Từ năm 1997, một nghiên cứu dịch tễ học can thiệp được thực hiện tại xã Phan Tiến, thuộc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận, đây là một xã miền núi với cộng đồng người dân tộc ít người. Nghiên cứu nhằm đánh giá tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột (KSTĐR) trên trẻ em tại cộng đồng và áp dụng các biện pháp điều trị toàn dân, phổ biến kiến thức y tế, xây dựng các công trình công cộng: giếng nước, nhà vệ sinh... để kiểm soát bệnh.
Trang 1Chuyên đề ký sinh trùng 15
KIỂM SOÁT NHIỄM KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG RUỘT Ở TRẺ EM
DƯỚI 15 TUỔI TẠI MỘT XÃ DÂN TỘC MIỀN NÚI TỈNH BÌNH THUẬN, MIỀN NAM VIỆT NAM
Lê Quốc Hùng*, Trần Quang Bính*, Hà Mai Dung *, Trần Thị Thanh Nga*, Phan Trọng Giáo*, Nguyễn Văn
Năm**, Peter J De Vries***, Piet A Kager***
Tóm tắt
Từ năm 1997, một nghiên cứu dịch tễ học can thiệp được thực hiện tại xã Phan Tiến, thuộc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận, đây là một xã miền núi với cộng đồng người dân tộc ít người Nghiên cứu nhằm đánh giá tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột (KSTĐR) trên trẻ em tại cộng đồng và áp dụng các biện pháp điều trị toàn dân, phổ biến kiến thức y tế, xây dựng các công trình công cộng: giếng nước, nhà vệ sinh để kiểm soát bệnh
Phương pháp: Nghiên cứu điều tra cắt ngang, có can thiệp với những đợt xét nghiệm phân tìm KSTĐR được thực hiện đều đặn mỗi năm từ năm 1997 đến năm 1999 Kết quả: Tháng 4/1997 trong đợt điều tra đầu
tiên trong tổng số 230 mẫu phân xét nghiệm có 65 trẻ em (28.3%) nhiễm KSTĐR gồm 4 loại: giun móc 22.61%, giun đũa 0.4%, giun kim 0.8%, giun tóc 2.2% và sán dải lùn 2.2% Không có trường hợp nào nhiễm giun lươn được phát hiện trong đợt điều tra này Sau 4 lần thực hiện điều trị toàn dân với albendazol và 1 lần với praziquantel tỷ lệ nhiễm KSTĐR giảm mạnh, cho tới năm 1999 tỷ lệ nhiễm trong trẻ em còn 5,1% (p<0.001) với giun móc chiếm 1,9%, giun đũa 0,6%, giun kim 0%, giun tóc 1,3% và sán dải lùn 1,3%
Kết luận: Nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở trẻ em tại Phan Tiến có tỷ lệ khá cao trong đó nhiễm giun
móc chiếm đa số Bệnh đã được kiểm soát tốt bằng kết hợp các biện pháp điều trị toàn dân và tuyên truyền giáo dục kiến thức y tế Tuy nhiên mối liên quan giữa nhiễm KSTĐR với tình trạng thiếu máu và sự tăng trưởng và sự phát triển của trẻ em cần phải được tiếp tục theo dõi và phân tích trong những nghiên cứu khác
ABSTRACT
INTESTINAL PARASITE INFESTATION IN CHILDREN UNDER 15 YEARS OLD IN AN ETHNIC
MINORITY COMMUNE IN BINH THUAN PROVINCE, SOUTH OF VIETNAM
Le Quoc Hung, Tran Quang Binh, Ha Mai Dung, Tran Thi Thanh Nga, Phan Trong Giao,
Nguyen Van Nam, Peter J De Vries, Piet A Kager
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Special issue of Parasitology - Vol 5 - Supplement of No 1 - 2001: 15 - 20
An intervening study was carried out since 1997 in Phan Tien village, BacBinh district, Binh Thuan province; This is a mountainous area where is the living of an ethnic minority The rate of intestinal parasite infestation in children under 15 years old was evaluated in this study and the measures including: anthelminthic mass treatment, health education, establishing of water wells and toilets were applied to control and reduce the disease
Methods: The annual cross sectional surveys with interventions were performed regularly since 1997 to
