Nội dung của bài viết trình bày về hấp thu dịch ròng trong cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt, xác định tỉ lệ thay đổi điện giải và hấp thu dịch sau cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Sorbitol 3,3% an toàn để sử dụng làm dung dịch ròng.
Trang 1ĐÁNH GIÁ THAY ĐỔI ĐIỆN GIẢI TRONG CẮT ĐỐT NỘI SOI
TUYẾN TIỀN LIỆT QUA NIỆU ĐẠO
Lê Thị Cẩm Thanh*, Nguyễn Thị Thanh**, Nguyễn Văn Ân***
TÓM TẮT
Mở đầu: Hấp thu dịch ròng thường xảy ra trong cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt Biểu hiện của hội chứng này
là rối loạn thần kinh trung ương, tăng thể tích máu, thay đổi điện giải Nhằm giúp ích việc điều trị hiệu quả hơn chúng tôi xác định tỉ lệ thay đổi điện giải và hấp thu dịch sau cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt
Đối tượng & Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả dọc ở 1 nhóm bệnh nhân Bệnh nhân được chọn
là những trường hợp cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt ở khoa soi niệu bệnh viện Bình Dân Tất cả bệnh nhân được vô cảm bằng gây tê tuỷ sống, sử dụng dung dịch Sorbitol 3,3%, kiểm tra những xét nghiệm điện giải đồ trước và một giờ sau mổ
Kết quả: Có thay đổi ở mức độ nhẹ trong mức độ Natri và Canxi máu Kali và Clo không thay đổi Mối
tương quan với giảm nồng độ Natri máu là tuổi bệnh nhân và trọng lượng tuyến tiền liệt Những biểu hiện của hội chứng hấp thu dịch là rối loạn nhịp tim (4,3%), hạ huyết áp (2,8%), nôn và buồn nôn (2,8%)
Kết luận: Sorbitol 3,3% an toàn để sử dụng làm dung dịch ròng
Từ khóa: Đánh giá thay đổi điện giải, cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt qua niệu đạo
ABSTRACT
SERUM ELECTROLYTES OF CHANGE IN TRANSURETHRAL RESECTION OF PROSTATE
Le Thi Cam Thanh, Nguyen Thi Thanh, Nguyen Van An
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 1 - 2014: 378 - 385
Objectives: absorption of the fluid used for bladder irrigating during transurethral resection of prostate
(TURP) may disturb central nervous and circulative systems changes, electrolyte imbalance and lead to clinical systomsknowns as the transurethral resection syndrome The purpose of the study to evaluate the changes in electrolyte in patient who had undergone TURP
Methods: seventy two patients with benign prostatic hypertrophy enrolled in the present study, TURP was
performed as recommended the spinal anesthesia Sorbitol 3.3% was used as an irrigating fluid for the bladder washing, laboratory tests were performed before and one hour after surgery
Result: The statistically significant changes were reported in the serum Sodium, Calcium No changes were reported in the serum potassium and chlorine Most of changes were slight increase Age of patient and weight of gland used had better correlation with change in sodium level The common complication werecardiac arrhythmias (4.3%), hypotesion (2.8%), nausea and vomiting (2.8%)
Conclusion: Sorbitol 3.3% was been shown to be a safe irrigating for TUPP
Keywords: Fluid and electrolyte balance; Transurethral resection of prostate; Transurethral resection of
prostate syndrome
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cắt đốt nội soi TTL qua niệu đạo
(Transurethral resection of prostate-TURP) bắt đầu
sử dụng trong những năm 1920(12) Đây là phương pháp ít sang chấn, có nhiều ưu điểm so
