1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu sự thay đổi chỉ số đông máu cơ bản ở thai phụ qua các thai kì

7 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 304,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung đề tài với mục tiêu nghiên cứu sự thay đổi chỉ số xét nghiệm đông máu cơ bản ở từng quý thai kỳ và mối liên quan giữa những thay đổi đó với tuổi thai. Nghiên cứu tiến hành trên 2700 thai phụ tại bệnh viện phụ sản Hà Nội từ tháng 5/2012 đến tháng 12/2012; nghiêu cứu cắt ngang, mô tả.

Trang 1

Ở THAI PHỤ QUA CÁC THAI KÌ 

Phạm Quang Vinh * , Nguyễn Huy Bạo ** , Nguyễn Tuấn Tùng * , Đỗ Tiến Dũng *  

TÓM TẮT 

Sự thay đổi về sinh lý sinh hóa trong đó có hệ thống đông cầm máu khi mang thai là phù hợp với sự kích  thích và phát triển của thai nhi. Nghiên cứu đặc điểm các chỉ số đông máu ở các thai kì giúp có biện pháp phòng 

chống chảy máu trong mang thai và khi sinh. 

Mục tiêu: Nghiên cứu sự thay đổi chỉ số xét nghiệm đông máu cơ bản ở từng quí thai kỳ và mối liên quan 

giữa những thay đổi đó với tuổi thai.  

Đối  tượng  và  phương  pháp: 2700 thai phụ tại bệnh viện phụ sản Hà Nội từ tháng 5/2012 đến tháng 

12/2012; nghiêu cứu cắt ngang, mô tả.  

Kết  quả: Quí 1 mang thai: PT%, rAPTT, nồng độ fibrinogen trung bình là: 101,39%; 0,97; 3,31 g/l. Có 

11,56% thai phụ nồng độ fibrinogen > 4 g/l. Quí 2 mang thai: PT%, rAPTT, nồng độ fibrinogen trung bình là:  108,94 %; 0,96; 3,7 g/l. Có 0,67% thai phụ PT% trên 140%; 25,78% thai phụ nồng độ fibrinogen > 4g/l. Quí 3  mang thai: PT%, rAPTT, nồng độ fibrinogen trung bình là: 112,03 %; 0,94; 4,02 g/l. Có 2,33 % thai phụ PT%  trên 140%; 52,67 % thai phụ nồng độ fibrinogen trên 4g/l. Tuổi thai càng lớn thì PT% và nồng độ fibrinogen  càng tăng và rAPTT rút ngắn nhất ở quí 3 thai kỳ.  

Kết luận: Gặp một tỉ lệ phụ nữ mang thai bất thường xét nghiệm PT%, rAPTT, fibrinogen. Tuổi thai càng 

lớn thì tỉ lệ thai phụ bất thường các xét nghiện này càng nhiều. 

Từ khóa: Đông máu cơ bản, các thai kì, tuổi thai 

ABSTRACT 

STUDY ON CHANGES OF SOME COAGULATION TESTING IN PREGNANCY 

Pham Quang Vinh, Nguyen Huy Bao, Nguyen Tuan Tung, Do Tien Dung 

 * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 5 ‐ 2013: 284 ‐ 290 

Changes  in  physiological,  biochemical,  including  the  system  of  coagulation during  pregnancy  is  consistent  with  the  stimulation  and  development  of  the  fetus.  Study  on  some coagulation testing in 

pregnancy, which helps prevention measures bleeding during pregnancy and childbirth.  

Objective: To study the changes in some coagulation tests in each quarter of the pregnancy and 

the relationship between these changes with gestational age. 

Subjects and Methods: 2700 pregnant women at Hanoi maternity hospital from January 5/2012 

of May 12/2012; studies have cross‐sectional, descriptive.  