1999 All children under 15 years old were recruited into this study without exclusion criteria Stool samples from these children were collected for intestinal parasite examination The data were collected and analyzed
by using the SPSS software (version 10.5)
* Bệnh Viện Chợ Rẫy
** Trung Tâm Phòng Chống Sốt Rét Tỉnh Bình Thuận
*** AMC, Đại Học Amsterdam, Hà Lan
Trang 2Results: In the first survey in April 1997, the infestation rate was 28.3% (65 of 230 stool samples) in
which the rate of hookworm was 22.6%; followed by Trichuris trichiura 2.2%, Hymenolepis nana 2.2%, Enterobius vermicularis 0.8%, and Ascaris lumbricoides 0.4% Strongyloides stercoralis was not revealed in this study Albendazole, an anthelminthic drug was given in 4 mass treatments and praziquantel was also given in the last treatment for Hymenolepis nana infection cases, there was a rapid reduction of the parasite infestation rate with anthelminthic drugs The infestation rate in the last survey in 1999 was 5.1%, reduced significantly to compare with that in 1997, in which the rate of hookworm was 1.9%, Ascaris lumbricoides 0,6% Enterobius vermicularis 0% Trichuris trichiura 1,3% and Hymenolepis nana 1.3%
Conclusion: The results of this study showed that there was the high rate of intestinal parasite infection in
PhanTien’s children, especially with hookworm infection The disease could be well controlled with the combining with anthelminthic mass treatment, health education and supplying the living facilities The relationship between intestinal parasite infection and anemia, the children’s growth and the development of should be continued follow up and analyzed in further studies
GIỚI THIỆU
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là một bệnh
phổ biến tại nước ta, đặc biệt tại những nơi điều
kiện sống, vệ sinh môi trường và trình độ hiểu biết
về y tế của dân cư thấp kém Nhiễm KSTĐR có thể
gây ra nhiều biến chứng, ảnh hưởng đến sức khỏe
của người dân, làm giảm sự phát triển của trẻ
em(1,2,9) và còn có thể gây ra những biến chứng
nghiêm trọng dẫn đến tử vong(5,9) Tuy vậy bệnh có
tính chất mãn tính, triệu chứng không rầm rộ và
không đặc hiệu, người bệnh thường ít quan tâm
điều trị Mặt khác đây nhiễm KSTĐR thường gặp
tại những nước đang phát triển nơi còn có rất nhiều
loại bệnh truyền nhiễm khác cần kiểm soát, giải
quyết cấp bách như sốt rét, sốt xuất huyết, lao …vv
do vậy tình hình nhiễm KSTĐR trong cộng đồng
chưa được quan tâm khảo sát đầy đủ (1)
Trong khuôân khổ hợp tác nghiên cứu Y tế giữa
bệnh viện Chợ Rẫy, Đại học Amsterdam-Hà Lan,
Trạm phòng chống sốt rét - bướu cổ tỉnh Bình
Thuận, một nghiên cứu khảo sát và can thiệp điều
trị bệnh nhiễm KSTĐR khởi đầu năm 1997 tại xã
Phan Tiến huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận Đây
là một trong những bước can thiệp y tế nhằm mục
tiêu nâng cao sức khỏe cho một cộng đồng người
dân tộc thiểu số miền núi
PHƯƠNG PHÁP
Dân số và vùng nghiên cứu
Phan Tiến là một xã nằm sâu trong vùng rừng
núi thuộc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận gồm
