1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá sự thay đổi nồng độ dấu ấn chu chuyển xương ở phụ nữ sau mãn kinh sử dụng vitamin D, canxi và bột đậu nành trong 6 tháng

8 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 359,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá sự thay đổi nồng độ dấu ấn chu chuyển xương trong huyết thanh trước và sau 6 tháng sử dụng sữa bột đậu nành tăng cường vitamin D2 và canxi ở phụ nữ sau mãn kinh. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ DẤU ẤN CHU CHUYỂN XƯƠNG Ở PHỤ NỮ SAU MÃN INH

SỬ DỤNG VITAMIN D, CANXI VÀ BỘT ĐẬU NÀNH TRONG 6 THÁNG

Hoàng Văn Dũng*; Lê Bạch Mai**; Nguyễn Thị Ngọc Lan***

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá sự thay đổi nồng độ dấu ấn chu chuyển xương trong huyết thanh trước

và sau 6 tháng sử dụng sữa bột đậu nành tăng cường vitamin D2 và canxi ở phụ nữ sau mãn

kinh Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu, can thiệp cộng đồng theo dõi trước và

sau can thiệp 140 phụ nữ mãn kinh ≥ 5 năm, tuổi từ 50 - 70; chia thành 2 nhóm: nhóm can

thiệp (n = 70) hàng ngày uống sản phẩm soyplus (50 gram sữa đậu nành có bổ sung 800 IU

vitamin D2 và 400 mg canxi); nhóm chứng (n = 70): uống sản phẩm soyplus (50 gram sữa đậu

nành đơn thuần) trong 6 tháng Kết quả: sau 6 tháng can thiệp, nồng độ osteocalcin huyết

thanh giảm từ 19,7 ± 5,2 ng/ml xuống 15,4 ± 3,6 ng/ml (giảm 21,3%), nồng độ CTX huyết thanh

giảm từ 0,65 ± 0,2 ng/ml xuống 0,51 ± 0,2 ng/ml (giảm 21,5%), p < 0,01 Kết luận: sau 6 tháng

sử dụng sản phẩm, có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê các dấu ấn chu chuyển xương

(osteocalcin huyết thanh giảm 21,3%, CTX huyết thanh giảm 21,5%)

* Từ khóa: Loãng xương; Phụ nữ sau mãn kinh; Chu chuyển xương; Osteocalcin; CTX

Evaluation of Changing Bone Tunrvover Markers in Postmenopausal

Women Using Fortified Soy Milk plus Calcium and Vitamin D for

6 Months

Summary

Objectives: To assess changing serum bone markers after 6 months using fortified soy milk

plus calcium and vitamin D2 in postmenopausal women Subjects and methods: Prospective,

community and follow-up study before and after the intervention was carried out on 140

postmenopausal women in the age from 50 - 70 Intervention group (n = 70) drank 50 gram soy

milk supplemented with 800 IU vitamin D2 and 400 mg calcium daily; control group (n = 70):

50 gram soy milk in 6 months Result: After 6 months of the intervention, serum osteocalcin

levels decreased from 19.7 ± 5.2 ng/ml to 15.4 ± 3.6 ng/ml (21.3%), serum CTX decreased from

0.65 ± 0.2 ng/ml to 0.51 ± 0.2 ng/ml (21.5%) The difference was statistically significant

compared with the control group (p < 0.01) Conclusion: After 6 months of the intervention,

serum osteocalcin concentrations decreased by 21.3%, 21.5% reduction in serum CTX

The difference compared with the control group with statistical significance (p < 0.01).

