1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá biên độ điều tiết trên mắt cận thị

6 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 167,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá biên độ điều tiết (BĐĐT) trên mắt cận thị và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 80 bệnh nhân (BN) tuổi từ 6 - 39 (tuổi trung bình 14,58 ± 5,74), cận thị cả hai mắt (độ cận trên -0,50D) và thị lực sau chỉnh kính đạt ≥ 20/25.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ BIÊN ĐỘ ĐIỀU TIẾT TRÊN MẮT CẬN THỊ

Nguy n Th Thu Hi n*; Vũ Th Bích Ng c**; Nguy n Đình Ngân**

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá biên độ điều tiết (BĐĐT) trên mắt cận thị và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 80 bệnh nhân (BN) tuổi từ

6 - 39 (tuổi trung bình 14,58 ± 5,74), cận thị cả hai mắt (độ cận trên -0,50D) và thị lực sau chỉnh kính đạt ≥ 20/25 Kết quả: BĐĐT của từng mắt trung bình 12,41 ± 3,00D, BĐĐT của hai mắt trung bình 14,49 ± 2,94D BĐĐT hai mắt có tương quan chặt chẽ (r = 0,828) và luôn cao hơn BĐĐT từng mắt Tuổi có tương quan nghịch với BĐĐT Chưa thấy mối liên quan giữa tuổi khởi phát cận thị và BĐĐT Mức độ cận thị nhẹ có BĐĐT cao hơn so với mức độ cận thị trung bình

và nặng (p < 0,01) BĐĐT trung bình ở nhóm làm việc nhìn gần ≤ 8 giờ/ngày cao hơn so với nhóm làm việc nhìn gần > 8 giờ/ngày (p = 0,002) BĐĐT của nhóm chỉ đeo kính khi nhìn xa cao hơn so với nhóm đeo kính liên tục (p = 0,001) Kết luận: ở BN cận thị, BĐĐT hai mắt luôn cao hơn BĐĐT từng mắt, BĐĐT ở mắt cận thị nhẹ lớn hơn mắt cận thị trung bình và nặng Tuổi, độ cận, thời gian nhìn gần và thói quen đeo kính có ảnh hưởng đến BĐĐT trên mắt cận thị.

* Từ khóa: Cận thị; Biên độ cận thị.

Evaluate the Accommodative Amplitude in Myopia

Summary

Objectives: To assess the accommodative amplitude (AA) in myopia and to find factors related to the accommodative amplitude in myopia Subjects and methods: The cross-sectional descriptive study was performed on 80 myopia patients with the age from 6 to 39 years old (average 14.58 ± 5.74) All patients were myopia in both eyes and the best corrected visual acuity of each eye was over 20/25 Results: The average AA of each eye was 12.41 ± 3.00D and the average AA of both eyes was 14.49 ± 2.94D The AA of both eyes had the linear correlation with the AA of each eye with r = 0.828 The AA of both eyes was always higher than the AA of each eye The age factor had inverse correlation with the AA There was no relation between the age of myopia onset with the AA The AA of mild myopia was higher than the moderate and high myopia (p < 0.01) The AA of the group with near-working time shorter than

8 hours a day was higher than the AA of the group with near-working time longer than 8 hours a day (p = 0.002) The AA of the group wearing glasses for only distance was higher than the group wearing glasses for both distance and near (p = 0.001) Conclusion: The AA of both eyes

is always higher than the AA of each eye The AA of mild myopia was higher than the AA of moderate and high myopia Some factors related to the AA in myopia: the age, the myopia degree, the near-working time, the wearing glasses habit

