1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm vùng lỗ hàm dưới ở người Việt trưởng thành (nghiên cứu trên hình ảnh cone beam CT)

9 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 348,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định vị trí lỗ hàm dưới và độ mở của cành lên xương hàm dưới trên hình ảnh cone beam CT (CBCT) của người Việt trưởng thành. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM VÙNG LỖ HÀM DƯỚI Ở NGƯỜI VIỆT TRƯỞNG THÀNH

(NGHIÊN CỨU TRÊN HÌNH ẢNH CONE BEAM CT)

Đỗ Trần Kim Trinh*, Trần Hùng Lâm**, Lê Đức Lánh***

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định vị trí lỗ hàm dưới và độ mở của cành lên xương hàm dưới trên hình ảnh cone beam CT

(CBCT) của người Việt trưởng thành

Đối tượng và phương pháp: Mẫu nghiên cứu gồm 94 hình ảnh CBCT của 40 nam và 54 nữ tuổi từ 18 đến

74 được khảo sát cả bên phải và bên trái Vị trí lỗ hàm dưới được xác định bằng khoảng cách từ đỉnh lưỡi hàm đến

gờ ngoài và gờ trong bờ trước cành lên, khuyết sigma và mặt nhai các răng cối lớn hàm dưới Độ mở của cành lên được xác định bằng góc tạo bởi mặt trong và mặt ngoài cành lên với mặt phẳng dọc giữa

Kết quả: Theo chiều trước sau, lỗ hàm dưới nằm ngay sau điểm giữa chiều rộng cành lên với khoảng cách từ

lỗ hàm dưới đến gờ ngoài và gờ trong bờ trước cành lên lần lượt là 22,01±0,23 mm và 14,67±0,23 mm Theo chiều trên dưới, lỗ hàm dưới nằm dưới giới hạn giữa 1/3 trên và 2/3 dưới của chiều cao cành lên với khoảng cách

từ lỗ hàm dưới đến khuyết sigma là 19,41±0,20 mm Khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai răng cối lớn thứ nhất, thứ hai và thứ ba hàm dưới lần lượt là 5,57±0,34 mm; 2,06±0,41 mm và -0,39±0,82 mm Góc tạo bởi mặt trong cành lên và mặt phẳng dọc giữa, góc tạo bởi mặt ngoài cành lên và mặt phẳng dọc giữa tại mặt phẳng ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm lần lượt là 26,33±0,79 0 và 20,04±0,29 0 Độ lớn hai góc này tỉ lệ thuận với nhau

Kết luận: Hiểu biết về đặc điểm vùng lỗ hàm dưới góp phần giúp nhà lâm sàng định vị chính xác điểm mốc

gây tê thần kinh xương ổ dưới, cũng như có thể thực hiện việc cắt xương hàm dưới trong phẫu thuật chỉnh hình một cách chính xác và an toàn

Từ khóa: lỗ hàm dưới, lưỡi hàm, cone beam CT

ABSTRACT

THE CHARACTERISTICS OF VIETNAMESE ADULT’S MANDIBULAR FORAMEN REGION ON

CONE BEAM CT IMAGES

Đo Tran Kim Trinh, Tran Hung Lam, Le Đuc Lanh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 2 - 2014: 61 - 69

Objectives: The study was to determine the location of mandibular foramen and the ramus angle in

Vietnamese adults

Methods: Standardized cone beam CT (CBCT) images were taken for 94 subjects of ages 18 to 74 (40 males

and 54 females) The position of mandibular foramen was evaluated by the distances from the lingual tip to the external oblique ridge, the internal oblique ridge, mandibular notch and the occlusal surfaces of lower molars The ramus angles were noted by the angles formed by central side/ lateral side at the level of lingual tip and mid-sagittal plane

Results: In the antero-posterior direction, the mandibular foramen was located behind the midpoint of the

width of the mandibular ramus; the distances from the mandibular foramen to the external oblique ridge and the

* Học viên Cao học 2011-2013 Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM

**Bộ môn PH-Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM *** Bộ môn CGNK-Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM

Tác giả liên lạc: ThS Đỗ Trần Kim Trinh ĐT: 0908766299 Email: kimtrinhdt@yahoo.com

Trang 2

internal oblique ridge were 22.01±0.23 mm and 14.67±0.23 mm respectively In the supra-inferior direction, the mandibular foramen was situated under the midpoint of the superior third and the inferior two-third of the ramus, the distance between the mandibular foramen and the sigmoid notch was 19.41 ± 0.20 mm The interval from the mandibular foramen to occlusal surfaces of the first, the second and the third lower molars were 5.57±0.34 mm; 2.06±0.41 mm and -0.39±0.82 mm respectively The angle formed by the lingual side/ buccal side of ramus and mid-sagittal plane at the level of lingual tip were 26.33±0.79 0 and 20.04±0.29 0 correspondingly These angles are proportional