* Key words: Osteoporosis; Postmenopaus; Bone turnover; Osteocalcin; CTX

* Bệnh viện Bạch Mai

** Viện Dinh dưỡng

*** Đại học Y Hà Nội

Người phản hồi (Corresponding): Hoàng Văn Dũng (dungnoitru26@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 25/03/2016; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 31/05/2016

Ngày bài báo được đăng: 03/06/2016

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chu chuyển xương là quá trình thay cũ

đổi mới của xương, diễn ra liên tục Một

chu kỳ chu chuyển xương gồm 3 giai đoạn

và diễn ra trong 3 - 6 tháng: giai đoạn hủy

xương (resorption), giai đoạn chuyển đổi

(reversal) và giai đoạn tạo xương mới

(formation) Dấu ấn chu chuyển xương

được bài tiết vào máu trong quá trình hoạt

động của tế bào hủy cốt bào (CTX…) hay

tạo cốt bào (osteocalcin, P1NP…) Do đó,

việc theo dõi thay đổi các dấu ấn chu

chuyển xương phản ánh sự thay đổi của

quá trình tạo xương và hủy xương Nồng

độ các dấu ấn chu chuyển xương tăng

thể hiện tốc độ chu chuyển xương tăng và

tăng nguy cơ loãng xương (LX) cũng như

gãy xương [3]

Sử dụng các dấu ấn chu chuyển

xương trong theo dõi điều trị LX rất hiệu

quả do nồng độ các dấu ấn chu chuyển

xương thay đổi phản ánh hiệu quả tác

động của thuốc điều trị LX theo cơ chế

tác động đặc hiệu trên chuyển hóa

xương, từ đó cho biết sự cải thiện về chất

lượng xương Đồng thời cho phép đánh

giá hiệu quả can thiệp sớm sau 3 - 6

tháng so với thay đổi mật độ xương chậm

1 - 2 năm khi đo mật độ xương Bình

thường theo diễn biến tự nhiên, nồng độ

dấu ấn chuyển xương tăng lên trong LX

và giảm đi khi điều trị LX bằng thuốc

chống hủy xương Nghiên cứu ứng dụng

các dấu ấn chu chuyển xương để theo

dõi đáp ứng điều trị LX là một hướng

nghiên cứu mới, có tính khoa học và độ

chính xác cao [3] Khuyến cáo sử dụng 1

dấu ấn huỷ xương (CTX) kết hợp với một

dấu ấn tạo xương (osteocalcin, P1NP,

hoặc BSAP) để đánh giá một chu chuyển

xương, cũng như tốc độ chu chuyển xương Theo nghiên cứu của Marlena và

CS (2010) về hiệu quả can thiệp của sữa công thức (Anlene) có tăng cường 400 UI vitamin D và 1.200 mg canxi mỗi ngày, theo dõi sau 4 tháng ở phụ nữ mãn kinh

> 5 năm tại Indonesia và Philippine cho thấy nồng độ các dấu ấn chu chuyển xương giảm rõ rệt: CTX huyết thanh giảm 40%, osteocalcin giảm 30 - 35% [4]

Tại Việt Nam, nghiên cứu về dấu ấn chu chuyển xương đang được thực hiện

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu:

Đánh giá sự thay đổi nồng độ dấu ấn chu chuyển xương trong huyết thanh sau

6 tháng sử dụng sản phẩm sữa bột đậu nành tăng cường vitamin D2 và canxi ở phụ nữ sau mãn kinh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

140 phụ nữ mãn kinh ≥ 5 năm, tuổi

50 - 70, khẩu phần canxi ≤ 400 mg/ngày

và đồng ý tham gia nghiên cứu, được chia thành hai nhóm: nhóm can thiệp (n = 70): hàng ngày uống sản phẩm:

50 gram sữa đậu nành có bổ sung 800 IU vitamin D2 và 400 mg canxi trong 6 tháng;

nhóm đối chứng (n = 70): hàng ngày uống sản phẩm: 50 gram sữa đậu nành đơn thuần trong 6 tháng Loại trừ những phụ mãn kinh do phẫu thuật, mắc các bệnh liên quan đến chuyển hóa (đái tháo đường, Basedow), người có dị tật xương - khớp bẩm sinh, người mắc các bệnh: ung thư, suy thận, gãy xương, phẫu thuật xương khớp trong vòng 5 năm, đang dùng các thuốc điều trị LX: calcitonin, estrogen, corticoid trong vòng 6 tháng gần đây