* Bệnh viện Quãng Ngãi **Trường Đại học Y Dược Tp.HCM ***Khoa Niệu A, BV Bình Dân
Trang 2với phẫu thuật mở, nên ngày càng trở nên phổ
biến, chiếm 90% trường hợp, được xem là tiêu
chuẩn vàng cho điều trị tăng sinh lành tính
tuyến tiền liệt(16)
Tại vùng cắt, xảy ra hai hội chứng nguy hiểm
là mất máu và hấp thu dịch trực tiếp vào lòng
mạch hay gián tiếp do đục thủng vỏ bao tuyến
tiền liệt hay vách bàng quang(11,21) Hội chứng
hấp thu dịch sau cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt
(Transurethral resection syndrome - TURs) bao gồm
những triệu chứng tim mạch, hệ thống thần kinh
trung ương, các triệu chứng này từ nhẹ đến nặng
dần là mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn, rối loạn
nhịp, tăng huyết áp, nhịp chậm, lú lẫn, hôn mê
Các triệu chứng này xảy ra cấp tính và nếu
không chú ý có thể dẫn đến nguy cơ tử
vong(10,18,19,29,32)
Theo y văn tỉ lệ hấp thu dịch ròng khoảng
15%(23), tuy nhiên triệu chứng lâm sàng khởi phát
với các dấu hiệu không đặc trưng, đôi khi chỉ
buồn ngủ, buồn nôn, mất định hướng không
gian và thời gian nên dễ bỏ qua nếu không định
lượng Natri máu sau mổ Trong nhiều nghiên
cứu tỉ lệ giảm Natri máu 11-56%(1,7), tăng Kali
máu 5-16%(8,17) Việc theo dõi, phát hiện và điều
trị hội chứng hấp thu dịch ròng không khó khăn,
nhưng nếu không kịp thời bệnh nhân sẽ hạ Natri
máu nặng, tiến triển nhanh chóng dẫn đến hôn
mê, tổn thương não vĩnh viễn, tử vong(3,13,15) Đặc
biệt đây là nhóm bệnh nhân lớn tuổi gồm nhiều
bệnh kèm như tim mạch, hô hấp, thần kinh,
thận, nội tiết(28)….Vì vậy việc theo dõi các triệu
chứng của hội chứng hấp thu dịch và thay đổi
điện giải rất cần thiết
Tại bệnh viện Bình Dân, cắt đốt nội soi TTL
qua niệu đạo với số lượng lớn (> 1000 bệnh
nhân/năm), sử dụng dung dịch ròng sorbitol
3,3% là dung dịch nhược trương so với huyết
tương Vì vậy, chúng tôi luôn theo dõi sát hội
chứng hấp thu dịch và chưa khái quát được tỉ lệ,
mức độ thay đổi điện giải, mặc dù đây là biến
chứng thường gặp trong cắt đốt nội soi TTL
Nhằm giúp ích cho việc điều trị hiệu quả
Chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “ Đánh giá thay đổi điện giải trong cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt qua niệu đạo” với mục tiêu chính là: Xác định thay đổi trung bình điện giải trước và sau cắt đốt
và các mục tiêu phụ là (1) Xác định mức độ thay đổi điện giải; (2) Xác định yếu tố tương quan với thay đổi điện giải; (3) Xác định tỉ lệ hội chứng hấp thu dịch
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bảy mươi hai bệnh nhân cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt bằng dao điện cực tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/2013 đến 5/2013, vô cảm bằng gây tê tủy sống, sử dụng dung dịch ròng Sorbitol 3,3%, cố định cột dịch ròng 80cm (từ gốc dương vật bệnh nhân nhân đến điểm cao của cột dịch ròng)
Tất cả bệnh nhân được khám tiền mê xem xét chỉ định và chống chỉ định cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt, làm các xét nghiệm tiền phẫu và điện giải đồ trước cắt đốt và 1 giờ sau cắt đốt nội soi Nghiên cứu này loại ra những bệnh nhân có các bệnh lí như đái tháo đường, suy thận, sử dụng thuốc lợi tiểu, sử dụng muối ưu trương trước cắt đốt, gây mê nội khí quản