* Key words: Myopia; Accommodative amplitude

* BÖnh viÖn M¾t Trung −¬ng

** BÖnh viÖn Qu©n y 103

Ngày nh n bài: 06/09/2016; Ngày ph n bi n đánh giá bài báo: 15/11/2016

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Điều tiết là một đáp ứng thị giác của

con mắt quan sát được khi nhìn gần Một

trong những chỉ số để đánh giá chức

năng điều tiết của mắt là BĐĐT - là đáp

ứng điều tiết tối đa và được xác định

bằng số điốp (D) thay đổi công suất thể

thủy tinh giúp cho mắt có thể nhìn rõ

được vật ở điểm gần nhất Đến nay có

nhiều phương pháp ước tính hoặc đo

trực tiếp BĐĐT, tuy nhiên nhóm phương

pháp push-up (tịnh tiến vật tiêu từ xa lại

gần) và pull-away (tịnh tiến vật tiêu từ gần

ra xa) sử dụng thước RAF (Royal Air Force)

thường được sử dụng [2, 3]

Mặc dù mối liên quan giữa nhìn gần -

điều tiết - cận thị đã được thiết lập từ lâu,

nhiều tài liệu nghiên cứu về cận thị hiện

nay đều khẳng định nhìn gần là một yếu

tố quan trọng gây cận thị và tiến triển

cận thị Trong y văn có rất nhiều nghiên

cứu tìm hiểu về sự thay đổi của BĐĐT

trên người cận thị, nhưng kết quả thu

được rất khác nhau và là vấn đề còn gây

nhiều tranh cãi Nghiên cứu của Jennifer

và CS (2003) chỉ ra, BĐĐT tăng có thể là

một yếu tố làm kéo dài trục nhãn cầu, bất

thường hoạt động tự chủ của cơ thể mi

tham gia vào phát triển và tiến triển của

cận thị [7] Một số yếu tố được cho là có

liên quan đến BĐĐT trên mắt cận thị như:

tuổi, tuổi khởi phát cận thị, công suất cận

thị, tiến triển của cận thị, thời gian nhìn

gần và thói quen đeo kính [1, 4]

Ở Việt Nam, hiện mới có nghiên cứu

của Trần Thị Tuyến (2015) đề cập đến

một trong những chỉ số đánh giá chức

năng của điều tiết là thuận năng điều tiết

trên mắt cận thị Bởi vậy, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài này nhằm: Khảo

sát BĐĐT trên mắt cận thị và tìm hiểu một

số yếu tố ảnh hưởng đến BĐĐT trên mắt cận thị

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn :

+ BN bị cận thị đơn thuần ở cả hai mắt + Tuổi từ 6 - 39

+ Công suất cận thị từ ≥ -0.50D

+ Thị lực nhìn xa sau khi chỉnh kính đạt ≥ 20/25

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ BN cận thị kèm loạn thị

+ BN cận thị kèm theo lác

+ BN phối hợp kém hoặc tinh thần không ổn định, BN mắc bệnh cấp tính + Những mắt có tổn thương thực thể phối hợp

2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang

- Hỏi tiền sử gồm tiền sử sức khoẻ nói chung, tiền sử xã hội, tiền sử chức năng, tiền sử bệnh mắt

- Đánh giá thị lực xa không kính hoặc với kính đang đeo bằng bảng Snellen

- Đo khúc xạ soi bóng đồng tử (liệt điều tiết bằng atropin 0,5% hoặc cyclogyl 1%)

- Thử kính cầu tối ưu đạt thị lực ≥ 20/25

- Giải thích cách đo BĐĐT, mục đích của việc đo cho BN

- Đo BĐĐT với kính đeo chỉnh cận thị bằng thước RAF, bằng hai phương pháp:

Trang 3

pull-away và push-up, với mỗi chỉ số đo

3 lần

+ Đo từng mắt: mắt phải, mắt trái

+ Đo hai mắt

- Đánh giá mức độ tiến triển cận thị

chia làm 2 mức: cận thị tiến triển chậm

(độ cận tăng < 1D/năm), cận thị tiến triển

nhanh (độ cân tăng ≥ 1D/năm)