Trang 3

- Nghiên cứu tiến hành tại xã Tam Hưng,

huyện Thanh Oai, Hà Nội

- Thời gian từ tháng 1 - 2013 đến 6 -

2013 (6 tháng can thiệp)

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp cộng

đồng, có đối chứng, theo dõi trước can

thiệp (T0) và sau can thiệp 6 tháng (T6)

- 2 nhóm nghiên cứu được ghép cặp

tương đồng về tuổi, thời gian mãn kinh,

giữ nguyên chế độ ăn, hoạt động thể lực,

tiếp xúc với ánh nắng mặt trời như

thường lệ trong suốt quá trình nghiên

cứu

* C ỡ mẫu nghiên cứu: áp dụng công

thức tính cỡ mẫu kiểm định sự khác nhau

giữa nồng độ CTX huyết thanh trung bình

trước và sau can thiệp của mỗi nhóm

n = 2 (Z + Z)

(dc - ct) 2 Trong đó: n cỡ mẫu cho can thiệp;

Z = 1,96; Z = 0,84; : độ lệch chuẩn trung bình (ước tính 0,2 ng/ml); dc: trị số khác biệt trước và sau can thiệp của nhóm đối chứng (ước tính -0,05 ng/ml);

ct:trị số khác biệt trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp (ước tính -0,15 ng/ml);

từ đó tính được n = 140 đối tượng

* Nội dung và chỉ tiêu nghiên cứu:

- Đo chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI trước và sau can thiệp 6 tháng

- Đo mật độ xương bằng phương pháp siêu âm định lượng vị trí gót chân: sử dụng máy đo Sonost-2000 (Hãng Osteosys, Hàn Quốc) trước và sau 6 tháng: so sánh các chỉ số T-score, Z-score, SOS

- Một số xét nghiệm thực hiện đánh giá (bảng 1):

Tên xét

nghiệm

Đơn vị

tính

Phương pháp đánh giá Thiết bị sử dụng

Thời điểm đánh giá Đơn vị thực hiện

Định lượng

Điện hóa phát quang miễn dịch

Máy Elecsys (2010, Hãng Roche)

Trước và sau can thiệp 6 tháng

Trung tâm Nghiên cứu Y - Dược học Quân sự, Học viện Quân y

Định lượng

Điện hóa phát quang miễn dịch

Máy Elecsys (2010, Hãng Roche)

Trước và sau can thiệp 6 tháng

Trung tâm Nghiên cứu Y - Dược học Quân sự, Học viện Quân y

Định lượng

25(OHD)

nmol/l

Phương pháp miễn dịch hóa phát quang

Máy miễn dịch tự động ARCHITECT (Labo Hóa sinh, Viện Dinh dưỡng)

Trước và sau can thiệp 6 tháng

Labo Hóa sinh (Viện Dinh dưỡng)

* Phân tích và xử lý số liệu:

- Trung bình, độ lệch chuẩn và tỷ lệ dùng để mô tả đặc điểm đối tượng nghiên cứu

- Test "χ2" dùng kiểm định sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ

Trang 4

- Test “t” dùng kiểm định sự khác biệt giữa 2 trị số trung bình

- Khoảng tin cậy 95% áp dụng cho toàn bộ các test Sự khác biệt khi giá trị p < 0,05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu trước khi can thiệp (n = 140)

Bảng 2:

(n = 70)

Nhóm chứng (n = 70)

p

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở tất cả các yếu tố đã khảo sát ở 2 nhóm nghiên cứu trước can thiệp

2 Thay đổi T-score sau 6 tháng can thiệp

Bảng 3: Đặc điểm T-score trung bình trước và sau 6 tháng can thiệp

Thời điểm

Nhóm can thiệp (n = 65)