Conclusion: Knowledge of the characteristics of mandibular foramen region can help practicians performing

inferior alveolar nerve block and sagittal split ramus osteotomy in orthographic surgery correctly and safely

Key words: mandibular foramen, lingual, cone beam CT

MỞ ĐẦU

Trong thực hành Răng Hàm Mặt, gây tê thần

kinh xương ổ dưới (TKXOD) là thủ thuật được

sử dụng rất phổ biến ở hàm dưới nhưng lại có tỉ

lệ thất bại cao nhất trong các kỹ thuật gây tê

vùng, khoảng 15-20%(7) Sự thay đổi vị trí lỗ hàm

dưới trong quá trình phát triển sọ mặt(15), sự hiện

diện của thần kinh phụ chi phối răng hàm

dưới(2), kỹ thuật gây tê không chính xác(5) hay sự

khác nhau về vị trí lỗ hàm dưới giữa các cá thể(5)

có thể dẫn đến thất bại trong gây tê TKXOD Do

đó, hiểu biết về đặc điểm vùng lỗ hàm dưới là

một trong những yếu tố góp phần quyết định sự

thành công của kỹ thuật này

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vị trí

của lỗ hàm dưới trên xương khô cũng như trên

phim tia X Tuy nhiên, các kết quả đôi khi không

thống nhất và yếu tố chủng tộc được đưa ra

nhằm lý giải cho hiện tượng trên Ở Việt Nam,

nghiên cứu của Nguyễn Thái Phượng và cộng

sự(8) thực hiện trên 40 xương hàm dưới (XHD) đã

bước đầu ghi nhận các đặc điểm về hình dạng và

vị trí lỗ hàm dưới theo các chiều trước sau và

trên dưới Mặc dù nghiên cứu được thực hiện

theo một quy trình khoa học chuẩn xác nhưng

do cỡ mẫu nhỏ nên kết quả đạt được chưa mang

tính đại diện Thêm vào đó, đối tượng nghiên

cứu này cũng không thích hợp để khảo sát mối

liên quan với tuổi và giới tính

Gần đây, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cắt

lớp điện toán với chùm tia X hình chóp khối

phép thấy được hình ảnh ba chiều của cấu trúc

sọ mặt với độ phân giải cao, kích thước chính xác, thời gian tạo ảnh nhanh, độ nhiễm xạ thấp

và kinh tế Từ nguồn hình ảnh sẵn có của bệnh nhân được lưu trữ trong máy tính của bộ môn Tia X thuộc khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với các mục tiêu như sau:

1 Xác định vị trí của lỗ hàm dưới so với một

số điểm mốc giải phẫu theo chiều trước sau và trên dưới

2 Xác định độ mở của cành lên xương hàm dưới tại mặt phẳng ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm

3 So sánh sự khác biệt về vị trí lỗ hàm dưới

và độ mở của cành lên xương hàm dưới theo giới, tuổi và giữa hai bên hàm

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang

mô tả với mẫu thuận tiện gồm 94 hình ảnh CBCT của các bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11/2011 đến tháng 6/2013

Mẫu được chọn với các tiêu chuẩn đưa vào

là hình ảnh CBCT của bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên thấy đầy đủ bờ dưới XHD, bờ sau cành lên, không có đường nứt gãy hay bệnh lý ảnh hưởng đến các điểm mốc cần đo đạc Những hình ảnh

bị nhòe hay không nhìn rõ các điểm mốc sẽ bị loại ra khỏi mẫu nghiên cứu

Trang 3

dưới dạng viewer, máy tính đọc phim hiệu Asus

và phần mềm Galaxis giúp dựng hình theo các

mặt phẳng chuẩn yêu cầu và đo đạc các chỉ số

theo mục tiêu nghiên cứu

Trình tự của phương pháp nghiên cứu

Bước 1: Thu thập dữ liệu

Dữ liệu hình ảnh CBCT của bệnh nhân sau

khi đọc trên phần mềm Galaxis thỏa tiêu chuẩn

chọn mẫu sẽ được lưu trong đĩa DVD dưới dạng

viewer, sau đó chuyển qua máy tính cá nhân để

đo đạc trong chương trình MPR/ Radiology

Bước 2: Xác định vị trí lỗ hàm dưới theo

chiều trước sau và độ mở của cành lên

xương hàm dưới tại mặt phẳng ngang đi

qua đỉnh lưỡi hàm

Vị trí lỗ hàm dưới theo chiều trước sau sẽ

được đo trên lát cắt ngang song song với bờ dưới

xương hàm dưới bên cần đo với:

AB: khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến gờ

ngoài bờ trước cành lên

AC: khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến gờ

trong bờ trước cành lên

BD: chiều rộng cành lên

Độ mở của cành lên xương hàm dưới tại mặt

phẳng ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm cũng được

xác định trên lát cắt này thông qua hai giá trị:

Góc α là góc tạo bởi mặt trong cành lên và

mặt phẳng dọc giữa

Góc β là góc tạo bởi mặt ngoài cành lên và

mặt phẳng dọc giữa

Bước 3: xác định vị trí lỗ hàm dưới theo

chiều trên dưới

Khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến khuyết

sigma (A’E) và chiều cao cành lên (EF) sẽ được

đo trên mặt phẳng đứng ngang song song với bờ

sau cành lên kể cả lồi cầu

Bước 4: xác định khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai các răng cối lớn hàm dưới (RCLHD)

Khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai các RCLHD được tính bằng số bước di chuyển

từ đỉnh lưỡi hàm đến mặt phẳng đi qua các đỉnh múi ngoài răng cần đo với mỗi bước di chuyển là 1mm Nếu đỉnh lưỡi hàm nằm trên mặt nhai răng đó thì ghi nhận bằng giá trị dương, nằm ngang mặt nhai là 0 và nằm dưới mặt nhai là giá trị âm

Bước 5: Tính các chỉ số về vị trí tương đối của lỗ hàm dưới

Lỗ hàm dưới – chiều rộng (kí hiệu AB/BD):

vị trí tương đối của lỗ hàm dưới theo chiều trước sau

Lỗ hàm dưới – chiều cao (kí hiệu A’E/EF): vị trí tương đối của lỗ hàm dưới theo chiều trên dưới

Dữ liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0 với phép kiểm t-test, chi bình phương hay Fisher để so sánh các biến định lượng hay định tính theo giới, tuổi và giữa hai bên hàm Tất cả các phép kiểm thống kê đều được sử dụng với độ tin cậy 95%

KẾT QUẢ

Mẫu nghiên cứu gồm 94 cá thể (40 nam và 54 nữ) tuổi từ 18 đến 74 được khảo sát cả hai bên hàm với sự phân bố các cá thể trong hai nhóm

tuổi là ngang nhau

Về khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai răng cối lớn hàm dưới, chúng tôi khảo sát tổng cộng 250 răng với 115 răng cối lớn thứ nhất, 102 răng cối lớn thứ hai và 33 răng cối lớn thứ ba hàm dưới

Trang 4

Vị trí lỗ hàm dướitheo chiều trước sau và trên dưới

Bảng 1: Vị trí lỗ hàm dưới so với các điểm mốc giải phẫu trên xương

Nam Nữ p 18-40 tuổi >40 tuổi p Phải Trái p

AB 22,01±0,23 21,84±0,36 22,15±0,30 NS 21,91±0,36 22,12±0,30 NS 21,75±0,26 22,28±0,25 NS

AC 14,67±0,23 14,72±0,33 14,63±0,32 NS 14,77±0,36 14,57±0,29 NS 14,45±0,28 14,90±0,25 NS

BD 40,50±0,39 40,47±0,59 40,51±0,52 NS 40,28±0,54 40,71±0,56 NS 40,47±0,42 40,52±0,40 NS A’E 19,41±0,20 19,49±0,30 19,35±0,26 NS 19,22±0,26 19,60±0,30 NS 19,68±0,23 19,14±0,21 **

EF 52,26±0.45 54,39±0,71 50,69±0,49 *** 51,07±0,52 53,46±0,71 ** 52,71±0,50 51,82±0,46 **

Kiểm định t cho hai mẫu độc lập (giới, tuổi), kiểm định t bắt cặp (bên hàm.)**: p<0,01; ***: p<0,001

Bảng 2: Các chỉ số về vị trí tương đối của lỗ hàm dưới

Lỗ hàm dưới –

chiều rộng

chiều cao

p

Toàn bộ 0,5441±0,0035 0,3722±0,0035

Theo

giới

Nam 0,5397±0,0049 NS 0,3590±0,0051 ***

Nữ 0,5474±0,0048 0,3820±0,0044

Theo

tuổi

18-40 0,5433±0,0039 NS 0,3774±0,0053 NS

>40 0,5449±0,0058 0,3671±0,0045

Theo

bên hàm

Phải 0,5378±0,0039 *** 0,3743±0,0040 NS

Trái 0,5505±0,0040 0,3702±0,0036

Kiểm định t cho hai mẫu độc lập (giới, tuổi), kiểm định t bắt

cặp (bên hàm); ***: p<0,001

Khi xét trên toàn bộ mẫu, lỗ hàm dưới nằm trên mặt nhai răng cối lớn thứ nhất và răng cối lớn thứ hai hàm dưới, nằm dưới mặt nhai răng cối lớn thứ ba hàm dưới với khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai răng cối lớn thứ nhất và răng cối lớn thứ hai lần lượt là 5,57±0,34 mm và 2,06±0,41 mm, đến mặt nhai răng cối lớn thứ ba

là – 0,39±0,82 mm Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các khoảng cách trên (kiểm định t bắt cặp, p<0,05)