Tất cả những bệnh nhân này được gây tê tủy sống với hổn hợp bupivacaine 0,5% 5mg và fentanyl 20mcg Trong mổ theo dõi nhịp tim, huyết áp động mạch, các triệu chứng của hội chứng hấp thu dịch, ghi nhận thời gian cắt đốt, trọng lượng tuyến tiền liệt, dung tích dịch ròng, dung tích dịch truyền
Hội chứng hấp thu dịch định nghĩa Natri máu ≤ 125 mmol/l và có ít nhất 2 triệu chứng của hội chứng hấp thu dịch như như buồn nôn, nôn, đau đầu, đau ngực, tăng huyết áp, hạ huyết áp, mạch chậm, rối loạn nhịp, lú lẫn, hôn mê(31) Phân tích dữ liệu bằng Stata 11.0 Các biến liên tục được biểu diễn bằng giá trị trung bình ±
độ lệch chuẩn (nếu biến có phân phối bình thường), hoặc trung vị nếu biến không có phân phối bình thường Biểu diễn tỉ lệ phần trăm (%) cho các biến định tính Các giá trị thứ bậc được biểu diễn bằng % Dùng phép kiểm Student’s
Trang 3paired t test so sánh các giá trị trung bình trước
và sau mổ của Natri, Kali, Calci, Clo Sử dụng
Anova so sánh giá trị trung bình Natri trong các
nhóm phân tầng Phân tích mối tương quan giữa
các yếu tố và thay đổi điện giải bằng cách tính hệ
số tương quan R (Pairwise correlation) Giá trị p
< 0,05 được xem có ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Đặc điểm chung của bệnh nhân
* Trung bình ± độ lệch chuẩn
- Đa số bệnh nhân tập trung ở nhóm tuổi từ
70 - 79 tuổi (chiếm 43%)
- Đa số bệnh nhân thuộc nhóm ASA II
(chiếm 81,9%)
Bảng 2: Yếu tố trong mổ
Thời gian cắt đốt (phút) 45(15 - 100)
Trọng lượng TTL (g) 30(10 - 55)
Dung tích dịch ròng (l) 12(3 - 33)
Dung tích dịch truyền (ml) 350(100 - 950)
Bảng 3: Thay đổi điện giải trước và sau cắt đốt
Natri 139,6 ± 3,5 137,4 ± 5,3 0,001
Kali 4,0 ± 0,4 3,9 ± 0,5 0,11
Clo 103,1 ± 4,9 104,2 ± 4,8 0,26
Canxi 1,2 ± 0,1 1,1 ± 0,1 0,01
Thay đổi Natri máu có ý nghĩa thống kê
p=0,001, thay đổi Canxi máu có ý nghĩa thống
kê p=0,01, thay đổi Kali và Clo máu không có
ý nghĩa
Bảng 4: Tương quan giữa thay đổi Natri trước và
sau cắt đốt với từng yếu tố liên quan
P
P
Thời gian cắt đốt/ Natri Trọng lượng TTL/ Natri Dung tích dịch ròng/ Natri Dung tích dịch truyền/Natri
0,25 0,41 0,29 0,17
0,06 0,17 0,08 0,00
0,03 0,001 0,01 0,13
Xét về mối tương quan cho từng yếu tố tác động lên giảm nồng độ Natri máu cho kết quả tuổi và trọng lượng TTL có mối tương quan trung bình với giảm nồng độ Natri máu Để giải thích về nguyên nhân giảm nồng độ Natri máu, tuổi bệnh nhân giải thích được 19% Trọng lượng TTL giải thích được 17%, dung tích dịch ròng giải thích được 8%, thời gian cắt đốt giải thích 6%, còn lại 50% là do các yếu tố khác Ngoài ra dung tích dịch truyền không tương quan với giảm nồng đo Natri máu
Bảng 5: Tương quan giữa thay đổi natri trước và sau
cắt đốt với các yếu tố liên quan
Tuổi/Natri Thời gian cắt đốt/ Natri Trọng lượng TTL/ Natri Dung tích dịch ròng/Natri
0,25 -0,03 0,14 0,12
0,01 0,65 0,04 0,54
Xét về mối tương quan chung giữa các yếu tố với giảm nồng độ Natri máu cho thấy tuổi bệnh nhân và trọng lượng TTL có tương quan Các yếu tố khác như thời gian cắt đốt, dung tích dịch ròng không có mối tương quan
Bảng 6: Tương quan giữa thay đổi Kali trước và sau
cắt đốt với từng yếu tố liên quan
Tuổi/Kali Thời gian cắt đốt/ Kali Trọng lượng TTL/ Kali Dung tích dịch ròng/ Kali Dung tích dịch truyền/Kali
0,05 0,27
- 0,06 0,20 0,23
0,00 0,07 0,00 0,04 0,05
0,85 0,07 0,64 0,10 0,11
Bảng 7: Tương quan giữa thay đổi Canxi trước và
sau cắt đốt với từng yếu tố liên quan
P
Tuổi/Canxi Thời gian cắt đốt/ Canxi Trọng lượng TTL/ Canxi Dung tích dịch ròng/ Canxi