Nhóm chứng

Sau 6 tháng can thiệp, T-score trung bình cả 2 nhóm đều giảm, giảm nhiều hơn ở nhóm chứng Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Trang 5

3 Thay đổi nồng độ osteocalcin, CTX và vitamin D huyết thanh trước và sau

6 tháng can thiệp

Bảng 4: Thay đổi nồng độ osteocalcin và CTX huyết thanh trước và sau 6 tháng

can thiệp

(n = 65)

Nhóm chứng

T6 Hiệu số T6 - T0 Mức độ giảm%

(T6 - T0)/T0

19,7 ± 5,2 15,4 ± 3,6 -4,2 ± 3,8 -21,3

20,1 ± 5,5 18,8 ± 5,1 -1,3 ± 3,5 -6,5

> 0,05

< 0,01

< 0,01

T6 Hiệu số T6 - T0

0,65 ± 0,2 0,51 ± 0,2

- 0,14 ± 0,2

0,65 ± 0,17 0,59 ± 0,2

- 0,07 ± 0,2

> 0,05

< 0,05

< 0,05

- Nồng độ osteocalcin huyết thanh giảm ở cả 2 nhóm sau 6 tháng can thiệp: nhóm

can thiệp giảm 21,3%; nhóm chứng giảm 6,5% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p < 0,01

- Nồng độ CTX huyết thanh giảm ở cả 2 nhóm sau 6 tháng can thiệp: nhóm can

thiệp giảm 21,5%; nhóm chứng giảm 10,7% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p < 0,05

Bảng 5: Mối liên quan giữa thay đổi nồng độ osteocalcin (OC) sau can thiệp với

T-score trước can thiệp (nhóm can thiệp)

T-score tại T0 (T-score ≤ -2.5) LX (T-score > -2,5) Không LX Tổng

Thay đổi nồng độ OC

sau can thiệp (T6 - T0)

Tỷ lệ giảm nồng độ osteocalcin sau 6 tháng ở nhóm có LX tại T0 (87,5%) cao hơn

nhóm không LX (68,8%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với

p > 0,05

Trang 6

Bảng 6: Mối liên quan giữa thay đổi nồng độ CTX sau can thiệp với T-score trước

can thiệp (nhóm can thiệp)

(T-score ≤ -2,5)

Không LX (T-score > -2,5) Tổng

Thay đổi nồng độ CTX

sau can thiệp (T6 - T0)

Tỷ lệ giảm nồng độ CTX sau 6 tháng ở nhóm có LX tại T0 là 66,7%, ở nhóm không

LX 68,7%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Bảng 7: Thay đổi nồng độ vitamin D huyết thanh sau 6 tháng can thiệp

Sau 6 tháng can thiệp, nồng độ vitamin D nhóm can thiệp tăng 24,3%, nhóm chứng tăng 5,8%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

BÀN LUẬN

Sử dụng phương pháp đo mật độ xương

để theo dõi đáp ứng điều trị LX là phương

pháp kinh điển, được khuyến cáo áp dụng

từ nhiều năm nay Tuy nhiên, khuyến cáo

tốt nhất là đo mật độ xương (BMD) bằng

phương pháp DXA tại cột sống thắt lưng

và cổ xương đùi để theo dõi hiệu quả

điều trị của thuốc LX, phần trăm thay đổi

mật độ xương phản ánh hiệu quả của mỗi

loại thuốc điều trị Tuy nhiên, mật độ

xương thay đổi diễn ra rất chậm, theo

khuyến cáo để theo dõi đáp ứng điều trị

LX cần đo mật độ xương nhắc lại sau ít

nhất 1 - 2 năm [3]

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành can thiệp trên những phụ nữ tuổi trung bình 58,5 ± 4,9 tuổi, thời gian mãn kinh trung bình 10,4 ± 5,7 năm Sử dụng đo mật độ xương bằng phương pháp siêu

âm định lượng vị trí gót chân trước và sau 6 tháng can thiệp cho thấy không có

sự khác biệt mật độ xương ở hai nhóm nghiên cứu trước và sau 6 tháng can thiệp (p > 0,05) Sau 6 tháng can thiệp, T-score