Results:  first  quarter  pregnancy:  PT%,  rAPTT,  fibrinogen  concentrations  average:  101.39%; 

0.97;  3.31  g/l.  There  are 11.56% of  pregnant  women  with  fibrinogen  levels  >  4  g/l.  2nd  quarter  pregnancy:  PT%,  rAPTT,  average  fibrinogen  levels:  108.94%;  0.96;  3.7  g/l.  There  are  0.67%  and  25.78%  of  pregnant  women  with  PT%  >  140%  and  fibrinogen  concentrations  >  4  g/l.  3rd  quarter 

* Bệnh viện Bạch Mai  ** Bệnh viện Phụ sản Hà Nội 

Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Tuấn Tùng   ĐT: 0912 110 905   Email: tunghhbm@yahoo.com 

Trang 2

pregnancy:  PT%,  rAPTT,  average  fibrinogen  levels:  112.03%;  0.94;  4.02  g/l.  There  are  2.33%  and  52.67%  of  pregnant  women  with  PT%  >140%  and  fibrinogen  concentration  >  4  g/l.  The  greater  gestational age, the more increased PT% and concentrations of fibrinogen. 3rd quarter pregnancy is the  shortest rAPTT.  

Conclusion: There are abnormal PT%, rAPTTfibrinogen in some pregnant womenThe greater  gestational age, the more increased proportion of women with abnormal those tests. 

Keywords: Coagulation testing, pregnancygestational age. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Mang  thai  là  hiện  tượng  sinh  lý  của  người 

phụ nữ trong lứa tuổi sinh sản. Nhằm mục đích 

đáp  ứng  với  kích  thích  sinh  lý  do  sự  xuất  hiện 

của  thai,  phần  phụ  của  thai  và  tạo  một  môi 

trường thuận lợi cho sự phát triển của thai nhi, 

các  cơ  quan  trong  cơ  thể  người  mẹ  đều  có  sự 

thay đổi về giải phẫu, sinh lý, sinh hoá, trong đó 

có  hệ  thống  các  tế  bào  máu  và  đông  máu.  Tuy 

nhiên, những biến đổi này đôi khi vượt quá giới 

hạn  bình  thường  hoặc  diễn  biến  một  cách  bất 

thường gây ra tác động có hại cho sức khoẻ của 

thai phụ cũng như thai nhi(3). 

Chảy máu có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm 

nào:  trước,  trong  và  sau  đẻ.  Đây  có  thể  là  triệu 

chứng của một số bệnh lý sản khoa nhưng cũng 

có  thể  là  dấu  hiệu  cảnh  báo  tình  trạng  bất 

thường  của  hệ  thống  đông  máu  trong  cơ  thể 

người  mẹ.  Chảy  máu  kéo  dài  trong  quá  trình 

mang  thai  có  thể  gây  thiếu  máu  mẹ,  thai  nhi 

chậm phát triển, có thể là nguyên nhân gây tăng 

tỷ lệ thai chết lưu, sảy thai, trẻ sơ sinh non yếu, 

là một gánh nặng cho gia đình và xã hội. Thậm 

chí có những rối loạn đông máu chỉ thực sự gây 

triệu  chứng  chảy  máu  dữ  dội  và  nhanh  khi 

chuyển  dạ  và  sau  đẻ,  là  một  trong  những  tai 

biến  sản  khoa  gặp  hàng  đầu  để  lại  hậu  quả 

nghiêm trọng như tử vong mẹ, suy thai, suy hô 

hấp  sơ  sinh.  Chính  vì  vậy,  việc  phát  hiện  được 

sớm  và  đúng  những  trường  hợp  bất  thường 

đông  máu  có  nguy  cơ  chảy  máu  trong  thời  kỳ 

mang  thai  là  rất  quan  trọng  để  đảm  bảo  cho 

người phụ nữ có một thai kỳ khoẻ mạnh. Tránh 

trường hợp bỏ sót hoặc lại được xử trí khi chưa 

thực sự cần thiết gây hậu quả đáng tiếc(3,7,8). 

Trên  thế  giới  đã  có  các  nghiên  cứu  về  sự  thay đổi đông máu ở phụ nữ mang thai như Liu 

XH,  Jiang  YM,  Shi  H  và  cộng  sự  (2009)  nghiên  cứu  232  sản  phụ  có  kết  quả  PTs,  INR,  APTTs,  rAPTT  giảm,  SLTC  giảm  dần  trong  thời  kỳ  mang  thai(6).  Ở  Việt  Nam  đã  có  một  số  nghiên  cứu  về  đông  máu  ở  phụ  nữ  mang  thai  như  nghiên  cứu  của  Đoàn  Thị  Bé  Hùng  (2007),  Hoàng  Hương  Huyền  (  2010),  Phan  Thị  Minh  Ngọc (2011)(3,5,9).  Nhưng  những  nghiên  cứu  này  chưa hệ thống được sự thay đổi của một số xét  nghiệm  đông  máu  qua  từng  thời  kì  mang  thai. 