0,19 0,08 0,22 0,13
0,36 0,00 0,05 0,02
0,12 0,43 0,05 0,27
Cân nặng(kg) 58,9 ± 10,3*
ASA
Trang 4Yếu tố Tương quan
P
Dung tích dịch truyền/Canxi 0,06 0,00 0,52
Bảng 8: Các triệu chứng của hội chứng hấp thu dịch
Thay đổi nhịp tim 3(4,2)
BÀN LUẬN
Thay đổi Natri máu trước và sau cắt đốt
Kết quả của chúng tôi cho thấy thay đổi
Natri máu trước và sau cắt đốt và có ý nghĩa
thống kê p = 0,001, mức độ hạ Natri máu chủ yếu
là mức độ nhẹ (chiếm 25%)
Trong các đặc điểm trước cắt đốt, tuổi bệnh
nhân có mối tương quan trung bình với giảm
nồng độ Natri máu Tuổi cao, nồng độ Natri máu
giảm càng nhiều và giải thích được 19% nguyên
nhân gây giảm Natri máu Ở nhóm tuổi cao (≥ 70
tuổi) thay đổi Natri nhiều hơn so với nhóm tuổi
nhỏ hơn, đặc biệt đáng lưu ý là nhóm bệnh nhân
≥ 80 tuổi Ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi đã có thay
đổi sinh lí, tâm lí, dược động học của quá trình
tích tuổi hoàn toàn khác với người trẻ nên khi có
một ảnh hưởng dù nhỏ cũng gây biến động
tố phẫu thuật và thay đổi nước, điện giải Trong
nghiên cứu của các tác giả khác không đề cập
đến mối tương quan giữa tuổi và giảm nồng độ
Natri máu, có lẻ những yếu tố trước mổ ít được
chú ý hay sự khác nhau này do tuổi thọ trung
bình khác nhau giữa cácquốc gia
Tiếp theo là trọng lượng TTL có mối tương
quan trung bình với giảm nồng độ Natri máu và
giải thích được 17% nguyên nhân gây giảm nồng
độ Natri máu trong CĐNS Trong nhóm nghiên
cứu này, chúng tôi thu được kết quả trọng lượng
TTL ≥ 30g giảm nồng độ Natri máu nhiều hơn
nhóm có trọng lượng TTL nhỏ hơn Điều này
tương đương với tác giả Akan(2), sự giảm nồng
độ Natri máu phụ thuộc vào trọng lượng mô TTL Tác giả Chen(5) thực hiện trên 39 bệnh nhân, trọng lượng tuyến tiền liệt 42,5 ± 15,5g, cho thấy trọng lượng tuyến tiền liệt là yếu tố thứ 2 ảnh hướng đến giảm nồng độ Natri máu Trọng lượng TTL giải thích được 29% nguyên nhân gây giảm nồng độ Natri máu Tuy nhiên, trọng lượng TTL của chúng tôi nhỏ hơn nên mối tương quan thấp hơn
Tại bệnh viện Bình Dân, các bác sĩ niệu khoa
mở rộng chỉ định CĐNS trên những bệnh nhân tăng sinh TTL có kích thước lớn, có bệnh nhân trọng lượng TTL cắt được 100g Tuy nhiên, trong nhóm nghiên cứu này chúng tôi không có trường hợp nào trọng lượng TTL lớn hơn 60g Vì vậy chúng tôi không thể kết luận được trọng lượng TTL ảnh hưởng như thế nào đến thay đổi Natri máu trong nhóm bệnh nhân có trọng lượng TTL lớn hơn 60g, mặc dù đây là vấn đề quan trọng
Về thời gian cắt đốt
- Theo y văn, thời gian cắt đốt là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thay đổi điện giải, thời gian cắt đốt càng dài thay đổi điện giải và hội chứng hấp thu dịch xảy ra càng nhiều
- Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thời gian cắt đốt trên 60 phút thì giảm nồng độ Natri máu nhiều hơn, giải thích được 6% nguyên nhân giảm nồng độ Natri máu
- Moorthy(17) thực hiện trên 90 bệnh nhân chia làm 2 nhóm: 54 bệnh nhân sử dụng glycin 1.5%, 36 bệnh nhân sử dụng nước cất cho thấy giảm nồng độ Natri máu có ý nghĩa cả 2 nhóm, thời gian cắt đốt dài (> 45 phút) thay đổi Natri máu nhiều hơn và các triệu chứng của hội chứng hấp thu dịch biểu hiện nhiều hơn
- Gupta(8) nghiên cứu trên 86 bệnh nhân sử dụng dung dịch glycin 1,5% thời gian cắt đốt TTL từ 45 phút đến 90 phút cho thấy thời gian cắt đốt càng dài (> 60 phút) giảm nồng độ Natri máu càng nhiều và có các biểu hiện của hội