ở 2 nhóm nghiên cứu đều giảm, giảm nhiều hơn ở nhóm chứng, tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

(b ảng 3) Tốc độ mất xương hàng năm ở

phụ nữ sau mãn kinh có thể lên 5 - 7%/năm,

Trang 7

cùng với khoảng cách đo mật độ xương

trong nghiên cứu chúng tôi chỉ 6 tháng

chưa đủ thời gian đánh giá thay đổi trên

mật độ xương, đồng thời có những sai số

đo lường Do đó, không đủ kết luận về

hiệu quả của phương pháp can thiệp này

dựa trên kết quả đo mật độ xương đơn

thuần, đặc biệt là đo bằng phương pháp

siêu âm và thời gian đánh giá chỉ có 6

tháng Do đó, cần có những phương

pháp phản ánh kịp thời hơn sự thay đổi

tốc độ chu chuyển xương chỉ trong vòng 3

- 6 tháng như phương pháp đánh giá thay

đổi nồng độ dấu ấn chu chuyển xương

Việc ứng dụng các dấu ấn chu chuyển

xương trong chẩn đoán và theo dõi điều

trị LX ngày càng được phổ biến và đưa

vào hướng dẫn quốc gia về quản lý BN

LX ở các nước phát triển và một số nước

trong khu vực Đông Nam Á Theo Sonia

và CS (2012), để đạt được giá trị dự báo

tăng mật độ xương > 3% với độ đặc hiệu

90% thì sự thay đổi tối thiểu có ý nghĩa

của dấu ấn chu chuyển xương ở mức

CTX huyết thanh giảm 35 - 55%, osteocalcin

huyết thanh giảm 20 - 40% [5] Nghiên

cứu của chúng tôi sau 6 tháng can thiệp,

nồng độ osteocalcin ở nhóm can thiệp

giảm 21,3%, nhiều hơn ở nhóm chứng

(giảm 6,5%), với p < 0,01 và nồng độ

CTX ở nhóm can thiệp giảm 21,5% so với

nhóm chứng giảm 10,7% với p < 0,01

(bảng 4) Như vậy, ở cả hai nhóm nghiên

cứu, nồng độ các dấu ấn chu chuyển xương

đều giảm, điều này nói lên hiệu quả tác

động phối hợp của sữa đậu nành (isoflavon)

với canxi và vitamin D Tuy nhiên, ở

nhóm can thiệp, nồng độ các dấu ấn chu

chuyển xương giảm nhiều hơn với sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê so với

nhóm chứng Điều này khẳng định hiệu quả tác động của canxi và vitmain D bổ sung trong sản phẩm can thiệp Nồng độ các dấu ấn chu chuyển xương thay đổi trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn khi so sánh với thay đổi nồng độ osteocalcin và CTX trong nghiên cứu của Marlena C Kruger (phụ nữ Philippine sau mãn kinh, osteocalcin giảm 33%, CTX giảm 39% sau 4 tháng uống sữa có bổ sung 1.200 mg CaCO3 và 400 IU vitamin D3) [4] Sự thay đổi nồng độ osteocalcin và CTX trong nghiên cứu chúng tôi thấp hơn khi so sánh với thuốc điều trị LX [2] Khi tìm hiểu mối liên quan giữa thay đổi nồng

độ các dấu ấn chu chuyển xương (CTX, OC) với mật độ xương ban đầu trước can thiệp, chúng tôi không thấy sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có LX hay không LX (bảng 5, bảng 6)

Căn cứ vào kết quả can thiệp sau 6 tháng cho thấy, nồng độ vitamin D huyết thanh trung bình ở nhóm can thiệp tăng lên rõ rệt từ 60,04 ± 19,5 nmol/l trước can thiệp lên 74,0 ± 10,4 nmol/l sau 6 tháng can thiệp, tăng 14,6 nmol/l (24,3%), trong khi ở nhóm chứng, nồng độ vitamin D trung bình trước can thiệp là 63,5 ± 22,4 nmol/l, cao hơn nhóm can thiệp ở thời điểm ban đầu, sau can thiệp 6 tháng nồng