cộng đồng dân tộc ít người gồm dân tộc Nùng, Tà Lớp, Rắc Lây, K Ho, Nộp Tổng số dân khi mới thành lập xã là 716 người cho đến năm 1999 tổng số dân tăng lên 1023 người trong đó trẻ em dưới 15 tuổi chiếm khoảng 50% tổng dân số Tuy nhiên số lượng người thực tế thường xuyên sinh hoạt trong xã vào khoảng 600 - 700 người Làm việc trong rừng dài ngày và đi học nội trú tại trường phổ thông cấp II Chợ Lầu (trung tâm huyện Bắc Bình) là những nguyên nhân chính của số người vắng mặt tại xã Đất đỏ pha nhiều cát là thuộc tính địa chất của Phan Tiến
Phần lớn người dân sống bằng nghề nông và khai thác lâm sản nhỏ, cuộc sống phụ thuộc nhiều vào sự cung cấp lương thực thực phẩm theo chính sách ưu đãi đặc biệt của nhà nước đối với dân tộc ít người Trước năm 1996 Phan Tiến không có nguồn nước sạch, không có nhà vệ sinh Nguồn nước chính là con suối nhỏ bao quanh xã, vào mùa khô nước suối cạn và trở nên rất đục Người và gia súc đều tập trung tắm, lấy nước sinh hoạt ở một trong hai bãi dọc theo con suối Chất thải của người và gia súc, gia cầm rải rác khắp nơi trong làng, bìa rừng và dọc theo con suối Người dân Phan Tiến, nhất là trẻ em, thường không đi giày dép Trẻ em nhỏ không mặc quần áo, chơi lê la dưới đất và hoàn toàn không có ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân Nhìn chung vệ sinh môi trường và sinh hoạt vô cùng thấp kém Như nhiều nơi khác chưa có cuộc điều tra y tế nào về tỷ lệ nhiễm KSTĐR của dân Phan Tiến trước năm 1997
Phương pháp nghiên cứu
Trang 3Đây là nghiên cứu can thiệp với những đợt điều
tra cắt ngang hằng năm, xét nghiệm tìm KSTĐR
trong phân
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Toàn bộ trẻ em trong nhóm tuổi từ 1 đến 15
tuổi được chọn vào nghiên cứu Không có tiêu
chuẩn loại trừ trong nhóm tuổi này
Các biện pháp can thiệp
Can thiệp y tế
Từ năm 1996 các giếng nước đầu tiên được xây
dựng tại Phan Tiến, cho đến năm 1998 toàn xã đã
có 6 giếng được phân bố theo cụm dân cư đảm bảo
cung cấp đủ nước sạch cho người dân Trong năm
1997 hệ thống nhà vệ sinh tự hoại, nhà tắm được
xây dựng tại trạm y tế, trường học và Ủy Ban Nhân
Dân Xã với mục đích làm mô hình học tập cho các
hộ gia đình trong xã
Tháng 4/1997 đợt điều tra KSTĐR đầu tiên
được thực hiện với đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên có
nhiều kinh nghiệm của khoa Vi Sinh – Bệnh viện
Chợ Rẫy Sau đó các đợt điều tra tương tự (với
cùng một nhóm xét nghiệm) được lập lại hằng năm
Các mẫu phân được xét nghiệm ngay sau khi thu
thập với phương pháp làm phong phú và soi tươi
trực tiếp Trong đợt điều tra tháng 4/1997 tất cả các
mẫu phân được cấy trong môi trường agar nhằm
xác định nhiễm giun luơn Tất cả các trường hợp
nhiễm KSTĐR được ghi nhận với ID code, xác
định gia đình có người nhiễm KSTĐR và cụm gia
đình có tỷ lệ nhiễm cao
Điều trị toàn dân với albendazole (400mg uống
một lần) được thực hiện từ sau đợt điều tra tháng
11/1997 và duy trì mỗi 6 tháng Đến năm 1999
praziquantel (liều 50mg/kg uống) được dùng điều
trị cho tất cả các trường hợp nhiễm sán dải lùn
Hymenolepis nana Cấp giày dép cho toàn bộ dân
trong xã được thực hiện từ năm 1998
Tuyên truyền giáo dục
Tuyên truyền giáo dục kiến thức bảo vệ sức khỏe, giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm, phòng chống bệnh tật cho người dân được đẩy mạnh Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, loại bỏ những thói quen không hợp vệ sinh, đi dép, dùng nước giếng luôn được các ban ngành đoàn thể thúc đẩy hỗ trợ
Thu thập và phân tích số liệu
Số liệu trong các đợt khảo sát được nhập vào máy vi tính và phân tích với chương trình SPSS (SPSS version 10.05 Inc., Chicago)
KẾT QUẢ