Trang 5chứng hấp thu dịch ròng
- Chen(5) thực hiện trên 39 bệnh nhân sử
dụng nước cất làm dung dịch ròng, thời gian cắt
đốt 68,9 ± 19,6 phút cho thấy mối tương quan
chặt chẽ giữa giảm nồng độ Natri máu và thời
gian cắt đốt TTL Thời gian cắt đốt là yếu tố
tương quan nhiều nhất và giải thích được 46%
nguyên nhân gây giảm nồng độ Natri máu Mối
tương quan này mạnh hơn kết quả của chúng tôi
có thể do thời gian cắt đốt của chúng tôi ngắn
hơn, nên giảm nồng độ Natri máu ít hơn, và mối
liên quan chưa chặt chẽ
- Điều này tương đương với Dimberg(6) báo
cáo thời gian cắt đốt dài hấp thu dung dịch
nhiều hơn làm tăng nồng độ sorbitol trong máu
- Tuy nhiên, khi chúng tôi xét về mối tương
quan chung với các yếu tố trong mổ và giảm
nồng độ Natri máu thì yếu tố này ảnh hưởng
không có ý nghĩa thống kê Điều này tương
đương với Moorthy(17), mặc dù thời gian cắt đốt
là yếu tố thứ ba ảnh hưởng đến giảm nồng độ
Natri máu nhưng xét về mối tương quan chung
thì yếu tố này không ảnh hưởng
Về dung tích dịch ròng
- Kết quả thu được cho thấy sử dụng dung
tích dịch ròng càng nhiều thì giảm nồng độ Natri
máu càng nhiều Dung tích dịch ròng giải thích
được 8% nguyên nhân giảm nồng độ Natri máu,
tương đương với tác giả Gupta(8) sử dụng dung
dịch ròng glycin 1,5%, dung tích dịch ròng sử
dụng từ 2 lít đến 11 lít, giảm nồng độ Natri máu
nhiều khi sử dụng dung tích dịch ròng lớn, đặc
biệt trên 6 lít Tác giả này cho rằng dung dịch
ròng là yếu tố thứ hai sau chiều cao cột dịch ròng
làm giảm nồng độ Natri máu
- Nhưng xét về mối tương quan chung giữa
các yếu tố trong mổ và giảm nồng độ Natri máu
thì yếu tố này cũng ảnh hưởng không có ý nghĩa
thống kê
Dung tích dịch truyền không có mối tương
quan với thay đổi Natri máu
Hai yếu tố mà chúng tôi chưa thể xác định
được mối tương quan với giảm nồng độ Natri
máu, nhưng về mặt lí thuyết lại là yếu tố quan trọng được nhiều nghiên cứu đề cập đến và còn nhiều bàn cải là chiều cao cột dịch ròng và loại dịch ròng
- Trong các nghiên cứu Al – Ali(1) sử dụng glycin 1,5% chiều cao cột dịch ròng 70cm thời gian cắt đốt từ 25 – 90 phút thì có 54% bệnh nhân giảm Natri máu từ 2 – 7 mmol/l Moorthy(17) cho rằng chiều cao cột dịch ròng làm thay đổi lượng Natri máu nhiều nhất, nghiên cứu của chúng tôi chưa thể xác định được đều này, vì chúng tôi cố định cột dịch ròng ở mức 80cm
- Chúng tôi sử dụng dung dịch ròng là sorbitol 3,3% kết quả cho thấy giảm nồng độ Natri máu trước và sau cắt đốt có ý nghĩa thống kê p = 0,001 Điều này tương đương và không tương đương với tác giả khác thể hiện ở bảng sau:
Bảng 9: So sánh thay đổi Natri máu
ròng
Chúng tôi Sorbitol
3,3%
139,6 ± 3,5 137,4 ± 5,3 0,001
Akan(2) Sorbitol
mannitol
140,6 ± 0,7 137,4 ± 0,7 < 0,05
Akan(2) Nước 137,5 ± 1,1 136,4 ± 1,1 > 0,05 Chen(5) Nước 139,7 ± 2,5 132,5 ± 4,3 < 0,05 Moorthy(17) Glycin
1,5%
145,7 ± 0,7 140,5 ± 1,1 0,015
- Akan(2) sử dụng dung dịch sorbitol và mannitol thì giảm nồng độ Natri máu trước và sau cắt đốt có ý nghĩa thống kê, kết quả này tương tự như nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, chúng tôi sử dụng cột dich ròng cao hơn (80cm) so với (60cm), yếu tố khác là trọng lượng TTL trung bình của chúng tôi lớn hơn Thế nhưng, giảm nồng độ Natri máu trong nghiên cứu của chúng tôi ít hơn tác giả này có thể do dung dịch sorbitol 3,3% ít lợi tiểu thải Natri hơn dung dịch mannitol - sorbitol nên ít gây mất Natri