Vì  vậy,  để  góp  phần  vào  việc  tìm  hiểu  về  tình  trạng đông máu ở phụ nữ mang thai, chúng tôi  tiến hành nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu  sau: 

‐ Nghiên cứu một số đặc điểm xét nghiệm đông  máu cơ bản ở từng thời kì mang thai. 

‐ Tìm hiểu mối liên quan giữa sự thay xét nghiện  đông máu cơ bản với tuổi thai.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Nhóm thai phụ 

Gồm  2700  phụ  nữ  mang  thai,  trong  đó  900  phụ  nữ  mang  thai  3  tháng  đầu,  900  phụ  nữ  mang thai 3 tháng giữa và 900 phụ nữ mang thai 

3 tháng cuối đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà  Nội từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 11 năm 2012 

đủ tiểu chuẩn nghiên cứu. 

 Được chẩn đoán xác định là có thai bằng các  phương  pháp  lâm  sàng  và  siêu  âm:  nhớ  chính  xác  ngày  đầu  chu  kỳ  kinh  cuối  hoặc  tuổi  thai  được khẳng định bằng kết quả siêu âm lần đầu  trong  quý  1  thai  kỳ  khi  không  nhớ  chính  xác  ngày đầu kỳ kinh cuối.  

Trang 3

Tiêu chuẩn phân chia tuổi thai (1)  

Quý  1  (3  tháng  đầu):  tuần  đầu  tiên  ‐  hết 

tuần 13. Quý 2 (3 tháng giữa): tuần thứ 14 đến 

hết tuần 27. Quý 3 (3 tháng cuối): từ tuần thứ 

28 trở lên. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Loại trừ khỏi nhóm nghiên cứu các thai phụ: 

có các bệnh lý liên quan đến rối loạn đông cầm 

máu bẩm sinh, những thai phụ đang điều đang 

điều trị các thuốc ảnh hưởng đến quá trình đông 

cầm máu.  

Nhóm chứng 

Gồm  45  phụ  nữ  bình  thường  khoẻ  mạnh 

trong  lứa  tuổi  sinh  đẻ  có  độ  tuổi  tương  đương 

với nhóm nghiên cứu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu  

Sử dụng phương pháp nghiên cứu tiến cứu, 

mô tả cắt ngang có đối chứng. Mỗi thai phụ có 

một phiếu nghiên cứu theo mẫu thống nhất. 

Các thông số nghiên cứu 

Thông tin  chung:  Tuổi  mẹ,  tuổi  thai,  thứ  tự 

lần sinh, bệnh lý mẹ…. 

Thông số đông máu: Các chỉ số xét nghiệm 

đông máu cơ bản (APTT, PT và fibrinogen). 

Vật liệu nghiên cứu: 2ml máu tĩnh mạch khi 

bệnh  nhân  chưa  ăn  sáng  và  cách  bữa  tối  hôm 

trước ít nhất 12 giờ. 

Các  kỹ  thuật  xét  nghiệm  và  tiêu  chuẩn  đánh 

giá 

Các kỹ thuật xét nghiệm được thực hiện theo 

quy  trình  đang  được  áp  dụng  tại  Khoa  Huyết 

học‐Truyền  máu  Bệnh  viện  Bạch  Mai.  Các  xét 

nghiệm  đông  máu  cơ  bản  (ĐMCB)  PT,  APTT, 

định lượng fibrinogen: thực hiện  trên  máy  CA‐

1500 và hóa chất của hãng Sysmex Nhật Bản. 

‐ PT %: bình thường 70‐140%. 

‐ APTT: Bình thường 26 đến 36 giây, rAPTT 

bình thường 0,8‐1,2.  