Kết quả xét nghiệm phân tìm KSTĐR trong 4 đợt điều tra liên tục từ 1997 đến 1999 (với 4 lần điều trị toàn dân khởi đầu từ sau đợt điều tra tháng 11/1997) được trình bày bằng tỷ lệ phần trăm ở bảng dưới đây:
Đợt điều tra 04/1997 11/1997 1998 1999
P*ê
Số dương tính/
tổng số mẫu phân xét nghiệm
65 / 230 74 / 267 20/242 8/156
Tỷ lệ % Nhiễm KSTĐR 28,3 27,8 8,3 5,2 p<0,001 Giun móc 22,6 23,2 2,1 1,9 p<0,001
Giun đũa 0,4 0 0 0,6 p = 0,7 Giun tóc 2,2 0,4 0,4 1,3 p = 0,5 Giun kim 0,8 0,7 0,4 0 p = 0,2
Sán dải lùn 2,2 3,4 5,4 1,3 p = 0,5
* Chi-square test
So sánh kết quả của 2 đợt điều tra tháng 4/1997 và tháng 11/1997 cho thấy không có sự khác biệt nào (p = 0.9) Tuy nhiên nếu so sánh tỷ lệ nhiễm KSTĐR giữa đợt điều tra tháng 4/1997 với các năm
1998 và 1999 cho thấy rõ sau khi có can thiệp y tế tỷ lệ nhiễm giảm có ý nghĩa thống kê (p<0.001)
Trang 4Chuyên đề ký sinh trùng 19
BÀN LUẬN
Trong điều kiên nguồn nước, vệ sinh môi
trường thấp kém cùng những thói quen sinh hoạt
không hợp vệ sinh như tại Phan Tiến, việc nhiễm
KSTĐR với một tỷ lệ cao là khó tránh(4) Những số
liệu trên đây cho thấy không có sự khác biệt nào về
tỷ lệ nhiễm qua 2 đợt điều tra trong năm 1997 (đợt
một thực hiện ở thời điểm cuối mùa khô và đợt hai
ở cuối mùa mưa) chứng minh rằng tình trạng nhiễm
KSTĐR luôn duy trì nếu không có một can thiệp
tích cực Kết quả này cho phép nhận định tình hình
nhiễm KSTĐR tại Phan Tiến ở mức độ tương tự
trong những năm trước đó
Với điều kiện địa chất và thói quen như đi chân đất, phóng uế bừa bãi, trẻ em không mặc quần áo và không biết cách giữ gìn vệ sinh cá nhân … là những lý do giải thích cho tình trạng nhiễm giun móc chiếm đa số tại trẻ em Phan Tiến Ngược lại, những loại giun khác như giun đũa, giun kim… chiếm một tỷ lệ rất nhỏ có thể do người dân tại đây không có thói quen ăn rau sống, không sử dụng phân hữu cơ để bón cây trồng
Từ sau 11/1997 việc điều trị toàn dân với albendazol kết hợp với xây dựng nguồn nước sạch, phổ biến kiến thức y tế đã làm giảm tình trạng nhiễm KSTĐR một cách ngoạn mục Albendazol là một loại thuốc kháng giun rất có hiệu lực trong
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Giun móc1 Giun đũa Giun tóc Giun kim Sán dải lùn
Hình 2: Tỷ lệ các loại giun được phát hiện trong bốn đợt điều tra ký sinh trùng đường ruột tại Phan Tiến (từ tháng 4/1997 đến tháng 12/1999)
5.2 8.3
27.8 28.3
0
5
10
15
20
25
30
Năm
Albendaz ole
Praziquantel
Hình 1: Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở trẻ em xã Phan Tiến (từ tháng 4/1997 đến tháng 12/1999)
Trang 5điều trị giun móc, liều dùng đơn giản có thể kiểm
soát (400mg uống một lần duy nhất) (6,7,10), là loại
thuốc được lựa chọn để điều trị tại xã Phan Tiến
sau khi xác định được tỷ lệ nhiễm tại đây Với lý do
tương tự praziquantel được chọn để điều trị sán dải
lùn Kết quả sau 2 năm can thiệp điều trị cho thấy
sự lựa chọn của chúng tôi là phù hợp
Việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức y tế là
một vấn đề rất quan trọng(8) Nếu người dân không
hiểu biết đầy đủ, họ sẽ không quan tâm cộng tác
thực hiện và như vậy nghiên cứu rất khó đạt được
kết quả khả quan đặc biệt đối với bệnh lý nhiễm
trùng như nhiễm KSTĐR Với sự hiểu biết được
nâng cao người dân có thể biết cách phòng bệnh và
xử trí khi mắc bệnh Để thay đổi thói quen của một
cộng đồng dân cư, xây dựng nếp sống mới văn