- Theo tác giả Yousef(31) giảm nồng độ Natri máu khi sử dụng dung dịch glycin và glucose, tăng trong nhóm sử dụng muối natriclorua 9‰ Tuy nhiên hạ Natri máu không chỉ do sự pha
Trang 6loãng máu mà còn do những nguyên nhân khác
như mất muối do lợi tiểu thẩm thấu, bài tiết
muối qua nước tiểu hoặc hấp thu một số lượng
lớn glycin làm tăng giải phóng ANP làm tăng bài
xuất Natri gấp 3 – 10 lần nhưng tác dụng này chỉ
thoáng qua(20)
Thay đổi Kali máu trước và sau cắt đốt
Kết quảcho thấy thay đổi Kali máu không có
ý nghĩa thống kê (p = 0,101) Điều này không
tương đương với nhiều tác giả khác
Theo Gupta(8) sử dụng dung dịch glycin 1.5%
cho thấy tăng Kali máu có ý nghĩa thống kê
Tăng Kali máu tỉ lệ thuận với thời gian cắt đốt
TTL, dung tích dịch ròng, trọng lượng TTL Tỉ lệ
tăng Kali máu 5% - 11,21%
Moorthy(17) sử dụng nước cất và glycin 1.5%
cho kết quả tăng Kali máu có ý nghĩa, tỉ lệ tăng
Kali máu từ 13,7% - 15,7%, thời gian cắt đốt TTL
liên quan nhiều nhất với thay đổi Kali
Khác với các nghiên cứu nêu trên, kết quả
của chúng tôi thay đổi Kali máu trước và sau cắt
đốt nội soi TTL không có ý nghĩa Khi xét về mối
tương quan của trọng lượng TTL, dung tích dịch
ròng, dung tích dịch truyền không ảnh hưởng
đến thay đổi Kali
Một nguyên nhân được y văn ghi nhận
nhiều nhất về thay đổi Kali là sử dụng loại dịch
ròng, ghi nhận ở bảng dưới:
Bảng 10: So sánh thay đổi Kali máu
Trước mổ Sau mổ
Chúng tôi Sorbitol 3,3% 4,0 ± 0,4 3,9 ± 0,5 0,11
Akan(2) Sorbitol –
mannitol
4,5 ± 0,1 4,4 ± 0,4 < 0,05
Moorthy(17) Glycin 3,3 ± 0,1 4,5 ± 0,2 < 0,001
Moorthy(17) Nước 4,2 ± 2 4,8 ± 0,1 < 0,001
Tác giả Akan(2) sử dụng dung dịch sorbitol –
mannitol thời gian cắt đốt ngắn hơn (20-60 phút)
ghi nhận giảm Kali máu có ý nghĩa thống kê
Một số tác giả như Moorthy(17), Gupta(8) sử dụng
nước cất và glycin tăng Kali máu có ý nghĩa
thống kê Moorthy(17) không có thay đổi Kali máu
khi sử dụng dung dịch ròng Natriclorua 9‰
Điều này cho thấy thay đổi Kali máu phụ thuộc
vào sử dụng loại dịch ròng Nước cất và glycin
sử dụng làm dung dịch ròng làm tăng Kali máu Nguyên nhân của tăng Kali máu không được biết, có lẽ do tán huyết xảy ra trong suốt quá trình cắt đốt, hấp thu dịch đi vào tuần hoàn khi
sử dụng nước cất hay glycin
Thay đổi Canxi máu
Kết quả cho thấy thay đổi Canxi có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Theo phân độ hạ Canxi máu,
tỉ lệ hạ Canxi máu ở mức nhẹ là 19,4%, hạ Canxi máu nặng là 4,2% Chúng tôi chưa thấy có biểu hiện triệu chứng của hạ Canxi máu
Chức năng của ion Canxi là điều hoà sức co mạch máu, cơ tim, hoạt hoá thụ thể màng, truyền tín hiệu tế bào giải phóng các hocmon điều khiển quá trình vận chuyển và thúc đẩy quá trình đông máu như yếu tố IV Hạ Canxi máu nặng nếu không điều trị có thể dẫn đến các yếu tố thần kinh, tim mạch Chuyển hoá Canxi trong cơ thể quan trọng nhưng những thay đổi của nó chưa được chú ý nhiều trong hội chứng hấp thu dịch ròng
Xét về mặt tương quan, các yếu tố như tuổi, thời gian cắt đốt, trọng lượng TTL, thể tích dịch ròng, thể tích dịch truyền không ảnh hưởng đến giảm nồng độ Canxi máu
Mặc dù cơ chế hạ Canxi máu chưa được biết đến nhiều nhưng hạ Canxi máu vẫn xuất hiện ở bệnh nhân sử dụng dung dịch sorbitol và mannitol Theo tác giả Lee(14) sử dụng dung dịch sorbitol 40 phút sau khi bắt đầu phẫu thuật thì nồng độ Natri máu giảm 89 mmol/l, nồng độ Canxi máu giảm 0,53 mmol/l, huyết áp giảm 62/40 mHg, tiêm tĩnh mạch 10 mg ephedrin, truyền tĩnh mạch dopamin 10 µcg/kg/phút, huyết áp máu không tăng, các dấu hiệu lâm sàng không cải thiện, sau khi dùng 40ml canxiclorid huyết áp máu trở về chỉ số ban đầu, đây là trường hợp điển hình của hấp thu dịch có giảm Canxi Ở báo cáo này tác giả cũng khuyên nên
đo nồng độ ion Canxi máu khi hạ huyết áp không đáp ứng với các thuốc vận mạch trong suốt và sau cắt đốt Một số tác giả khác cho thấy
Trang 7thay đổi Canxi máu như tác giả Hahn(11) truyền
tĩnh mạch 1000ml glycin trong 20 phút trong 7
người nam tình nguyện và 10 bệnh nhân cắt đốt
nội soi TTL mức độ hạ Natri và Canxi máu như
nhau, tác giả này khuyên nên cho Canxi đường
tĩnh mạch và muối ưu trương cho những bệnh
nhân sau cắt đốt nội soi có hạ huyết áp nặng, tác
giả Chassard(4) báo cáo: 40 – 60 phút sau truyền
870ml, 1475ml và 2075ml glycin tĩnh mạch cho
heo thì giảm nghiêm trọng ion Canxi
Từ những nghiên cứu trên ta thấy hiệu quả
của việc cho Canxi đường tĩnh mạch cho những
bệnh nhân sau cắt đốt nội soi Mặc dù chúng tôi
chưa có biểu hiện hạ Canxi máu nặng nhưng
chúng ta cần phải cảnh giác biểu hiện này
Thay đổi Clo máu
Kết quả cho thấy thay đổi Clo không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05)
Xét về mối tương quan không thấy có mối
tương quan giữa các yếu tố trước và trong mổ
như thời gian cắt đốt, trọng lượng TTL, thể tích
dịch ròng, thể tích dịch truyền và thay đổi Clo
máu Về mặt sinh lí thấy mức độ Clo thay đổi
theo mức độ Natri Theo nghiên cứu cho thấy
thay đổi Clo liên quan với lựa chọn loại dịch
ròng Tác giả Watanabe(30) sử dụng dung dịch
ròng Natriclorua 9‰ ghi nhận tăng Clo có ý
nghĩa thống kê, hấp thu Clo gây tăng Clo máu và
nhiễm toan chuyển hóa, ảnh hưởng đến thăng
bằng axit- basơ trong cơ thể(22,24,25,26)
Kết quả đánh giá thay đổi Natri, Kali, Clo,
Canxi cho thấy thay đổi chủ yếu là hạ Natri và
hạ Canxi ở mức độ nhẹ.Yếu tố ảnh hưởng đến
giảm nồng độ Natri máu là tuổi cao (≥ 70 tuổi)
và trọng lượng TTL (≥ 30 g).So sánh với các
nghiên cứu khác, chúng tôi ghi nhận sử dụng
dung dịch sorbitol 3,3% ít làm thay điện giải
trước và sau CĐNS
KẾT LUẬN
- Qua 72 bệnh nhân đánh giá thay đổi điện
giải trong cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt bằng dao
điện đơn cực qua niệu đạo với dung dịch ròng
sorbitol 3,3% và chiều cao cột dịch ròng 80cm, chúng tôi có những kết luận sau:
- Thay đổi trung bình điện giải trước và sau cắt đốt như sau: Có thay đổi Natri và Canxi máu trước và sau cắt đốt nội soi; Không thay đổi Kali
và Clo máu trước và sau cắt đốt nội soi
- Về mức độ thay đổi điện giải: đa số là hạ Natri và Canxi máu ở mức độ nhẹ
- Các yếu tố tương quan với thay đổi điện giải: Yếu tố tương quan với giảm nồng độ Natri máu sau mổ là tuổi bệnh nhân và trọng lượng tuyến tiền liệt; Chưa xác định được yếu tố tương quan với giảm nồng độ Canxi máu
- Tỉ lệ hội chứng hấp thu dịch ròng là 0%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
changes during and after transuretheral prostatectomy" Saudi Med J, 22 (9), pp.765-8
(1997) "Effects of distilled water and mixture of sorbitol - mannitol irrigation fluids on fluid - electrolyte balance in patients undergoing transurethral prostate" International Urology and Nephrology, 29 (5), pp.575-580
