1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những rào cản trong áp dụng hướng dẫn sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân ngoại khoa tại Bệnh viện Chợ Rẫy

6 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 415,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng kháng sinh và những yêu tố gây cản trở việc thực hành hướng dẫn sử dụng kháng sinh của các BS ngoại khoa. Nghiên cứu được tiến hành vào 1/2010 ở bệnh viện Chợ Rẫy. Thông tin thu thập bằng phiếu thăm dò gởi tới từng bác sĩ ngoại.

Trang 1

NHỮNG RÀO CẢN TRONG ÁP DỤNG HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN NGOẠI KHOA TẠI BV CHỢ RẪY

Lê Thị Anh Thư*, Đặng Thị Vân Trang*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tìm hiểu những rào cản trong việc sử dụng kháng sinh hợp lý là cần thiết để ứng dụng vào

công tác quản lý việc sử dụng kháng sinh

Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng kháng sinh và những yêu tố gây cản trở việc

thực hành hướng dẫn sử dụng kháng sinh của các BS ngoại khoa

Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Cắt ngang mô tả được tiến hành vào 1/2010 ở bệnh viện Chợ

Rẫy Thông tin thu thập bằng phiếu thăm dò gởi tới từng bác sĩ ngoại

Kết quả: Có 183 bác sĩ ngoại khoa đã trả lời thăm dò, giới nam chiếm 82,5%, nữ chiếm 17,5%, số năm kinh

nghiệm trung bình là 9,3 năm 83,6% bác sĩ ngoại trả lời đúng các yếu tố quyết định loại kháng sinh được sử dụng, nguyên tắc sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật 80,3% định nghĩa đúng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật, nhưng chỉ 58,3% bác sĩ trả lời đúng chỉ định kháng sinh dự phòng và 45,9% chọn đúng kháng sinh trong trường hợp vi khuẩn đa kháng 14,8% bác sĩ cho rằng trong tất cả các trường hợp, việc chỉ định kháng sinh nhiều ngày sau phẫu thuật là cần thiết 14,2% cho rằng kháng sinh kéo dài sau mổ sẽ rút ngắn thời gian nằm viện cho bệnh nhân sau phẫu thuật, 12,6% cho rằng phải sử dụng phối hợp ít nhất 2 loại kháng sinh cho mọi loại phẫu thuật 9,8% bác sĩ cho rằng dùng kháng sinh dự phòng cho phẫu thuật sạch và sạch nhiễm là không thể trong điều kiện hiện nay Liên quan đến thực hành sử dụng kháng sinh, 13,2% bác sĩ hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng kháng sinh dự phòng cho các phẫu thuật sạch; 80% bác sĩ ngoại cho bệnh nhân sử dụng KS kéo dài 2-7 ngày sau phẫu thuật cho các phẫu thuật sạch; 82% bác sĩ cho chỉ định cấy vi sinh khi nghi ngờ nhiễm khuẩn vết mổ và dùng kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ Qua phân tích đa biến, số năm kinh nghiệm không có ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, hành vi; và có mối liên quan có ý nghĩa giữa kiến thức, thái độ và hành vi của các bác sĩ Nghiên cứu còn cho thấy các yếu tố cản trở việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật và kéo dài kháng sinh sau phẫu thuật là môi trường phòng mổ kém (37,2%), bệnh nhân quá tải (31,7%), chăm sóc sau mổ kém (29,0%) và thói quen (12%)

Kết luận: Để thực hiện chương trình kiểm soát việc sử dụng kháng sinh trong ngoại khoa được hiệu quả

hơn, cần chú ý đến việc đào tạo, cải thiện môi trường phòng mổ, cải thiện tình trạng chăm sóc bệnh nhân

Từ khóa: Kiến thức, thái độ, hành vi, kháng sinh, bác sĩ, ngoại khoa

ABSTRACT

BARRIERS IN COMPLIANCE TO ANTIBIOTIC USE GUIDELINES AT CHORAY HOSPITAL IN

SURGICAL PATIENTS

Le Thi Anh Thu, Dang Thi Van Trang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 – 2011: 38 - 43