Bảng 3: Khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai các răng cối lớn hàm dưới theo giới, tuổi và bên hàm

Theo giới Nam 6,12 ± 3,98 NS 3,04 ± 4,49

* 1,37 ± 4,37 *

Theo tuổi 18-40 5,17 ± 3,52 NS 1,88 ± 4,15 NS -0,15 ± 5,12 NS

>40 6,36 ± 3,70 2,52 ± 3,97 -0,77 ± 4,11 Theo bên hàm Phải 5,85 ± 3,81 NS 2,37 ± 4,05 NS 0,61 ± 4,41 NS

Kiểm định t cho hai mẫu độc lập (giới, tuổi), kiểm định t bắt cặp (bên hàm),*: p<0,05

Khi xét trong toàn bộ mẫu, gần như toàn bộ

lỗ hàm dưới nằm trên mặt nhai răng cối lớn thứ

nhất hàm dưới (92,2%), tỉ lệ này giảm còn

khoảng 2/3 ở răng cối lớn thứ hai (61,8%) và chỉ

còn khoảng 1/2 ở răng cối lớn thứ ba hàm dưới (42,4%) Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về

sự phân bố vị trí của lỗ hàm dưới so với mặt nhai các răng cối lớn hàm dưới giữa các răng (p<0,05)

Bảng 4: Phân bố vị trí lỗ hàm dưới so với mặt nhai các răng cối lớn hàm dướitheo giới, tuổi và bên hàm

Nam Nữ p 18-40 tuổi >40 tuổi p Phải Trái p

R6

Dưới mặt nhai 5,9% 3,1% NS 5,3% 2,6% NS 3,3% 5,6%

NS

R7

Dưới mặt nhai 20% 31,6% NS 32% 13,8% NS 25% 28%

NS

Dưới mặt nhai 26,3% 64,3% * 40% 46,2% NS 34,8% 60%

Trang 5

Độ mở của cành lên xương hàm dưới tại

mặt phẳng ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm

Khi xét trên toàn bộ mẫu, góc tạo bởi mặt

trong cành lên và mặt phẳng dọc giữa (góc α),

góc tạo bởi mặt ngoài cành lên và mặt phẳng dọc

giữa (góc β) lần lượt là 26,33±0,79 độ và

20,04±0,29 độ Hệ số tương quan Pearson giữa

góc α và góc β là r = 0,318 (với mức ý nghĩa là p=

0,002) Đây là tương quan thuận ở mức độ vừa

Bảng 5: Độ mở của cành lên xương hàm dưới theo

giới, tuổi và bên hàm

Góc α p Góc β p

Theo giới Nam 25,81±1,16 NS 20,63±0,55 NS

Nữ 26,72±1,07 19,60±0,29

Theo tuổi 18-40 28,19±1,09 * 20,19±0,41 NS

>40 24,48±1,08 19,89±0,41

Theo bên

hàm

Phải 26,27±0,84 NS 19,92±0,35 NS

Trái 26,40±0,86 20,16±0,33

Kiểm định t cho hai mẫu độc lập (giới, tuổi), kiểm định t bắt

cặp (bên hàm), * :p<0,05

BÀN LUẬN

Vị trí của lỗ hàm dưới

Vị trí của lỗ hàm dưới theo chiều trước sau

Khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến gờ ngoài

bờ trước cành lên khoảng 22mm và khoảng cách

từ lỗ hàm dưới đến gờ trong bờ trước cành lên

khoảng 15mm (Bảng 1) Ứng dụng của hai

khoảng cách này là để ước lượng chiều dài đâm

kim với gờ ngoài là điểm mốc trong kỹ thuật gây

tê TKXOD gián tiếp, còn gờ trong là điểm mốc

của kỹ thuật trực tiếp Kết quả trên cũng tương

đồng với kết quả của Nguyễn Thái Phượng

2005(8), Kositbowornchai 2007(6) nhưng khác biệt

so với Fujimura 2006(4), có lẽ do cách chọn mặt

phẳng chuẩn, điểm mốc cũng như chủng tộc,

phương tiện nghiên cứu không giống nhau giữa

các tác giả

Có vài nghiên cứu khuyên dùng kim ngắn

khi gây tê TKXOD theo kỹ thuật trực tiếp(3,12)