‐ Nồng độ fibrinogen: bình thường 2‐4g/l. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 

Qua  nghiên  cứu  2700  thai  phụ,  tuổi  trung  bình là 27,615,22. Chủ yếu mang thai lần 1 và 2  (42,52% và 38,33%), mang thai lần 3 và trên 3 lần  chỉ chiếm 11,11% và 8,04%.  

Đặc điểm đông máu cơ bản ở từng thời kỳ  mang thai  

Đặc  điểm  đông  máu  cơ  bản  của  thai  phụ  3  tháng đầu: 

Qua  nghiên  cứu  900  thai  phụ  có  tuổi  thai  dưới  14  tuần  đến  khám  thai  định  kỳ  tại  Bệnh  viện  Phụ  Sản  Hà  Nội  từ  tháng  3  đến  tháng  12  năm 2012, chúng tôi thu được kết quả như sau: 

Bảng 1. So sánh kết quả xét nghiệm ĐMCB của 

nhóm thai phụ ba tháng đầu với nhóm chứng 

Nhóm Chỉ số

Nhóm thai phụ (n=900)

Nhóm chứng (n=45)

p

SD

xxSD

Nhận  xét:  từ  bảng  1  cho  chúng  tôi  thấy 

lượng  fibrinogen  trung  bình  của  nhóm  thai  phụ là 3,31g/l cao hơn có ý nghĩa thống kê so  với nhóm chứng với p<0,001. 

Bảng 2. Tỷ lệ thai phụ 3 tháng đầu có xét nghiệm 

ĐMCB bất thường 

Nhận  xét:  từ  bảng  2  cho  thấy  PT%  (tỷ  lệ 

prothrombin) tăng >140% có 4/900 trường hợp  chiếm 0,44%. Lượng fibrinogen tăng trên 4 g/l 

có 104/900 trường hợp chiếm 11,56%. 

Đặc  điểm  đông  máu  cơ  bản  của  thai  phụ  3  tháng giữa 

Nghiên  cứu  900  thai  phụ  có  tuổi  thai  từ  14  tuần  đến  dưới  28  tuần,  chúng  tôi  thu  được  kết 

Trang 4

Bảng 3. So sánh kết quả xét nghiệm ĐMCB của 

nhóm thai phụ ba tháng giữa với nhóm chứng 

Nhóm

Chỉ số

Nhóm thai phụ (n=900)

Nhóm chứng

SD

xxSD

Fibrinogen (g/l) 3,70 ± 0,48 2,75 ± 0,38 < 0,001

Nhận  xét:  từ  bảng  3  cho  thấy  lượng 

fibrinogen  trung  bình  của  nhóm  thai  phụ  3 

tháng giữa là 3,70g/l cao hơn nhóm chứng với 

p<0,001. 

Bảng 4. Tỷ lệ thai phụ 3 tháng giữa có xét nghiệm 

ĐMCB bất thường  

Nhận  xét:  từ  bảng  4  cho  thấy  có  6/900 

chiếm  0,67%  thai  phụ  3  tháng  giữa  có  tăng  tỷ 

lệ  prothrombin  >140%.  Có  232/900  chiếm 

25,78%  thai  phụ  3  tháng  giữa  có  tăng  lượng 

fibrinogen > 4g/l. 

Đặc  điểm  đông  máu  cơ  bản  của  thai  phụ  3 

tháng cuối 

Nghiên  cứu  900  thai  phụ  có  tuổi  thai  ≥  28 

tuần, chúng tôi thu được kết quả như sau: 

Bảng 5. So sánh kết quả xét nghiệm ĐMCB của 

nhóm thai phụ ba tháng cuối với nhóm chứng 

Nhóm

Chỉ số

Nhóm thai phụ (n=900)

Nhóm chứng

SD

xxSD

Fibrinogen (g/l) 4,02 ± 0,44 2,75 ± 0,38 < 0,001

Nhận  xét:  từ  bảng  5  chúng  tôi  thấy  lượng 

fibrinogen  trung  bình  của  nhóm  thai  phụ  là 

4,02g/l cao hơn nhóm chứng rõ rệt với p<0,001. 