Introduction: Determining the barriers in compliance to antibiotic use guidelines is important to conduct

the antibiotic stewardship program

Objective: To measure knowledge, attitude, practice and barriers on antibiotic utility of surgeons in Cho

Ray hospital

* Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, Bệnh viện Chợ Rẫy;

Trang 2

Subject and Method: A cross-sectional study was conducted on all surgeons of Cho Ray hospital in

January 2010 Data was collected using self-administrated questionnaires

Results: There were 183 surgeons who answered the questionnaires, in which approximately 82.5% and

17.5% were male and female, respectively The average year of experience was 9.3 There were 83.6% surgeons had right answers on determinants of using types of antibiotic, principles of using antibiotic at surgery; 80.3% of surgeons answered right definition of prophylaxis antibiotic; but only 58.3% of surgeons knew the right time to use prophylaxis antibiotic and 45.9% knew how to select antibiotic in case of multi-drug resistant bacteria There were 14.8% of surgeons thought that it was essential to extend antibiotic use after surgery, 14.2% thought that antibiotic use extension would reduce the length of hospitalization after surgery; 12.6% thought that at least two types of antibiotic should be combined in any types of surgery, 9.8% thought that use of prophylaxis antibiotic in clean and clean-contaminated surgery were impossible in current situation There were 12% of surgeons who seldom or never used prophylaxis antibiotic in clean surgery There were approximately 80% of surgeons prescribed 2-7 days of antibiotic after clean surgery, 82% assigned bacterial cultures in case of SSI and used antibiotic based on antibiogrammes Multivariate analysis showed that experience years were not associated with knowledge, attitude and practice of surgeons; and there was a significant association between knowledge and attitude with practice of surgeons Bad environment of operating-theatre (37.2%), overload of patients (31.7%), bad care of post operation (29.0%) and bad habits (12%) were the main reasons not to use prophylaxis antibiotic and prolong the use of antibiotic

Conclusion: In order to obtain more efficient in the antibiotic stewardship program, providing training and

improving environment of operating-theatre and patient care should be considered

Key words: Knowledge, attitude, practice, antibiotic, surgeon

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sử dụng kháng

sinh (KS) khộng phù hợp từ 15-25% ở các nước

đã phát triển và 75-85% ở các nước đang phát

triển(1,6,14) Sử dụng KS không hợp lý là một trong

những nguyên nhân quan trọng gây đề kháng

KS(4) Khởi đầu điều trị KS không thích hợp

được ghi nhận trong khoảng 1/3 bệnh nhân

shock nhiễm khuẩn do Gram âm ở một bệnh

viện đại học(13) Việc điều trị không thích hợp

này dẫn đến tăng tỉ lệ tử vong, kéo dài thời gian

nằm viện ít nhất 2 ngày

Quản lý sử dụng kháng sinh là yếu tố quan

trọng để phòng ngừa sự đề kháng KS Quản lý

tốt sử dụng KS bao gồm chọn loại KS phù hợp,

chọn liều dùng và thời gian dùng KS tối ưu để

điều trị nhiễm trùng, giảm được độc tính và đề

kháng KS(7) Những chương trình quản lý sử

dụng KS bao gồm huấn luyện về việc kê toa, hỏi

ý kiến chuyên khoa trước khi kê toa, tổ chức lại

việc kê toa, quay vòng KS, giám sát và phản hồi

cho thấy cải thiện được sự sử dụng KS hợp lý,

giúp tăng tỉ lệ khỏi bệnh, giảm thất bại trong điều trị, giảm chi phí điều trị(4, 5)