Chiều dài trung bình của kim ngắn là 21,5mm,

kim dài là 33mm(3) Sử dụng kim dài ở bệnh

nhân có xương hàm dưới nhỏ có thể dẫn đến

thất bại vì có nguy cơ tiêm vào bao tuyến

mang tai làm phong bế thần kinh mặt gây liệt mặt tạm thời(7) Sử dụng kim ngắn ở xương hàm dưới lớn có thể dẫn đến gãy kim khi nó nằm hoàn toàn trong mô miệng(3) Khi bệnh nhân há miệng, TKXOD có thể di chuyển ra sau khoảng 4mm(13) Như vậy, chiều dài đâm kim trung bình khi gây tê TKXOD theo kỹ thuật trực tiếp khi chưa kể mô mềm là khoảng 15+4 (19 mm) Nếu tính cả phần mô mềm che phủ ở vị trí này thì dùng kim ngắn sẽ phải đâm hết kim vào trong mô thì mới có thể chạm tới xương ở đỉnh lưỡi hàm Điều này sẽ không an toàn và có thể không đạt hiệu quả tê như mong muốn, đặc biệt khi bệnh nhân có xương hàm dưới lớn, lớp cơ dày hay nhiều mô

mỡ ở vùng này Do đó, theo chúng tôi, nên dùng kim dài khi gây tê TKXOD theo kỹ thuật trực tiếp

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy lỗ hàm dưới nằm ở ngay sau điểm giữa chiều rộng cành lên với chỉ số Lỗ hàm dưới – chiều rộng = 0,5441±0,0035 (Bảng 2) Kết quả này cũng thống nhất với Nguyễn Thái Phượng 2005(8), Fujimura

2006(4), Kositbowornchai 2007(6), Ennes 2009(3), Shenoy 2012(12), Thangavelu 2012(13),…

Vị trí lỗ hàm dưới theo chiều trên dưới

Trong nghiên cứu của chúng tôi, khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến khuyết sigma là 19,41±0,20 mm (Bảng 1) Kết quả này tương đồng với kết quả của Nguyễn Thái Phượng 2005(8), Kositbowornchai 2007(6), Thangavelu 2012(13)…; hơi cao hơn so với kết quả của Fujimura 2006(4), Varma 2011(16)…; nhưng lại hơi thấp hơn so với kết quả của Rashid 2011(9), Shoney 2012(12)… Điều này cũng có thể được lý giải là do sự khác biệt về chủng tộc, đặc tính di truyền cũng như cách chọn điểm mốc và mặt phẳng chuẩn không giống nhau giữa các tác giả

Theo ghi nhận của chúng tôi, lỗ hàm dưới nằm ở khoảng ranh giới giữa 1/3 trên và 2/3 dưới của chiều cao cành lên và thường ở dưới điểm này (0,3722±0,0035) (Bảng 2) Tác giả Nguyễn Thái Phượng 2005(8) nghiên cứu trên

Trang 6

40 xương khô hàm dưới người Việt cũng cho

kết quả tương tự là 0,4091±0,0462 Tác giả

Fujimura 2006(4) nghiên cứu trên hình ảnh CT

người Nhật Bản cho kết quả 0,31±0,04; trên

xương khô người Châu Á là 0,35±0,04 Tương

tự, tác giả Trost 2010(1) nghiên cứu trên 46

phim toàn cảnh của người Pháp cũng cho rằng

chỉ số này là từ 0,3-0,35

Trong khi đó, tác giả Amorim 2009(1) nghiên

cứu trên 300 hình ảnh toàn cảnh kỹ thuật số

người Brazil chia làm 4 nhóm theo tuổi và giới

lại cho kết quả trung bình là từ 0,49-0,53 Cũng

như tác giả Rashid 2011(10) nghiên cứu trên 300

hình ảnh toàn cảnh kỹ thuật số của người Iraq

cho kết quả là 0,5 Khác biệt này một lần nữa nói

lên về sự khác nhau về vị trí lỗ hàm dưới giữa

các dân tộc cũng như việc lựa chọn phương tiện

nghiên cứu, điểm mốc, mặt phẳng chuẩn không

giống nhau giữa các tác giả

Nhiều tác giả đề cập đến “vùng an toàn”

trong phẫu thuật cành lên xương hàm dưới, là

nơi mà hầu như không xuất hiện lỗ hàm dưới,

được xác định là 1/3 trên và 1/3 sau của cành

lên(12,14) Theo kết quả của chúng tôi, lỗ hàm dưới

nằm ngay sau điểm giữa cành lên theo chiều

trước sau (0,5441±0,0035) và nằm dưới giới hạn

giữa 1/3 trên và 2/3 dưới theo chiều đứng

(0,3722±0,0035) nên “vùng an toàn” cũng phù

hợp với nhận xét của các tác giả trên

Khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai các

răng cối lớn hàm dưới

Độ cao của lỗ hàm dưới là điểm tham chiếu

quan trọng khi gây tê thần kinh xương ổ dưới(6)

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy lỗ hàm

dưới nằm trên mặt nhai răng cối lớn thứ nhất và

răng cối lớn thứ hai hàm dưới với khoảng cách

từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai các răng này lần

lượt là 5,57±0,34 mm và 2,06±0,41 mm; nằm dưới

mặt nhai răng cối lớn thứ ba hàm dưới với

khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai răng

này là -0,39±0,82 mm Có sự khác biệt có ý nghĩa

răng cối lớn hàm dưới càng ra sau thì độ cao của

vị trí đâm kim so với điểm mốc này trong gây tê thần kinh xương ổ dưới càng phải giảm xuống Đồng thời, việc tách rời từng răng cối lớn hàm dưới để khảo sát khoảng cách giữa nó với lỗ hàm dưới là cần thiết và sẽ dễ dàng hơn cho nha sĩ trong việc xác định độ cao đâm kim thích hợp nhằm đạt hiệu quả tê tối ưu

Trong hai kỹ thuật gây tê thần kinh xương ổ dưới trực tiếp và gián tiếp, các tác giả đều đề nghị vị trí đâm kim là cách mặt nhai răng cối lớn hàm dưới khoảng 1cm(7) Theo chúng tôi, vị trí đâm kim như vậy là hơi cao, có thể làm giảm hiệu quả tê, đặc biệt nếu nha sĩ lấy điểm mốc là răng cối lớn thứ hai hoặc thứ ba hàm dưới

Phân bố vị trí của lỗ hàm dưới so với mặt nhai các răng cối lớn hàm dưới

Về phân bố vị trí lỗ hàm dưới so với mặt nhai các răng cối lớn hàm dưới, gần như toàn bộ

lỗ hàm dưới nằm trên mặt nhai răng 6, tỉ lệ này giảm còn khoảng 2/3 ở răng 7 và chỉ còn khoảng 1/2 ở răng 8 hàm dưới Phần lớn lỗ hàm dưới nằm trên và ngang mức mặt nhai các răng cối lớn hàm dưới Điều này cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu trên xương khô người Việt của tác giả Nguyễn Thái Phượng(8) và của Varma(16)

trên người Nam Ấn

Độ mở của cành lên xương hàm dưới tại mặt phẳng ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, góc tạo bởi mặt trong cành lên và mặt phẳng dọc giữa tại mặt phẳng ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm (góc α) là 26,33±0,790, góc tạo bởi mặt ngoài cành lên và mặt phẳng dọc giữa tại mặt phẳng ngang

đi qua đỉnh lưỡi hàm (góc β) là 20,04±0,290 Giả sử hướng ống chích tạo với mặt phẳng dọc giữa một góc là α’ (Hình 2) Nếu α’ nhỏ hơn

α thì đầu kim sẽ không tiếp xúc được với xương

ở đỉnh lưỡi hàm mà sẽ trượt ra sau Do đó để tiếp cận được với thần kinh xương ổ dưới, ống chích nên tạo với mặt phẳng dọc giữa một góc

Trang 7

Hình 2: Hướng ống chích trong gây tê thần kinh

xương ổ dưới Nguồn:

http://www.dentalorg.com/wp-content/uploads/2010/11/Inferior-Alveolar-Nerve-Block