Bảng 6. Tỷ lệ thai phụ ba tháng cuối có xét nghiệm 

ĐMCB bất thường 

Nhận  xét:  từ  bảng  6  cho  thấy  lượng 

fibrinogen  tăng  nhiều  trong  nhóm  thai  phụ  3  tháng cuối là 474/900 chiếm 52,67%. 

Thay  đổi  xét  nghiệm  đông  máu  máu  cơ  bản theo tuổi thai 

Bảng 7: So sánh kết quả xét nghiệm đông máu cơ bản 

theo tuổi thai 

12,32

108,94 ± 12,59

112,02 ± 13,30

p 1-2 ; p 1-3 ; p 2-3 < 0,01

0,34

0,94 ± 0,07

p 1-2 > 0,05;

p 1-3 ; p 2-3 < 0,01 Fibrinogen

3,70 ± 0,48

4,02 ± 0,44

p 1-2 ; p 1-3 < 0,01

p 2-3 > 0,05

Nhận  xét:  bảng  7  cho  thấy  tỷ  lệ 

prothrombin,  nồng  độ  fibrinogen  tăng  dần  theo  tuổi  thai  và  tăng  cao  nhất  vào  quý  3  của  thai  kì,  rAPTT  rút  ngắn  nhất  vào  quý  3  của  thai kì.  

Bảng 8. So sánh tỷ lệ xét nghiệm ĐMCB bất thường 

theo tuổi thai 

Q1 Q2 Q3 Q1 Q2 Q3 Q1 Q2 Q3

Fibrinogen (g/l)

Nhận  xét:  bảng  8  cho  thấy  tuổi  thai  càng 

cao  thì  số  thai  phụ  có  PT%  và  nồng  độ  fibrinogen  tăng  càng  nhiều:  PT%  quí  1,  quí  2,  quí  3  lần  lượt  là:  4,  6,  21  thai  phụ;  Fibrinogen  lần lượt là: 104, 232, 474. Số thai phụ có rAPTT  rút ngắn nhiều nhất ở quí 3 thai kì: 10 thai phụ 

so với 2 thai phụ quí 1 và 3 thai phụ quý 2. 

Trang 5

Đặc điểm đông máu cơ bản ở từng thời kì 

mang thai 

Đặc điểm đông máu cơ bản ở quý 1 mang thai 

Các  chỉ  số  xét  nghiệm  đông  máu  cơ  bản 

(PT%, APTT và Fibrinogen) đánh giá vòng đầu 

của  quá  trình  đông  máu,  rất  cần  thiết  theo  dõi 

trong quá trình mang thai. Qua nghiên cứu 900 

thai phụ mang thai quý 1, kết quả bảng 1 và 3.2 

chúng  tôi  thấy  giá  trị  trung  bình  của  PT  %, 

APTT  và  Fibrinogen  đều  nằm  trong  giới  hạn 

bình thường. Khi so với nhóm chứng chúng tôi 

thấy  nồng  độ  fibrinogen  cao  hơn  có  ý  nghĩa 

thống kê, PT% và rAPTT thấp hơn nhưng không 

có  ý  nghĩa  thống  kê.  Khi  phân  tích  tỉ  lệ  bất 

thường trong các xét nghiệm này chúng tôi thấy 

PT%, rAPTT và nồng độ fibrinogen giảm chiếm 

0,22%;  0,22  và  0,56%.  PT%,  rAPTT  và  nồng  độ 

fibrinogen  tăng  chiếm  0,44%;  0,67  và  11,56%. 

Như vậy, ở 3 tháng đầu mang thai có su hướng 

tăng  đông  cả  hai  con  đường  ngoại  sinh  và  nội 

sinh nhưng chưa rõ rệt. Kết quả nghiên cứu của 

Phan Thị Minh Ngọc và CS (2011) ở 77 thai phụ 

mang  thai  3  tháng  đầu  cũng  cho  thấy  có  su 

hướng  tăng  đông:  rAPTT  rút  ngắn,  nồng  độ 

fibrinogen tăng so với chứng(9). 