- Số liệu thu thập lưu trữ bằng hồ sơ

nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Đặc điểm nhóm BN nghiên cứu

Nghiên cứu trên 80 BN tuổi từ 6 - 36

(tuổi trung bình 14,58 ± 5,74), nhóm tuổi

từ 10 - 19 chiếm tỷ lệ cao nhất (66,25%)

BN tham gia nghiên cứu đa phần là học

sinh, chiếm tỷ lệ nhiều nhất là học sinh

tiểu học (37,5%)

Nhóm khởi phát cận thị sớm trước

tuổi 15 (76,25%), trong đó có tới 60% BN

khởi phát ở tuổi 8 - 11, nhóm cận thị khởi

phát muộn sau 15 tuổi chiếm tỷ lệ ít hơn

(23,75%) Tuy nhiên, theo chúng tôi tuổi

khởi phát cận thị chưa hoàn toàn chính

xác vì có những BN mặc dù đã xuất hiện

cận nhưng không đi khám ngay mà để

đến khi thị lực rất thấp mới phát hiện ra

Có trường hợp đến khám rất muộn (sau

15 tuổi) với tình trạng cận thị nặng và

nhược thị do không đeo kính

Chúng tôi gặp chủ yếu là nhóm cận thị

nhẹ (57,5%) và trung bình (37,5%), cận

thị nặng chỉ 5%, có thể do ở mức độ này,

cận thường kèm loạn thị hoặc có tổn

thương thoái hóa võng mạc, thị lực chỉnh

kính tối đa thường kém, không đạt 20/25

nên không được chọn vào nghiên cứu

2 Đặc điểm BĐĐT trên mắt cận thị

Bảng 1: BĐĐT của từng mắt và cả hai

mắt

Phương pháp Push-up Pull-away BĐĐT

trung bình

12,71 ± 3,18

12,11 ± 2,86

12,41 ± 3,00 BĐĐT một mắt (D)

p < 0,001 14,92 ± 3,20

14,05 ± 2,78

14,49 ± 2,94 BĐĐT hai mắt (D)

p < 0,001

Biên độ điều tiết đo từng mắt hoặc cả hai mắt bằng phương pháp push-up cao hơn so với phương pháp pull-away có ý nghĩa thống kê (p < 0,001, test t-student) Kết quả của chúng tôi tương tự nghiên cứu của Marc, Antona, Jaclyn : BĐĐT khi đo bằng phương pháp push-up luôn cao hơn

so với phương pháp pull-away (có ý nghĩa thống kê với p < 0,001), vì vậy các tác giả khuyên nên đo BĐĐT bằng cả hai phương pháp và lấy giá trị trung bình [3, 9]

Biên độ điều tiết hai mắt cũng lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,001, test t-student) so với BĐĐT một mắt ở tất cả các cách đo, do khi BN nhìn bằng hai mắt nhờ có khoảng thị trường chung mà thị lực thường tốt hơn thị lực của một mắt Với BĐĐT cũng vậy, nhờ có khoảng thị trường chung mà BĐĐT của hai mắt cũng cao hơn BĐĐT của một mắt [4, 10]

Biên độ điều tiết trung bình của nhóm nghiên cứu cao so với một số nghiên cứu khác (Allen (2005) [2], Fong (1997) [5]),

có thể do các tác giả đánh giá trên nhóm đối tượng có tuổi trung bình cao hơn Tuy nhiên, khá tương đồng với các nghiên cứu có độ tuổi tương đương

Trang 4

Bảng 2: Tham khảo BĐĐT trên mắt cận

thị của các tác giả

BĐĐT (D)

Một mắt Hai mắt

Nguyễn Thị Thu

Biên độ điều tiết trung bình từng mắt và

BĐĐT trung bình hai mắt có tương quan

chặt chẽ (r = 0,828; p < 0,001) Nhiều nghiên

cứu ở các nhóm tuổi khác nhau cũng cho

kết quả tương tự [2, 4, 5, 10]

2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến BĐĐT

trên mắt cận thị.

* Tuổi và BĐĐT trên mắt cận thị:

- BĐĐT của một mắt: có tương quan

nghịch biến giữa BĐĐT một mắt và tuổi

với phương trình tương quan có dạng

y = 14,27 - 0,13x (x là tuổi, y là BĐĐT

trung bình)

- BĐĐT của hai mắt: có tương quan

nghịch biến giữa BĐĐT hai mắt và tuổi

với phương trình tương quan có dạng

y = 16,78 - 0,16x (x là tuổi, y là BĐĐT

trung bình hai mắt)

Kết quả này tương tự một số nghiên

cứu khác [10]

* Tuổi khởi phát cận thị và BĐĐT trên

mắt cận thị:

BĐĐT một mắt ở nhóm cận thị khởi

phát sớm (14,76 ± 2,98D) cao hơn nhóm

khởi phát muộn (13,62 ± 2,96D), nhưng

không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Kết quả này khác biệt với đa số tác giả khác, do việc xác định tuổi khởi phát cận thị của BN của chúng tôi mang tính chủ quan rất cao, độ chính xác thấp Ngoài ra, tuổi trung bình của nhóm cận thị khởi phát muộn cũng cao hơn nhóm cận thị khởi phát sớm, do đó BĐĐT ở nhóm cận thị khởi phát muộn thấp hơn nhóm khởi phát sớm một phần liên quan đến độ tuổi

* Mức độ cận thị và BĐĐT:

BĐĐT trung bình ở mắt cận thị nhẹ (12,91 ± 3,04D) cao hơn so với mắt cận thị trung bình và nặng (11,66 ± 2,87D)

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Allen và CS (2005): mức độ cận thị

và BĐĐT có tương quan với nhau, độ cận càng cao, BĐĐT càng giảm (theo phương trình tuyến tính y = 0,8409x - 8,2343) [2]

* Tiến triển của cận thị và BĐĐT trên mắt cận thị:

BĐĐT trung bình ở nhóm cận thị tiến triển chậm (13,94 ± 2,88D), ở nhóm cận thị tiến triển nhanh là 14,03 ± 2,81D, tuy nhiên chưa thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa tiến triển của cận thị và BĐĐT (p = 0,91) Allen và CS (2005) cũng có nhận xét tương

tự khi nghiên cứu về các chức năng của điều tiết liên quan đến tiến triển cận thị: yếu tố liên quan đến tiến triển cận thị như

độ trễ điều tiết, thuận năng điều tiết, yếu

tố vận nhãn trong đó, hai yếu tố quan trọng là độ trễ điều tiết và thuận năng điều tiết Các tác giả cũng chỉ ra BĐĐT

có mối quan hệ với tiến triển cận thị,

Trang 5

tuy nhiên không phải là yếu tố liên quan

trực tiếp, BĐĐT liên quan đến sự xuất

hiện cận thị nhiều hơn là tiến triển cận thị

[2, 5]

* Thời gian nhìn gần và BĐĐT trên mắt

cận thị:

BĐĐT trung bình ở nhóm làm việc nhìn

gần ≤ 8 giờ/ngày (12,89 ± 2,83D) cao hơn

so với nhóm làm việc nhìn gần > 8 giờ/ngày

(11,35 ± 3,12D) (p = 0,002) Nhiều nghiên

cứu khác cũng có kết quả tương tự, các

tác giả đã thống nhất cường độ nhìn gần

liên tục kéo dài là nguyên nhân làm giảm

đáp ứng điều tiết, dẫn đến cận thị tiến

triển [8]

* Thói quen đeo kính và BĐĐT trên

mắt cận thị:

BĐĐT của nhóm chỉ đeo kính khi nhìn

xa (16,17 ± 3,32D) cao hơn có ý nghĩa so

với nhóm đeo kính liên tục (13,44 ±

2,41D) (p = 0,001) Với mắt cận thị nhẹ

(< 3,00D), cận điểm điều tiết khoảng 33

cm, do đó BN không cần đeo kính vẫn có

thể nhìn rõ ở khoảng cách gần, khi BN

đeo kính cả lúc nhìn gần thì mắt BN đang

có xu hướng buông thả điều tiết, nay lại

phải tăng thêm điều tiết cho phần công

suất kính cận BN đang đeo khi nhìn gần

sẽ gây mỏi mệt cho mắt, lâu dần dẫn tới

suy nhược điều tiết, giảm khả năng đáp

ứng điều tiết Điều này có thể lý giải mắt

cận thị, đặc biệt nhóm cận thị nhẹ có thói

quen đeo kính liên tục trong ngày sẽ có

BĐĐT thấp hơn nhóm cận thị có thói

quen chỉ đeo kính khi nhìn xa [2, 8]

KẾT LUẬN

Nghiên cứu 80 BN cận thị hai mắt tuổi

từ 6 - 39 (tuổi trung bình 14,58 ± 5,74), chúng tôi rút ra một số kết luận:

- Đặc điểm BĐĐT trên mắt cận thị:

+ Biên độ điều tiết trung bình của một mắt 12,41 ± 3,00D

+ Biên độ điều tiết trung bình của hai mắt 14,49 ± 2,94D

+ Biên độ điều tiết một mắt và hai mắt

có tương quan chặt chẽ với nhau, BĐĐT trung bình một mắt cao thì biên độ trung bình hai mắt cao, BĐĐT hai mắt luôn cao hơn BĐĐT một mắt

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến BĐĐT trên mắt cận thị:

+ Biên độ điều tiết liên quan đến tuổi: tuổi càng cao, BĐĐT càng giảm

+ Biên độ điều tiết ở mắt cận thị nhẹ > BĐĐT ở mắt cận thị trung bình và nặng + BN cận thị có thói quen nhìn gần càng nhiều và thói quen đeo kính liên tục trong ngày thì BĐĐT càng giảm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Thị Tuyến. Đánh giá thuận năng điều tiết trên mắt cận thị Luận văn Thạc sỹ

Y học Trường Đại học Y Hà Nội 2015

2 Allen PM, O’Leary DJ. Accommodation functions: Co-dependency and relationship to refractive error Vision Research 2005, 46, pp.491-505

3 Antona B, Barra F et al. Repeatability intraexaminer and agreement in amplitude of accommodation measurements Graefes Arch Clin Exp Ophthalmol 2009, 247, pp.121-127

Trang 6

4 Bertil S, Martin G, Anders S. The

amplitude of accommodation in 6-10 years-old

children- not as good as expected Ophthal

Physiol Opt 2004, 24, pp.246-251

5 Fong DS. Is myopia related to amplitude

of accommodation? American Journal of

Ophthalmology 1997, 3, p.123

6 Jaclyn AB et al. Clinical amplitude of

accommodation in children between 5 and 10

years of age Optometry & Vision Development

2012, 43 (3)

7 Jenny MI et al. Role of near work in

myopia: findings in a sample of Australian

school children Investigative Ophthalmology

& Visual Science 2008, 49, pp.2903-2910

8 Jennifer CC, Katrina LS, Brian B. The autonomic control of accommodations for human myopia development: a review Opthal Physiol Opt 2003, 23, pp.401-422

9 Marc B Taub OD, Josephine Shallo-Hoffmann. A comparison of three clinical tests

of accommodation amplitude to Hoffstetter’s norm to guide diagnogis and treatment Optometry & Vision Development 2012, 43 (4), pp.180-190

10 Moodley VR. Amplitude, facility and accuracy of accommodation in a primary school population S Afr Optom 2008, 67 (4), pp.147-154

Ngày đăng: 21/01/2020, 05:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w