Tại Việt Nam, việc sử dụng KS không hợp lý

là một vấn đề thường được nhắc đến gần đây Theo báo cáo của Bộ Y tế trong Hội nghị Tổng kết công tác khám chữa bệnh năm 2008 và định hướng kế hoạch hoạt động 2009, còn nhiều đơn

vị, đặc biệt tuyến tỉnh, huyện chưa thực hiện tốt

sử dụng thuốc hợp lý, gây tăng chi phí không cần thiết, tăng tình trạng kháng thuốc Tổng số tiền mua thuốc năm 2008 là 7,6 nghìn tỷ đồng, trong đó tỷ lệ tiền KS trong tổng số tiền thuốc chiếm 32,7%(3) Trong tình hình bệnh lý nhiễm khuẩn chiếm một tỷ lệ cao, việc sử dụng KS để điều trị là điều tất yếu Tuy nhiên, làm thế nào là

sử dụng kháng sinh đúng, hợp lý thì còn nhiều điều cần tranh luận Theo báo cáo của Bộ y tế năm 2008, vẫn còn nhiều bệnh viện, đặc biệt bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, không sử dụng

KS hợp lý, dẫn tới không chỉ việc gia tăng chi phí không cần thiết mà còn gia tăng đề kháng

KS Theo nhiều nghiên cứu nhiều loại kháng sinh gần như đã bị kháng hoàn toàn Theo Cục

Trang 3

Quản lý Dược, Bộ Y tế, năm 2008 có hơn 2.000

báo cáo về phản ứng có hại của thuốc, trong đó

nhóm kháng sinh chiếm đến gần một nửa

Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, chưa có khảo sát

đầy đủ về việc sử dụng kháng sinh Theo kết

quả khảo sát năm 2009 tại các khoa ngoại, 41%

bệnh nhân được sử dụng KS trước mổ hơn 8 giờ

và 100% bệnh nhân được sử dụng kháng sinh

sau mổ Kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là

cephalosporins thế hệ ba và aminoglycosides

trong khi tác nhân gây bệnh đa số là gram âm và

đề kháng với các KS này(9) Bệnh viện đã đưa ra

các hướng dẫn sử dụng KS, tuy nhiên, việc tuân

thủ theo đúng hướng dẫn sử dụng KS vẫn còn

hạn chế Việc tìm hiểu những rào cản khiên cho

các BS không thể sử dụng kháng sinh không

đúng theo hướng dẫn là rất cần thiết để triển

khai có hiệu quả hơn chương trình quản lý KS

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát

Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái

độ, thực hành và những rào cản trong viêc sử

dụng kháng sinh trong ngoại khoa

Mục tiêu cụ thể

Xác định tỷ lệ bác sĩ ngoại khoa có kiến

thức, thái độ, thực hành đúng về sử dụng

kháng sinh

Xác định mối liên quan kiến thức, thái độ,

thực hành về sử dụng kháng sinh

Xác định các yếu tố cản trở việc sử dụng

kháng sinh hợp lý

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bác sĩ

ngoại khoa tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu

Tất cả bác sĩ ngoại khoa tại Bệnh viện Chợ Rẫy Nghiên cứu cắt ngang mô tả đã được tiến hành vào 1/2010

Thu thập số liệu

Thông tin thu thập bằng phiếu thăm dò gởi tới từng bác sĩ ngoại khoa

Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Stata 10.0 và phép kiểm

χ2 để so sánh các tỷ lệ

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Đặc tính mẫu nghiên cứu

Tổng số các bác sĩ (BS) ngoại khoa tham gia

là 183 Đặc điểm mẫu nghiên cứu như mô tả ở Bảng 1 Tuổi trung bình là 38,4 năm (ĐLC = 8,8;

từ 25 to 58), nhóm tuổi < 45 chiếm đa số (76%)

Đa số BS ngoại khoa là nam (82,5%), có thời gian kinh nghiệm trung bình 9,3 năm (ĐLC 8,3, từ 1 đến 30), đa số (56,3%) BS có trên 6 năm kinh nghiệm, 43,7% có dưới 6 năm và 37,2% có 6-15 năm kinh nghiệm

Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu*

lệ)