Đặc điểm đông máu cơ bản ở quý 2 mang thai 

Nghiên  cứu  chỉ  số  xét  nghiệm  PT  %,  APTT 

và  Fibrinogen  ở  thại  phụ  mang  thai  3  tháng 

giữa,  kết  quả  bảng  3  và  3.4  cho  thấy  xu  hướng 

tăng đông rõ rệt hơn so với ở thai phụ mang thai 

3 tháng đầu: PT% và fibrinogen (108,94% và 3,7 

g/l) cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng (100,37% 

và 2,75 g/l); rAPTT (0,96) rút ngắn so với nhóm 

chứng (1,04) nhưng chưa rõ rệt. Khi phân tích tỉ 

lệ bất thường các xét nghiệm này chúng tôi thấy 

sự  tăng  đông  này  rõ  rệt  hơn:  PT%  và  nồng  độ 

fibrinogen tăng chiếm tỉ lệ 0,67% và 25,78%. Tuy 

nhiên  chúng  tôi  gặp  0,67%  thai  phụ  có  rAPTT 

tăng.  Như  vậy  thai  phụ  mang  thai  ở  3  tháng 

giữa  có  tăng  hoạt  hóa  đông  máu  ngoại  sinh  và 

tăng  nồng  độ  fibrinogen  rõ  rệt,  tăng  hoạt  hóa 

đông máu nội sinh nhưng chưa rõ rệt. 

Đặc điểm đông máu cơ bản ở quý 3 mang thai 

Nghiên  cứu  kết  quả  các  xét  nghiệm  PT  %,  APTT  và  Fibrinogen  ở  thai  phụ  mang  thai  3  tháng  cuối,  kết  quả  bảng  5  và  6  cho  thấy  xu  hướng  tăng  đông  rõ  rệt  con  đường  đông  máu  ngoại sinh: PT% (112,02%) cao hơn so với nhóm  chứng (100,37%), nồng độ fibrinogen  là  4,02  g/l  cao  hơn  rõ  rệt  so  với  nhóm  chứng  (2,75  g/l).  rAPTT (0,94) rút ngắn so với nhóm chứng (1,04)  nhưng  chưa  rõ  rệt.  Nghiên  cứu  của  tác  giả  Hoàng  Hương  Huyền  (2010)  ở  571  thai  phụ  3  tháng cuối cũng cho thấy PT%, fibrinogen tăng,  rAPTT  rút  ngắn(5).  Tác  giả  Uchikova  (2004)  khi  nghiên cứu trên 35 phụ nữ mang thai từ tuần 35  đến  tuần  40  có  nồng  độ  fibrinogen  trung  bình  cao  hơn  nhóm  chứng  gồm  35  phụ  nữ  khoẻ  mạnh không mang thai(11). 

Khi phân tích tỉ lệ bất thường các xét nghiệm  này chúng tôi thấy tỉ lệ bệnh nhân có giá trị PT% 

và  nồng  độ  fibrinogen  cao  hơn  bình  thường  là  2,33%  và  52,67%.  Kết  quả  này  càng  thể  hiện  rõ 

sự  tăng  hoạt  hóa  đông  máu  ngoại  sinh  ở  thai  phụ mang thai 3 tháng cuối. Đông máu nội sinh 

có tăng hoạt hóa nhưng kết quả bảng 6 cho thấy  vẫn gặp 1,11% thai phụ có rAPTT tăng tức là có  1,11% bệnh nhân có APTT kéo dài. 

Mối  liên  quan  giữa  sự  thay  xét  nghiện  đông máu cơ bản với tuổi thai 

Nghiên cứu mối liên quan giữa thay đổi xét  nghiệm  đông  máu  cơ  bản  của  thai  phụ  trong  quá  trình  mang  thai  sẽ  góp  phần  hiểu  thêm  được xu hướng thay đổi đông máu của thai phụ, 

từ  đó  có  biện  pháp  đề  phòng  trong  quá  trình  sinh đẻ. 