minh lành mạnh không thể thực hiện được trong
một thời gian ngắn và phải phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác có liên quan Tại Phan Tiến mô hình
hệ thống giếng nước, nhà vệ sinh(3,4) và nhất là giáo
dục kiến thức y tế được thực hiện đều đặn và tích
cực chúng tôi cho rằng việc tự giác phòng chống và
điều trị bệnh của người dân có thể đạt được trong
tương lai không xa
Nghiên cứu này chỉ giới hạn khảo sát về tình
hình nhiễm giun tròn và sán, các loại ký sinh trùng
đường ruột khác như nhóm đơn bào chưa thực hiện
được Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng
nhiễm giun móc là chủ yếu, việc phân tích mối
quan hệ giữa tình trạng nhiễm KSTĐR (giun móc)
với tình trạng thiếu máu và các bệnh lý khác (sốt
rét) hay sự phát triển của trẻ em là cần thiết (1,2,9)
KẾT LUẬN
Bệnh nhiễm ký sinh trùng đường ruột có tỷ lệ
cao ở trẻ em của một xã dân tộc miền núi trong đó
đa số nhiễm giun móc Với biện pháp điều trị toàn
dân và giáo dục kiến thức y tế, xây dựng các công
trình công cộng: nhà vệ sinh và giếng nước đã đưa
tình trạng nhiễm KSTĐR giảm một cách đáng kể
Tuy nhiên việc khảo sát toàn diện và phân tích mối quan hệ giữa nhiễm ký sinh trùng đường ruột và các bệnh lý khác cần phải được thực hiện Với những vùng dân cư có cùng đặc điểm như xã Phan Tiến việc áp dụng những biện pháp can thiệp kể trên sẽ mang lại hiệu quả trong kiểm soát nhiễm KSTĐR
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 OBERHELMAN-RA; GUERRERO-ES; FERNANDEZ-ML; SILIO-M; MERCADO-D; COMISKEY-N; IHENACHO-G; MERA-R Correlations between intestinal parasitosis, physical growth, and psychomotor development among infants and children from rural Nicaragua Am-J-Trop-Med-Hyg 1998 Apr; 58(4): 470-5
2 AWASTHI-S; PANDE-VK Prevalence of malnutrition and intestinal parasites in preschool slum children in Lucknow Indian-Pediatr 1997 Jul; 34(7): 599-605
KHALIL-A Ecological determinants of intestinal parasitic infections among pre-school children in an urban squatter settlement of Egypt J-Trop-Pediatr 1997 Dec; 43(6): 341-4
4 AGI-PI Comparative helminth infections of man in two rural communities of the Niger Delta, Nigeria West-Afr-J-Med 1997 Oct-Dec; 16(4): 232-6
5 SAIDI-SM; IIJIMA-Y; SANG-WK; MWANGUDZA-AK;
YAMAMOTO-H; WAIYAKI-PG; HONDA-T Epidemiological study on infectious diarrheal diseases in children in a coastal rural area of Kenya Microbiol-Immunol 1997; 41(10): 773-8
6 REYNOLDSON-JA; BEHNKE-JM; PALLANT-LJ; MACNISH-MG; GILBERT-F; GILES-S; SPARGO-RJ; THOMPSON-RC Failure of pyrantel in treatment of human hookworm infections (Ancylostoma duodenale) in the Kimberley region of north west Australia Acta-Trop 1997 Dec; 68(3): 301-12
NONTASUT-P; WAIKAGUL-J Effect of albendazole and mebendazole on soil-transmitted helminth eggs Southeast-Asian-J-Trop-Med-Public-Health 1997 Jun; 28(2): 321-5
RAMIREZ-C; ACUNA-M; MARIN-F Infection by intestinal protozoa and helminths in schoolchildren from riverside sectors, with different fecal contamination levels, of Valdivia River, Chile Bol-Chil-Parasitol 1997 Jan-Jun; 52(1-2): 3-11
9 FRASER-J Evaluation of a child health program to prevent and treat anaemia in Arnhemland Aust-J-Rural-Health 1996 Feb; 4(1): 11-7
10 REPORT OF THE WHO informal consultation on the use of chemotherapy for the control of morbidity due to soill transmitted nematodes in humans WHO- Geneva 29April to 1 May 1996