Kanjaa N (2013) "Transurethral resection of prostate syndrome: report of a case" Pan Afr Med J, 11, pp.11
"Calcium homeostasis during i.v infusion of 1.5% glycine in anaesthetized pigs" Br J Anaesth, 77, pp.271-271
Transurethral Resection of the prostate Using Distilled Water
as the Irrigant".J Chin Med Assoc, 69 (6), pp.270-275
"Experience with hypotonic 2.5% sorbitol solution as an irrigating fluid in transurethral resection of th prostate".scand J Urol Nephrol, 21 (3), pp.169-76
prospective study" Eur Urol, 21 (1), pp.15-7
"Electrolyte changes: An indirect method to assess irrigation fluid absorption complications during transurethral resection
of prostate: A prospective study".Saudi Journal of Anaesthesia,
4 (3), pp.142-146
irrigating fluids".Int Urol Nephrol, 29 (2), pp.201-6
phamacotherapy, 55, pp.144-7
11 Hahn RG (2006) "Fluid absorption in endoscopic surgery".Br J Anesthesia, 96, pp.8-20
"Transurethral resection of prostate syndrome: Almost gone but not forgotten" J Endourol, 23 (12), pp.2012-2020
Trang 8M, Asahi T (2010) "TUPR syndrome with serve hyponatremia
(98mEq/l)".Masui, 59 (4), pp.464-9
by absorption of sorbitol - mannitol solution during
hysteroscopy" J Korean Med Sci, 24, pp.532-4
prostate".Masui,, 54 (4), pp.414-7
in surgical for benign hyperplasia in the United State
(2000-2008)" Urology, 79 (5), pp.1111-6
syndrome - is the role of potassium under estimated?".Indian
Journal of Anaesthesia, 46 (6), pp.441-444
complicating transurethral resection of the prostate and TURP
syndrome" Chest, 140 (4), pp.140-152
mortality and early outcome of transurethral resection of the
prostate: Aprospective multicenter evaluation of 10654
patients".J Urol, 180 (1), pp.236-239
electrolyte disorders: hyponatremia" pp.23-32
(1993) "The effect of prostatic capsule perforation on the
resection".British journal of urology, 72 (5), pp.599-604
(2005) "Isotonic fluid absorption during hysteroscopy
resulting in severe hyperchloremic acidosis" Anesthesiology
103, pp.203-4
23 Schearer RJ, Stanfield NJ (1981) "Fluid absorption during
transurethral resection".Br Med J, 282, pp.740
24 Schelin S (2009) "Transurethral resection of prostate after
intraprostate injections of mepivacain epinephrine: a
preliminary communication".Scandinavian Journal of Urology
and Nephrology, 43, pp.63-67
hyperchloremia".Revita Brasileira de Anestesiologia, 59 (3), pp.304-313
incidence and prognostic value of hypochloremia in critically ill patients".ScientificWorld Journal 2012, pp.7
27 Trần Đỗ Anh Vũ (2009) "Đặc điểm lâm sàng trong gây mê phẫu thuật cắt túi mật nội soi có bơm thán khí ở người cao tuổi", Tạp chí Y học, Đại học Y Dược TPHCM, 5(5), tr15-18
trong phẫu thuật người cao tuôi" Tạp chí Y học, Đại học Y Dược TPHCM, 9 (1), tr.1-15
in a 7 year old girl with cloacal exstrophy after cystoscopy for
a bladder stone".J Pediatr Urol, 4, pp.231-233
30 Watanabe Y, Shido A, Saito Y (2012) "Detectors of fluid absorption during transurethral resection of prostate usinh salin as irrigant solution".Masui, 61 (2), pp.164-169
Elgamasy AEK (2010) "A randomized comparison between three types of irrigating fluid during transurethral resection in benign prostate hyperplasia".BMC Anesthesiology, 10, pp.2-7
d'une résection endoscopique d'un myome utérin" Can J Anesth, 5, pp.316-319