Kết quả bảng 7 và 8 cho thấy PT% tăng dần  theo  tuổi  thai  có  ý  nghĩa  thống  kê  (PT%  trung  bình  quí  1,  quí  2,  quí  3  lần  lượt  là  101,39%;  108,94%;  112,02%),  nghĩa  là  tuổi  thai  càng  lớn  PT%  càng  tăng.  Như  vậy  tuổi  thai  càng  lớn  thì 

sự  hoạt  hóa  đường  đông  máu  ngoại  sinh  càng  tăng.  PT%  thể  hiện  khái  quát  con  đường  đông  máu  ngoại  sinh,  vì  vậy  để  tìm  hiểu  rõ  hơn  sự  tăng hoạt hóa đông máu ngoại sinh là do yếu tố  nào cần được nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố 

Trang 6

đông  máu  thuộc  đường  đông  máu  ngoại  sinh. 

Tương tự, trong nghiên cứu này chúng tôi thấy 

rAPTT giảm rõ rệt ở quí 3 thai kỳ so với hai quí 

còn  lại  (quí  3:  0,94  so  với  quí  1:  0,97  và  quí  2: 

0,96). Nghiên cứu của Liu XH và CS (2009) về sự 

thay  đổi  chỉ  số  một  số  xét  nghiệm  đông  máu 

trên 232 thai phụ cho thấy có sự rút ngắn rAPTT 

có  ý  nghĩa  thống  kê  so  với  nhóm  chứng(6). 

Nghiên  cứu  này  cũng  cho  thấy  nồng  độ 

fibrinogen  tăng  theo  tuổi  thai:  nồng  độ 

fibrinogen  trung  bình  của  thai  phụ  mang  thai 

quí 1, quí 2, quí 3 lần lượt là: 3,31 g/l, 3,7 g/l, 4,02 

g/l. Nghiên cứu của Federico Cerneca và cộng sự 

nhận  thấy  nồng  độ  fibrinogen  bắt  đầu  tăng  từ 

tuần  thứ  10  của  thai  kỳ(2).  Như  vậy  trong  quá 

trình mang thai khi tuổi thai càng lớn thì không 

chỉ tăng hoạt hóa đông máu ngoại sinh mà còn 

tăng hoạt hóa của cả đông máu nội sinh và con 

đường chung.  

Kết  quả  bảng  8  cho  thấy  số  lượng  thai  phụ 

có  PT%  và  nồng  độ  fibrinogen  cao  hơn  bình 

thường  tăng  dần  theo  tuổi  thai:  số  thai  phụ  có 

PT% cao ở quí 1, quí 2, quí 3 lần lượt là: 2, 6, 21; 

số  thai  phụ  có  nồng  độ  fibrinogen  cao  ở  quí  1, 

quí  2,  quí  3  lần  lượt  là:  104,  232,  474.  Tỉ  lệ  thai 

phụ có rAPTT rút ngắn nhiều nhất ở quí 3 thai 

kì so với 2 quí còn lại (10 thai phụ so với 2 thai 

phụ  quí  1  và  3  thai  phụ  quý  2).  Đây  là  những 

thai  phụ  cần  được  theo  dõi  và  nghiên  cứu  sâu 

hơn nữa để tìm hiểu sự thay đổi của các yếu tố 

đông máu trong quá trình mang thai. 

Như vậy, qua nghiên cứu xét nghiệm đông 

máu  cơ  bản,  đánh  giá  tỷ  lệ  của  các  xét  nghiệm 

này  trên  toàn  thai  kỳ  cũng  như  từng  quý  với 

nhau, chúng tôi nhận thấy có một tỷ lệ nhất định 

sản  phụ  tăng  PT%,  giảm  rAPTT,  tăng  nồng  độ 

fibrinogen.  Tuổi  thai  càng  lớn  thì  tỉ  lệ  các  thai 

phụ có các xét nghiện PT% tăng, rAPTT giảm và 

nồng độ fibrinogen tăng càng nhiều.  

KẾT LUẬN 

Qua nghiên cứu chỉ số xét nghiệm đông máu 

cơ bản ở 2700 thai phụ tại bệnh viện phụ sản Hà 

Nội  từ  tháng  5/2012  đến  tháng  12/2012,  chúng 

tôi có một số kết luận sau: 

‐  Trong  quá  trình  mang  thai,  đặc  biệt  quí  2 

và quí 3 thai kì có hiện tượng thay đổi hoạt tính  đông máu: 

Quí  1  mang  thai:  PT%,  rAPTT,  nồng  độ  fibrinogen trung bình là: 101,39%; 0,97; 3,31 g/l . 