độ này là 66,4 ± 17,5 nmol/l, tăng lên 2,5 nmol/l (3,9%), sự khác biệt về nồng độ vitamin D ở hai nhóm sau can thiệp có ý

nghĩa thống kê với p < 0,01 (bảng 5)

Điều này cho thấy hiệu quả cải thiện nồng

độ 25(OH)D từ sản phẩm can thiệp Kết quả này tương đương với cải thiện hàm lượng 25(OH)D trong nghiên cứu của Marlena ở phụ nữ mãn kinh người Indonesia khi sử dụng vitamin D3 với liều

400 IU trong 4 tháng [4]

Trang 8

Như vậy, sau 6 tháng sử dụng sữa bột

đậu nành bổ sung canxi và vitamin D có

làm giảm được nồng độ cả hai dấu ấn

chu chuyển xương là osteocalcin (dấu ấn

tạo xương) và CTX (dấu ấn hủy xương)

Điều này chứng tỏ sản phẩm can thiệp đã

có hiệu quả làm giảm tốc độ chu chuyển

xương, dự báo tăng mật độ xương

KẾT LUẬN

Nghiên cứu trên 140 phụ nữ nông thôn

mãn kinh > 5 năm, tuổi từ 50 - 70 sử

dụng sản phẩm sữa bột đậu nành có tăng

cường 800 IU vitamin D2 và 400 mg

canxi mỗi ngày sau 6 tháng, kết quả thay

đổi nồng độ các dấu ấn chu chuyển xương

đạt được như sau:

- Nồng độ osteocalcin (dấu ấn tạo

xương) giảm 21,3%, khác biệt có ý nghĩa

thống kê so với nhóm chứng với p < 0,01

- Nồng độ CTX (dấu ấn hủy xương)

giảm 21,5%, khác biệt có ý nghĩa thống

kê so với nhóm chứng với p < 0,01

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Thu Hà, Vũ Thị Thanh Hoa, Nguyễn

Thị Hương Liên quan giữa nồng độ osteocalcin,

beta - crosslab huyết thanh và một số yếu tố

nguy cơ LX ở phụ nữ mãn kinh Tạp chí Nội khoa Việt Nam 2013, số đặc biệt tháng 10/2013 (chuyên đề Cơ xương khớp, chào mừng Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ XI Hội Thấp khớp học Việt Nam, tr.235-243

2 Đỗ Thị Mỹ Anh, Lê Thu Hà, Vũ Thị Thanh Hoa Nhận xét sự biến động nồng độ osteocalcin và beta - crosslabs huyết thanh ở phụ nữ mãn kinh LX điều trị fosamax Y học thực hành 2012, tháng 10 (số đặc biệt - chuyên đề Cơ xương khớp chào mừng Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ X - Hội Thấp khớp học Việt Nam)

3 Vasikaran S, Eastell R, Bruyère AJ, Foldes P, Garnero A, Griesmacher, McClung

M, MorrisH A Markers of bone turnover for

the prediction of fracture risk and monitoring

of osteoporosis treatment: a need for international reference standards Osteoporos Int 2011, 22, pp.391-420

4 Marlena C , Kruger L.M, Barbara Kuhn-Sherlock, Andon Hestiantoro, Paulus Wijanto, and I.A Julie Li-Yu , Joanne M Todd, Richard Eastell The effect of a fortified milk drink on

vitamin D status and bone turnover in post-menopausal women from South East Asia Bone 2010, 46, pp.759-767

5 Sonia A Talwar MD, George T Griffing

MD Bone markers in osteoporosis Medscape

2012, updated: Jan 3, 2012

Ngày đăng: 21/01/2020, 06:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w