Nhóm tuổi

Nhóm theo năm kinh nghiệm

Giới

* Dữ liệu được trình bày ở dạng con số (tỉ lệ%), trừ Tuổi

và năm kinh nghiệm

Trang 4

Kiến thức về sử dụng kháng sinh

49 (26,8%) BS trả lời đúng cả 6 câu hỏi về sử

dụng KS 83,6% bác sĩ ngoại trả lời đúng các yếu

tố quyết định loại kháng sinh được sử dụng,

nguyên tắc sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân

phẫu thuật 80,3% định nghĩa đúng kháng sinh

dự phòng trong phẫu thuật, nhưng chỉ 58,3%

bác sĩ trả lời đúng chỉ định kháng sinh dự

phòng và 45,9% chọn đúng kháng sinh trong

trường hợp vi khuẩn đa kháng 14,8% bác sĩ cho

rằng trong tất cả các trường hợp, việc chỉ định

kháng sinh nhiều ngày sau phẫu thuật là cần

thiết 14,2% cho rằng kháng sinh kéo dài sau mổ

sẽ rút ngắn thời gian nằm viện cho bệnh nhân

sau phẫu thuật, 12,6% cho rằng phải sử dụng

phối hợp ít nhất 2 loại kháng sinh cho mọi loại

phẫu thuật 9,8% bác sĩ cho rằng dùng kháng

sinh dự phòng cho phẫu thuật sạch và sạch

nhiễm là không thể trong điều kiện hiện nay

(Bảng 2)

Bảng 2: Tỉ lệ trả lời đúng các câu hỏi theo hướng dẫn

sử dụng KS

Đúng Kiến thức

Biết các yếu tố quyết định loại kháng

sinh được sử dụng

Biết nguyên tắc sử dụng kháng sinh

trên bệnh nhân phẫu thuật

Biết chọn kháng sinh trong trường

hợp vi khuẩn đa kháng ESBL (+)

Biết định nghĩa kháng sinh dự phòng

trong phẫu thuật

Biết phương pháp dùng kháng sinh

dự phòng

Kiến thức đúng (biết tất cả các nội

dung trên)

Thái độ về sử dụng kháng sinh

Tỷ lệ bác sĩ ngoại khoa có thái độ chung

đúng về sử dụng KS là 67,2% Trong đó, đa số

bác sĩ đều đồng ý KS dự phòng là có thể áp

dụng và trong tất cả trường hợp, không cần

phải sử dụng KS kéo dài sau mổ vì KS không có

tác dụng rút ngắn thời gian nằm viện (Bảng 3)

Bảng 3: Tỉ lệ BS có thái độ đúng đối với hướng dẫn

sử dụng KS

Đúng Thái độ

Tần số Tỉ lệ

Không cần thiết chỉ định kháng sinh nhiều ngày sau phẫu thuật trong tất

cả trường hợp

Không cần thiết sử dụng phối hợp ít nhất hai loại kháng sinh cho mọi loại

phẫu thuật

Đồng ý kháng sinh kéo dài sau mổ không rút ngắn thời gian nằm viện

Đồng ý dùng kháng sinh dự phòng cho phẫu thuật sạch và sạch nhiễm

là có thể trong điều kiện hiện nay

Cần thiết cấy mủ, dịch khi nghi ngờ

có nhiễm khuẩn vết mổ

Cần thiết xem kháng sinh đồ để điều chỉnh việc sử dụng kháng sinh

Thái độ đúng (đồng ý tất cả các nội

dung trên)

Thực hành sử dụng kháng sinh

Có 16,4% BS thực hành đúng các nội dung liên quan sử dụng KS Trong đó, tỉ lệ BS sử dụng KS kéo dài sau phẫu thuật vẫn còn cao 13,2% bác sĩ hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng kháng sinh dự phòng cho các phẫu thuật sạch; 80% BS ngoại cho bệnh nhân sử dụng KS kéo dài 2-7 ngày sau phẫu thuật cho các phẫu thuật sạch; 82% bác sĩ cho chỉ định cấy vi sinh khi nghi ngờ nhiễm khuẩn vết mổ và dùng kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ

Bảng 4: Tỉ lệ BS có thực hành đúng theo hướng dẫn

sử dụng KS

Đúng

Sử dụng kháng sinh dự phòng cho các phẫu thuật sạch

Không sử dụng kháng sinh kéo dài 2 – 7 ngày sau phẫu thuật

Cấy vi sinh khi nghi ngờ nhiễm khuẩn vết mổ

Dùng kháng sinh theo kết quả kháng

sinh đồ

Hành vi đúng (thực hành đúng tất cả

nội dung trên)

Mối liên quan kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng kháng sinh với các đặc điểm dân số

Qua phân tích đa biến:

Trang 5

- Năm kinh nghiệm không có ảnh hưởng

đến kiến thức, thái độ, hành vi

- Nam bác sĩ ngoại khoa có kiến thức và thái

độ tốt hơn nữ bác sĩ ngoại khoa

- Có mối liên quan có ý nghĩa giữa kiến

thức, thái độ và hành vi Kiến thức tốt dẫn tới

thái độ tốt ( p= 0,03) và thực hành tốt (p= 0,02)

Những yếu tố gây cản trở việc tuân thủ

hướng dẫn sử dụng kháng sinh

Các yếu tố cản trở việc sử dụng kháng sinh

dự phòng trong phẫu thuật và kéo dài kháng

sinh sau phẫu thuật là môi trường phòng mổ

kém (37,2%), bệnh nhân quá tải (31,7%), chăm

sóc sau mổ kém (29,0%) và thói quen (12%)

(Bảng 5)

Bảng 5: Các yếu tố gây cản trở việc tuân thủ hướng

dẫn sử dụng kháng sinh

Lý do Vấn đề

Tỉ lệ (%) Môi trường phòng mổ

kém

37,2

Chăm sóc sau mổ kém

29,0

Không sử dụng kháng sinh

dự phòng trong các phẫu

thuật sạch

Môi trường phòng mổ

kém

37,2

Chăm sóc sau mổ kém

28,8

Sử dụng kháng sinh kéo

dài 2 – 7 ngày sau phẫu

thuật

Không cấy vi sinh khi nghi

ngờ nhiễm khuẩn vết mổ

Đã dùng kháng sinh, cấy vô ích

10,4

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, đa số bác sĩ ngoại khoa là nam, có thời gian kinh nghiệm tương đối tốt (8,3 năm), điều này phù hợp với tình hình thực tế của bệnh viện tuyến cuối như Chợ Rẫy Nhóm bác sĩ ngoại khoa tuổi < 45 chiếm đa

số, khoảng 76%, đây là nhóm tuổi thuận lợi cho việc đào tạo, cập nhật kiến thức mới Trong các câu hỏi về kiến thức, câu hỏi nhiều bác sĩ trả lời sai nhất là chọn KS trong trường hợp vi khuẩn

đa kháng ESBL (+) Có thể do các BS chưa được phổ biến, cập nhật các kiến thức mới về vi sinh

Có khoảng cách giữa kiến thức, thái độ và hành vi của các bác sĩ ngoại khoa về sử dụng kháng sinh Kiến thức tốt sẽ dẫn tới thái độ và hành vi tốt Một nghiện cứu tổng kết các nghiên cứu đánh giá 39 chương trình quản lý sử dụng