Hệ số tương quan Pearson giữa góc α và góc

β là r = 0,318 (mức ý nghĩa p=0,002) Nghĩa là khi

góc β tăng thì góc α cũng tăng Điều này cho

thấy, khi bệnh nhân có xương hàm dưới càng

phân kì (góc β lớn) thì hướng ống chích càng

phải ra sau (góc α’ lớn) để có thể tiếp xúc với

xương ở đỉnh lưỡi hàm

Sự khác biệt về vị trí lỗ hàm dưới và độ mở

của cành lên xương hàm dưới theo giới,

tuổi và giữa hai bên hàm

Về vị trí lỗ hàm dưới

Vị trí tương đối của lỗ hàm dưới theo chiều

trước sau có sự khác biệt giữa hai bên trong đó lỗ

hàm dưới bên phải nằm ở phía trước hơn so với

bên trái (Bảng 2) Kết quả này hơi khác so với kết

quả của Nguyễn Thái Phượng 2005(8) với chỉ số

Lỗ hàm dưới - chiều rộng bên phải là

0,5696±0,0453; bên trái là 0,5768±0,0452 và không

có sự khác biệt giữa hai bên hàm (p>0,05) Có lẽ

do cỡ mẫu của tác giả hơi nhỏ nên chưa thể nhận

ra sự khác biệt này

Khi so sánh giữa hai bên hàm, chúng tôi ghi

nhận có sự khác biệt về khoảng cách từ lỗ hàm

dưới đến khuyết sigma giữa bên phải và bên

trái, trong đó số đo ở bên phải lớn hơn ở bên trái

Tác giả Nguyễn Thái Phượng(8) cũng ghi nhận số

đo này ở bên phải lớn hơn bên trái nhưng sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê có thể do giới hạn về cỡ mẫu của nghiên cứu này

Chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt về vị trí tương đối của lỗ hàm dưới theo chiều trên dưới giữa hai giới, trong đó lỗ hàm dưới ở nam nằm cao hơn so với ở nữ Mặc dù khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến khuyết sigma ở nam và nữ không khác biệtnhưng do chiều cao cành lên ở nam lớn hơn so với nữ nên chỉ số Lỗ hàm dưới – chiều cao ở nam thấp hơn ở nữ

Lý luận của Enlow và Hans đã được nhiều nghiên cứu đề cập nhằm lý giải sự khác biệt về các số đo khoảng cách theo giới(9,10) Theo đó, ở giai đoạn trưởng thành, tỉ lệ và tốc độ tăng trưởng ở nam cao hơn so với nữ, do vậy các kích thước vùng sọ mặt của nam lớn hơn từ 5 - 9% so với nữ.Hơn nữa, sự căng cơ được xem là yếu tố kích dẫn sự hình thành xương, và ở nam cơ nhai hoạt động mạnh hơn ở nữ nên có thể giải thích chiều cao cành lên của nam lớn hơn so với nữ trong nghiên cứu này

Chúng tôi cũng ghi nhận có sự khác biệt về khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai R7 và R8 giữa nam và nữ trong đó lỗ hàm dưới của nam nằm cao hơn ở nữ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở nam, tỉ lệ

lỗ hàm dưới nằm trên mặt nhai răng 8 cao hơn

so với ở nữ, còn tỉ lệ lỗ hàm dưới nằm ngang và dưới mặt nhai răng 8 của nam thì lại thấp hơn (p<0,05) Điều này lại một lần nữa khẳng định vai trò của yếu tố giới tính khi xem xét đến vị trí điểm mốc này

Về độ mở của cành lên xương hàm dưới tại mặt phẳng ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm

Chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt về góc tạo bởi mặt trong cành lên và mặt phẳng dọc giữa ở hai nhóm tuổi, trong đó góc này ở nhóm 18–40 tuổi lớn hơn so với nhóm trên 40 tuổi (Bảng 5) Do đó, ở bệnh nhân trẻ tuổi, ta nên điều chỉnh hướng ống chích ra sau hơn so với

bệnh nhân lớn tuổi

'

Trang 8

Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài

Hiểu biết về đặc điểm vùng lỗ hàm dưới sẽ

giúp nhà lâm sàng định vị chính xác điểm mốc

khi gây tê TKXOD, đem lại hiệu quả tê tối ưu

nhằm giúp các thủ thuật nha khoa được thực

hiện nhanh chóng, mang lại sự thoải mái và tin

tưởng cho bệnh nhân Đồng thời cũng làm hạn

chế các biến chứng không mong muốn như: gãy

kim, tổn thương thần kinh lưỡi, TKXOD(11), liệt

mặt tạm thời(7)…

Bên cạnh đó, việc đánh giá đúng vị trí lỗ hàm

dưới còn có ý nghĩa quan trọng trong phẫu thuật

chỉnh hình hàm mặt, giúp việc cắt xương được

thực hiện chính xác và an toàn, tránh tổn thương

TKXOD(4,12)

Hơn nữa, việc tìm hiểu vị trí lỗ hàm dưới và

độ mở của cành lên còn giúp người đọc có một

cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về đặc điểm

hình thái xương hàm dưới của người Việt, góp

phần xây dựng các hằng số sinh học của người

Việt Nam

KẾT LUẬN

- Theo chiều trước sau, lỗ hàm dưới nằm

ngay sau điểm giữa chiều rộng cành lên Theo

chiều trên dưới, lỗ hàm dưới nằm dưới giới hạn

giữa 1/3 trên và 2/3 dưới của chiều cao cành lên

- Lỗ hàm dưới nằm trên mặt nhai R6 và R7

với khoảng cách đến mặt nhai R6 là khoảng

6mm, đến R7 khoảng 2mm và gần như nằm

ngang mức mặt nhai R8

- Hầu hết lỗ hàm dưới nằm trên mặt nhai

răng 6, tỉ lệ này giảm còn khoảng 2/3 ở răng 7 và

chỉ còn khoảng 1/2 ở răng 8

- Góc tạo bởi mặt trong cành lên và mặt

phẳng dọc giữa tại mặt phẳng ngang đi qua đỉnh

lưỡi hàm khoảng 26 độ Góc tạo bởi mặt ngoài

cành lên và mặt phẳng dọc giữa tại mặt phẳng

ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm khoảng 20 độ Có

mối tương quan thuận giữa hai góc trên

- Vị trí tương đối của lỗ hàm dưới theo chiều

khuyết sigma có sự khác biệt giữa bên phải và bên trái

- Nhìn chung, lỗ hàm dưới ở nam nằm cao hơn so với nữ

- Càng lớn tuổi thì góc α càng giảm

Do giới hạn về thời gian cũng như nguồn dữ liệu nên chúng tôi chỉ thực hiện nghiên cứu trên người Việt trưởng thành Cần có thêm những nghiên cứu về đặc điểm vùng lỗ hàm dưới ở trẻ

em Việt Nam trong các giai đoạn phát triển bộ răng khác nhau nhằm cung cấp tư liệu cho những nhà thực hành lâm sàng, đặc biệt là các bác sĩ chuyên về nha khoa trẻ em Hơn nữa, nghiên cứu này cũng bước đầu cho thấy hình ảnh CBCT rất hữu ích để ứng dụng trong các nghiên cứu đo đạc về hình thái với sự thuận tiện cũng như độ chính xác cao, và có thể sẽ là xu hướng nghiên cứu được phát triển mạnh trong tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Caria (2009) Morphologycal description of mandibular canal

in panoramic radiographs of Brazilian subjects : association

between anatomic characteristic and clinical procedures Int J

Morphol, 27 (4): 1243-1248

efficacy of the mylohyoid nerve block and combination

inferior alveolar nerve block/mylohyoid nerve block Oral Surg

Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod, 87 (5): 557-563

mandibular foramen and clinical implications Int J Morphol,

27 (4): 1305-1311

of the complications of intraoral vertico-sagittal ramus

osteotomy J Oral Maxillofac Surg, 64 (3): 384-389

mandibular foramen and the necessary alterations in the local

anaesthetic technique: a case report Br Dent J, 210 (5): 207-211

Khongkankong W, Chatrchaiwiwatana S, Khamanarong K, et

al (2007) Shape of the lingula and its localization by panoramic radiograph versus dry mandibular measurement

Surg Radiol Anat, 29 (8): 689-694

Thị Hương Loan, Nguyễn Thị Bích Lý (2011) Phẫu thuật miệng _Tập1 _ Gây tê - nhổ răng, Nhà xuất bản Y học, Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, tr.106-109

(2005) Đặc điểm hình thái vùng lỗ hàm dưới trên xương khô

Trang 9

9 Rashid S A, Jamal Ali BDS (2011) Morphometric analysis of

mandibular canal course and position in relation to gender

and age of Iraqi sample using digital panoramic imaging J

Bagh Coll Dent, 23: 92-99

10 Rashid SA, Jamal Ali BDS (2011) Sex determination using

linear measurements related to the mental and mandibular

foramina vertical positions on digital panoramic images J

Bagh Coll Dent, 23: 59-64

11 Renton T (2010) Prevention of iatrogenic inferior alveolar

nerve injuries in relation to dental procedures Dent Update, 37

(6): 350-352

12 Shenoy V, Vijayalakshmi S, Saraswathi P (2012) Osteometric

Analysis Of Mandibular Foramen In Dry Human Mandibles J

Clin Diagnos Res, 6 (4): 557-560

13 Thangavelu K, Kannan R, Kumar N S, Rethish E, Sabitha S,

Sayeeganesh N (2012) Significance of localization of

mandibular foramen in an inferior alveolar nerve block J Nat

Sci Biol Med, 3 (2): 156-60

14 Trost O, Salignon V, Cheynel N, Malka G, Trouilloud P (2010)

A simple method to locate mandibular foramen: preliminary

radiological study Surg Radiol Anat, 32 (10): 927-931

15 Tsai H H (2004) Panoramic radiographic findings of the mandibular foramen from deciduous to early permanent

dentition J Clin Pediatr Dent, 28 (3): 215-219

16 Varma C L, Haq I (2011) Position of Mandibular Foramen in

South Indian Mandibles Anat Karnataka Int J, 5 (1): 53-56

Ngày nhận bài báo: 09/01/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/01/2014 Ngày bài báo được đăng: 20/03/2014

Ngày đăng: 21/01/2020, 06:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w