Có  11,56%  thai  phụ  có  nồng  độ  fibrinogen  >  4 

g/l. 

Quí  2  mang  thai:  PT%,  rAPTT,  nồng  độ  fibrinogen  trung  bình  là:  108,94  %;  0,96;  3,7  g/l. 

Có  0,67%  thai  phụ  PT%  trên  140%;  25,78%  thai  phụ nồng độ fibrinogen > 4g/l. 

Quí  3  mang  thai:  PT%,  rAPTT,  nồng  độ  fibrinogen trung bình là: 112,03 %; 0,94; 4,02 g/l. 

Có 2,33 % thai phụ PT% trên 140%; 52,67 % thai  phụ nồng độ fibrinogen trên 4g/l. 

‐  Có  mối  liên  quan  giữa  thay  đổi  chỉ  số  xét  nghiệm đông máu cơ bản với tuổi thai:  

Tuổi  thai  càng  lớn  thì  PT%  và  nồng  độ  fibrinogen càng tăng. 

rAPTT rút ngắn nhất ở quí 3 thai kỳ.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Barta A (2010), “Obstetric Coding in ICD‐10‐CM/PCS”, Journal 

of AHIMA, 81.6, pp. 68‐70.  

2 Cerneca  F  (1997),  ʺCoagulation  and  fibrinolysis  changes  in 

normal  pregnancyʺ,  European  Journal  of  Obstetrics  and 

Gynecology, volum 73, Issue 1, pp. 31‐36. 

3 Đoàn Thị Bé Hùng (2007), ʺTỷ lệ và nguyên nhân các rối loạn  đông  máu  thường  gặp  trong  sản  khoa  tại  Bệnh  viện  Hùng 

Vươngʺ, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y dược Thành 

phố Hồ Chí Minh. 

4 Dương  Thị  Cương  (2007),  “Thay  đổi  giải  phẫu  và  sinh  lý  ở 

người phụ nữ có thai”, Bài giảng Sản phụ khoa, tập  I,  Nhà  xuất 

bản Y học, tr. 46 – 48. 

5 Hoàng Hương Huyền (2010), ʺNghiên cứu tình trạng đông cầm 

máu  ở  phụ  nữ  có  thai  3  tháng  cuốiʺ,  Luận  văn  thạc  sĩ  y  học, 

trường Đại học Y Hà Nội. 

6 Liu  XH,  Jiang  YM,  Shi  H,  Yue  XA  (2009),  ʺProspective,  sequential,  longitudinal  study  of  coagulation  changes  during 

pregnancy in Chinese womenʺ, Gynaecol Obstet, 105(3), pp. 240‐

3. 

7 Nguyễn Ngọc Minh (2007), ʺThay đổi sinh lý về các chỉ số cầm 

máu  ‐  đông  máuʺ,  Bài giảng huyết học ‐ truyền máu sau đại học, 

Nhà xuất bản y học Hà Nội, tr. 65‐70. 

8 Nguyễn  Thị  Nữ  (2006),  “Tăng  đông  và  huyết  khối”,  Bài giảng 

huyết học ‐ truyền máu sau đại học, Nhà xuất bản y học Hà Nội, tr. 

262 – 269. 

9 Phan Thị Minh Ngọc cùng cộng sự (2011), ʺMột số đặc điểm xét  nghiệm đông cầm máu ở phụ nữ mang thai ba tháng đầu tại Hà 

Nộiʺ. Tạp chí y học thực hành (774), số 7, tr. 152‐154. 

Trang 7

10 Thornton P, Douglas J (2009), ʺCoagulation in pregnancyʺ, Best 

Practice,  Research  Clinical  Obstetrics  and  Gynaecology,  67(2),  pp. 

339‐352. 

11 Uchikova  EH.,  Ledfev  LL  (2005),ʺChanges  in  haemostatis 

during  normal  pregnancy”,  European  Journal  of  Obstetrics  and 

Gynecology, 119 (2), pp. 185‐188.  

 

 

Ngày nhận bài báo:      12 tháng 9 năm 2013 

Ngày bài báo được đăng:   22 tháng 10 năm 2013 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 06:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w