-369

9 Titus W., Owen WF (2000) Heamodialysis Adequacy Dialysis and Transplantation p 57-79

10 Trần VC (2004) Giải phẫu sinh lý thận Bệnh thận nội khoa NXB Y học, tr 43-45

11 Traut M., Haufe CC., Eismann U (2007), Increased binding of β2m to blood cells in dialysis patients treated with HF dializers compared with LF membranes contributed to reduce β2m concentrations Blood Purif, 2007 25: p 432-440

Ngày đăng: 21/01/2020, 06:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w