KS đã được công bố cho thấy chương trình mang lại hiệu quả phải bao gồm nhiều yếu tố, phụ thuộc nhiều vào thực hành và những rào cản trong áp dụng hướng dẫn(2,12) Do đó, qua nghiên cứu này, rất quan trọng phải chú ý tăng cường các hoạt động đào tạo, đào tạo lại các kiến thức về sử dụng kháng sinh cho nhân viên

y tế

Môi trường là một yếu tố nguy cơ cho nhiễm khuẩn bệnh viện Các nghiên cứu cho thấy có mối tương quan giữa ô nhiễm môi trường và nhiễm khuẩn bệnh viện(10) Các bệnh viện ở nước ta đang phải đối đầu với một thực trạng bệnh nhân quá tải, cơ sở hạ tầng chưa đạt chuẩn yêu cầu để kiểm soát tốt nhiễm khuẩn Đây chính là một lý do khiến các BS lo ngại không thể sử dụng KS theo đúng hướng dẫn, chẳng hạn như việc dùng KS dự phòng và không tiếp tục sử dụng KS sau phẫu thuật rất ít được tuân thủ(11) Do đó, việc cải thiện môi trường cũng rất quan trọng để giảm thiểu những rào cản cho việc sử dụng KS hợp lý Riêng trong lãnh vực ngoại khoa, việc cải thiện môi trường phòng mổ, cải thiện việc chăm sóc

Trang 6

bệnh nhân phẫu thuật là rất cần thiết để các BS

tuân thủ theo đúng hướng dẫn sử dụng KS hơn,

giúp cho chương trình kiểm soát kháng sinh có

hiệu quả và mang tính lâu dài hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

use in Nigerian army hospitals Ann Afr Med 2010

Jul-Sep;9(3):152-8

prescribing practices in ambulatory care Cochrane Database

Syst Rev 2005 Oct 19;(4):CD003539

kháng sinh Báo cáo trong Hội nghị Tổng kết công tác khám

chữa bệnh năm 2008

Holmes A, Ramsay C, Taylor E, Wilcox M, Wiffen P (2005)

Interventions to improve antibiotic prescribing practices for

hospital inpatients.Cochrane Database Syst Rev 2005 Oct

19;(4):CD003543 Review

Control 2006 Jun;34(5 Suppl 1):S55-63; discussion S64-73

In't Veld D, Suwandojo E, Rahardjo E, van den Broek P, Gyssens

IC (2008); Antimicrobial Resistance in Indonesia: Prevalence and

Prevention Audit of antibiotic prescribing in two governmental

teaching hospitals in Indonesia Clin Microbiol Infect 2008

Jul;14(7):698-707

Wong SY, Goh LG (2008) Reducing antimicrobial resistance through appropriate antibiotic usage in Singapore Singapore Med J 2008 Oct;49(10):749-55

neglected healthcare crisis? Am J Health Syst Pharm 2007 Dec 1;64(23 Suppl 14):S3-21; quiz S22-4

Chi Mai, Vo Van Nho, Tran Nguyen Trinh Hanh, Ben Ewald, Michael Dibley (2006) Microbiology of surgical site infections and antimicrobial use in Vietnamese orthopedic and neurosurgery patients Journal of Infection Control and Hospital Epidemiology 2006 (27): 855-862

10 Lê Thị Anh Thư (2010) Đánh giá mối tương quan giữa Acinetobacter baumani trong môi trường phòng mổ và nhiễm khuẩn vết mổ Tạp chí Y học Thực hành 2010; 6 (723): 47 -51

11 Lê Thị Anh Thư (2010) Nguyễn Văn Khôi Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sạch và sạch nhiêm tại bệnh viện Chợ Rẫy Tạp chí Y học Thực hành 2010; 6 (723): 4-7

12 Ohl CA, Luther VP (2011) Antimicrobial stewardship for inpatient facilities J Hosp Med 2011 Jan;6 Suppl 1:S4-15 doi: 10.1002/jhm.881

13 Shorr AF, Micek ST, Welch EC, Doherty JA, Reichley RM, Kollef

MH (2010) Inappropriate antibiotic therapy in Gram-negative sepsis increases hospital length of stay Crit Care Med 2010 Sep

30

14 Willemsen I, van der Kooij T, van Benthem B, Wille J, Kluytmans

J (2010) Appropriateness of antimicrobial therapy: a multicentre prevalence survey in the Netherlands, 2008-2009 Euro Surveill

2010 Nov 18;15(46) pii: 19715

Ngày đăng: 21/01/2020, 05:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm