1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu mối liên quan giữa thang điểm henry và đường kính ổ nhồi máu não với các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu não

7 90 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 405,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nghiên cứu cho thấy xơ vữa động mạch là một yếu tố nguy cơ cao của đột quỵ não. Tuy nhiên nghiên cứu mối liên quan thang điểm HENRY và đường kính ổ nhồi máu não với các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não chưa nghiên cứu nhiều ở Việt Nam.

Trang 1

 VÀ ĐƯỜNG KÍNH Ổ NHỒI MÁU NÃO VỚI CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ 

 Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO 

Trần Văn Trung* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Nhiều nghiên cứu cho thấy xơ vữa động mạch là một yếu tố nguy cơ cao của đột quỵ não. Tuy 

nhiên nghiên cứu mối liên quan thang điểm HENRY và đường kính ổ nhồi máu não với các yếu tố nguy cơ của  nhồi máu não chưa nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. 

Phương pháp: tiến cứu 100 bệnh nhân nhồi máu não. 

Kết quả: Ở bệnh nhân nhồi máu não với thang điểm HENRY 4‐5 có trị số trung bình và tỷ lệ có tăng BMI; 

huyết áp tâm thu; huyết áp tâm trương; độ dày trung bình động mạch cảnh chung, cholesterol TP cao hơn nhóm 

HENRY 1‐2‐3 (p<0,05). Ở bệnh nhân nhồi máu não với đường kính ổ nhồi máu não ≥3cm có trị số trung bình 

và tỷ lệ có tăng BMI; huyết áp tâm thu; huyết áp tâm trương; độ dày trung bình động mạch cảnh chung, có hút  thuốc lá cao hơn nhóm đường kính ổ nhồi máu não <3cm (p<0,05). 

Kết luận: tóm lại có mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ nhồi máu não với thang điểm HENRY và 

đường kính ổ nhồi máu não (p<0,05). 

Từ khóa: xơ vữa động mạch, đột quỵ não, thang điểm HENRY, đường kính ổ nhồi máu não 

ABSTRACT 

RESEARCH ON THE RELATIONSHIP BETWEEN HENRY SCALE AND DIAMETER  

OF CEREBRAL INFARCTION ZONE WITH RISK FACTORS  

FOR CEREBRAL INFARCTION STROKE PATIENTS 

Tran Van Trung* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 37 ‐ 43 

Backgrounds:  Some  previous  studies  showed  that  atherosclerosis  is  a  situation  of  high  risk  factors  of 

cerebral stroke. However, research on the relationship between HENRY scale and diameter of cerebral infarction  zone  with risk factors for cerebral infarction stroke have not been studied much in Vietnam.  

Methods  and  Results:  In  this  study,  100  patients  (74  male,  26  female)  with  cerebral  infarction  stroke 

(patient group) who had an average age 68.87 ± 11.16 years was diagnosed with cerebral infarction identified  clinically and by computed tomography. 100  patients  (80  male,  20  female)  with  no  risk  factors  atherosclerosis  with no signs of cerebral infarction identified by computed tomography (control group) had similar age average  68.87 ± 11.16 years .The Results as below: In patient cerebral infarction with HENRY4‐5 group had average and  prevalence  percentage  of  BMI,  systolic  blood  pressure,  diastolic  blood  pressure  ;  carotid  artery  intimal‐medial  thickness (IMT), cholesterol total were higher than that HENRY 1‐2‐3 group difference is statistically significant  (p<0.05). ‐ In patient cerebral infarction with diameter of cerebral infarction zone ≥3cm group had average and  prevalence  percentage  of  BMI;  systolic  blood  pressure;  diastolic  blood  pressure;  carotid  artery  intimal‐medial  thickness  (IMT);  smoking  were  higher  than  that  diameter  of  cerebral  infarction  zone  ≥3cm  group  difference  is  statistically significant (p<0.05). 

Conclusion:  There was a strongly relationship between HENRY scale and diameter of cerebral infarction 

* Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định 

Trang 2

Key  words:  atherosclerosis  carotid  artery,  cerebral  infarction  stroke,  HENRY  scale,  diameter  of  cerebral 

infarction zone 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh đột 

quỵ  não,  nhưng  người  ta  chia  thành  hai  nhóm 

chính: nhóm không thay đổi đươc như: tuổi, giới 

tính,  chủng  tộc,  di  truyền…;  nhóm  có  thể  thay 

đổi  được  như  tăng  huyết  áp,  béo  phì,  rối  loạn 

lipid máu, đái tháo đường type 2, hút thuốc lá, 

uống rượu, hoạt động tĩnh tại(9,5). Việc phát hiện 

các yếu tố nguy cơ giúp ta dự báo để có các biện 

pháp  phòng  ngừa  biến  chứng  gây  ra.  Đột  quỵ 

não  để  lại  nhiều  di  chứng  nặng  nề  ảnh  hưởng 

đến bản thân, gia đình và xã hội. Liệt là một biến 

chứng  để  lại  di  chứng  nặng  nhất,  mức  độ  tổn 

thương ổ nhồi máu trên chụp cắt lớp vi tính sọ 

não có thể giúp ta tiên lượng sự trầm trọng của 

bệnh. Mục tiêu đề tài: 

1.  Đánh  giá  một  số  yếu  tố  nguy  cơ  bệnh 

nhân nhồi máu não. 

2.  Xác  định  mối  liên  quan  một  số  yếu  tố 

nguy  cơ  với  mức  độ  liệt  chi  qua  thang  điểm 

HENRY và đường kính ổ nhồi máu trên CT  sọ 

não ở bệnh nhồi máu não. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Nhóm  bệnh  100  bệnh  nhân  qua  khám  lâm 

sàng  và  chụp  CT  sọ  não  để  được  chẩn  đoán  là 

nhồi  máu  não.  Nhóm  chứng  100  bệnh  nhân 

không  có  bệnh  lý  nhồi  máu  não  có  độ  tuổi  và 

giới  tương  đương  vào  điều  trị  với  các  bệnh 

thông thường. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang. 

Tiêu  chuẩn  chọn  bệnh  nhân  nhồi  máu  não  được chẩn đoán xác định khi đáp ứng 2 tiêu chí  chẩn đoán về lâm sàng theo tổ chức y tế thế giới 

và qua chụp cắt lớp vi tính sọ não. 

Về lâm sàng: liệt nửa người, rối loạn ý thức,  rối  loạn  ngôn  ngữ,  rối  loạn  cảm  giác,  liệt  dây  thần  kinh  VII  trung  ương,  rối  loạn  cơ  tròn,  co  giật kiểu động kinh. 

Hình  ảnh  nhồi  máu  não:  phải  nhìn  thấy  ổ 

tổn thương trên CT. 

+ Số ổ tổn thương: 1 ổ và > 1 ổ; + Kích thước 

ổ nhồi máu < 3 cm và ≥ 3 cm  

Bảng 1. Đánh giá mức độ liệt của chi theo 5 mức độ 

(Henry và cộng sự ‐1984) (1)  

 

I- Liệt nhẹ (bại) Sức cơ

4 điểm

Giảm sức cơ, còn vận động

chủ động II- Liệt vừa Sức cơ

3 điểm

Còn nâng được chi lên khỏi

giường III- Liệt nặng Sức cơ

2 điểm

Còn co duỗi chi khi có tì IV- Liệt rất nặng Sức cơ

1 điểm

Chỉ còn biểu hiện co cơ chút

ít

0 điểm

Không co cơ chút nào

+  Lượng  giá  mức  độ  liệt  chi  dựa  vào  thang  điểm HENRY qua 2 loại:  

Loại 1 gồm: Mức 1; Mức 2; Mức 3 (Liệt nhẹ,  liệt vừa, liệt nặng). 

Loại 2 gồm: Mức 4; Mức 5 (Liệt rất nặng và  liệt hoàn toàn). 

Xử lý thống kê 

Các  thông  số  nghiên  cứu  được  xử  lý  theo  thuật toán thống kê sinh học ứng dụng trong y  học trên phần mền SPSS 16.0. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Bảng 1. Một số yếu tố nguy cơ 

Trang 3

Chỉ tiêu Nhóm bệnh n =100 Nhóm chứng n =100 p

Nhận xét: Chỉ số các yếu tố nguy cơ ở nhóm bệnh tăng hơn nhóm chứng. 

Bảng.2. Các yếu tố nguy cơ với thang điểm HENRY 

Chỉ tiêu HENRY 4-5 (n =

71)

HENRY 1-2-3( n

= 29)

p

Glucose máu

Cholesterol TP

Triglicerit

Độ dày NTM

ĐMC (mm)

Nhận xét: Có sự tăng BMI, huyết áp tâm thu, 

huyết áp tâm trương,cholesterol, triglicerit và độ 

dày  nội  trung  mạc  động  mạch  cảnh  ở  nhóm 

bệnh nhân có Henry 4‐5. 

Bảng 3. Các yếu tố nguy cơ với đường kính ổ 

nhồi máu 

Chỉ tiêu ĐKỔNN ≥3cm (n

= 54)

ĐKỔNM <3cm (

n = 46)

p

Glucose máu

Cholesterol TP

Triglicerit

Độ dày NTM

Nhận xét: Có sự tăng BMI, huyết áp tâm thu, 

huyết  áp  tâm  trương,  cholesterol,  LDL‐C  và  độ  dày nội trung mạc ĐMC ở nhóm bệnh nhân có  đường kính ổ nhồi máu ≥ 3cm. 

Bảng 4. Liên quan tỷ lệ các yếu tố nguy cơ với 

đường kính ổ nhồi máu (đkônm) 

Chỉ tiêu ĐKỔNM ≥3cm

(n = 54)

ĐKỔNM <3cm (n = 46)

p

Tăng Huyết áp tâm thu ≥140 mmHg, n%,OR(CI)

4,924(1,478-16,411) Tăng huyết áp tâm

trương ≥90mmHg, n%, 0R(CI)

3,284(1,361-7,920) Tuổi ≥60 (năm) n%,

BMI ≥ 23 (kg/m²) n%, 0R(CI) 35(64,8) 16(34,8) 3,484(1,514-7,879) <0,05 Tăng độ dày nội

trung mạc ĐMC(mm), n%, 0R(CI)

12,584(2,694-58,714)

Có hút thuốc lá, n%, 0R(CI)

4,046(1,560-10,491)

Nhận  xét:  Có  sự  tăng  tỷ  lệ  tăng  huyết  áp 

tâm  thu,  tăng  huyết  áp  tâm  trương,  BMI≥23,  tăng độ dày nội trung mạc động mạch cảnh và 

có  hút  thuốc  lá  ở  bệnh  nhân  có  đường  kính  ổ  nhồi máu ≥3cm.  

Bảng 5. Liên quan tỷ lệ các yếu tố nguy cơ với 

đường kính ổ nhồi máu (tt) 

Chỉ tiêu ĐKỔNN

≥3cm (n = 54)

ĐKỔNM

<3cm (n = 46)

p

Tăng Đường máu ≥ 7,0 mmol/l, n%, 0R(CI)

1,105(0,503-2,421) Tăng Cholesterol≥5,2

mmol/l, n%, 0R(CI)

2,129(0,846-5,35)

Trang 4

Chỉ tiêu ĐKỔNN

≥3cm (n = 54)

ĐKỔNM

<3cm (n = 46)

p

Tăng triglicerit≥

1,7mmol/l n%, 0R(CI)

0,997(0,441-2,250) Tăng

LDL-C≥3,4mmol/l n%,

0R(CI)

2,052(0,853-4,974) Giảm HDL-C≤

1mmol/l n%, 0R(CI) 5(9,3) 6(13) 0,680(0,193-2,394) >0,05

Nhận xét: Không có sự thay đổi khi tăng tỷ lệ 

đường máu va các thành phần tăng lipid máu ở 

bệnh nhân có đường kính ồ nhồi máu≥3cm. 

Bảng 6. Liên quan tỷ lệ các yếu tố nguy cơ với thang 

điểm HENRY 

Chỉ tiêu HENRY4-5

(n = 71)

HENRY1-2-3 (n=29)

p

Tăng Huyết áp tâm

thu ≥140 mmHg,

n%,OR(CI)

3,544(1,207-10,405) Tăng huyết áp tâm

trương ≥90mmHg,

n%, 0R(CI)

5,289(2,08-13,44) Tuổi ≥60 (năm)

n%, 0R(CI)

0,974(0,336-2,82) BMI ≥ 23 (kg/m²)

n%, 0R(CI) 41(57,7) 10(34,5) 2,579(1,05-6,38) <0,05

Tăng độ dày nội

trung mạc Động

mạch cảnh chung,

n%, 0R(CI)

3,541(1,207-10,405)

Có hút thuốc lá,

n%, 0R(CI)

2,101(0,825-5,346)

Nhận xét: Có sự tăng tỷ lệ tăng huyết áp tâm 

thu, tăng huyết áp tâm trương, BMI≥23, tăng độ 

dày  nội  trung  mạc  động  mạch  cảnh  chung  ở 

bệnh nhân có thang điểm HENRY 4‐5. 

Bảng 7. Liên quan tỷ lệ các yếu tố nguy cơ với thang 

điểm HENRY (tiếp theo) 

Chỉ tiêu HENRY 4-5

(n = 71)

HENRY1-2-3 (n =29)

p

Tăng Đường máu ≥

7,0 mmol/l, n%,

0R(CI)

0,63(0,264-1,502) Tăng Cholesterol≥5,2

mmol/l, n%, 0R(CI) 59(83,1) 16(55,2) 3,99(1,53-10,429) <0,05

Tăng triglicerit≥

1,7mmol/l n%, 0R(CI)

1,59(0,659-3,843) Tăng

LDL-C≥3,4mmol/l n%,

0R(CI)

2,242(0,895-5,40)

Giảm HDL-C≤

1mmol/l n%, 0R(CI)

0,443(0,124-1,58)

Nhận xét: Có sự tăng tỷ lệ tăng cholesterol ở 

bệnh nhân có HENRY 4‐5. 

BÀN LUẬN  Các  yếu  tố  nguy  cơ  của  đối  tượng  nghiên cứu 

Trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  huyết  áp  tâm  thu trung bình là 155,60 ± 17,87 mmHg, huyết áp  tâm  trương  trung  bình  là  88,60  ±  6,93mmHg,  huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg là 83%, huyết áp  tâm trương ≥ 90 là 62%, tỷ lệ này cũng tăng cao 

ở nghiên cứu Nguyễn Đức Hải(2) khi nghiên cứu 

42 bệnh nhân nhồi máu não tăng huyết áp tâm  thu là 76,2%. Theo Phạm Thị Diệu Linh(11) 57 ca  nhồi  máu  não  thì  tăng  huyết  áp  tâm  thu  là  77,2%.J.Robin(4) là 53,3%,Theo Lê Thúy Phượng(7)  nghiên  cứu  399  người  nhồi  máu  não  thì  huyết 

áp  tâm  thu  trung  bình  là  142,17  ±  21,0  mmHg,  huyết áp tâm trương là 87,44 ± 13,5 mmHg. Theo 

Lê  Thị  Thu  Trang(6)  khi  nghiên  cứu  vai  trò  các  yếu  tố  nguy  cơ  và  lâm  sàng  giai  đoạn  cấp  của  bệnh tai biến mạch máu não qua 79 trường hợp  nhồi máu não và 30 trường hợp xuất huyết não  thì  huyết  áp  tâm  thu  trung  bình  là  151,5  ±  26,8  mmHg, huyết áp tâm trương trung bình là 85,6 ±  12,3  mmHg,  tỷ  lệ  tăng  huyết  áp  tâm  thu  cao  ở  nhóm  xuất  huyết  não;  còn  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Văn  Tâm(10)  qua  39  trường  hợp  nhồi  máu  não  và  38  trường  hợp  chảy  máu  não  thì  tăng  huyết  áp  tâm  thu  cao  ở  nhóm  nhồi  máu  não  và  tăng  huyết  áp  tâm  trương  tăng  ở  nhóm  xuất  huyết  não.Như  vậy  ở  bệnh  nhân  bị  nhồi  máu não có tỷ lệ tăng huyết áp tâm thu và tâm  trương cao hơn nhóm chứng‐ Tăng đường máu  làm  xơ  vữa  động  mạch  dễ  phát  triển  là  một  trong những nguy cơ cao cho bệnh lý mạch máu  não.  Trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  nồng  độ  đường máu trung bình là 7,35 ± 2,91 mmol/l và 

tỷ lệ tăng đường máu chiếm 47% so với Lê Thị  Thu Trang(6) là 32,91%, Phạm Thị Diệu Linh(11) là  28,1%;Nguyễn  Đức  Hải(8)  là  9,5%.  J.Robin(4)  là  22,2%.Trong  giai  đoạn  đầu  đột  quỵ  có  tăng  đường máu, có thể do bệnh  có  đái  đường  tiềm 

Trang 5

xấu. Bệnh nhân đột quỵ não có biểu hiện tăng đề 

kháng  insulin  và  có  sự  rối  loạn  chức  năng  tiết 

insulin  ở  tế  bào  beta,  song  khi  có  kèm  theo  các 

yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, béo phì, hội 

chứng chuyển hóa thì nguy cơ sẽ làm tăng thêm 

mức đề kháng insulin(2,3).  

Nghiên  cứu  chúng  tôi  nồng  độ  trung  bình 

cholesterol  TP  5,59  ±  1,00  mmol/l,  tỷ  lệ  tăng 

cholesterol là 75%, nồng độ trung bình triglycerit 

là 2,15 ± 1,36 mmol/l, tỷ lệ tăng triglycerit là 63%, 

nồng độ trung bình HDL là 1,17 ± 0,28 mmol/l, 

tỷ lệ HDL < 1 là 11 %, nồng độ trung bình LDL 

là  3,63  ±  0,85  mmol/l,  tỷ  lệ  tăng  LDL  là  71%. 

Theo  Lê  Thị  Thu  Trang(6)  qua  106  trường  hợp 

đột  quỵ  não  có  tăng  cholesterol  chiếm  42,2%, 

tăng  LDL  là  47,71%,  tăng  triglycerit  là  54,13%, 

giảm  HDL  là  73,39%,  Nguyễn  Đức  Hải(8)  có  rối 

loạn lipid chiếm 59,5%. Như vậy qua các nghiên 

cứu trên cho thấy có sự khác nhau về tăng tỷ lệ 

các  thành  phần  lipid  máu,  song  điều  này  có  lẽ 

do bệnh nhân đã điều trị hạ lipid máu trước nên 

khó  đánh  giá  chính  xác  được,  tuy  nhiên  các 

nghiên  cứu  trên  đều  có  sự  tăng  cao  các  thành 

phần lipid máu ở bệnh nhân nhồi máu não. 

Nghiên  cứu  này  có  BMI  là  22,91  ±  1,78 

kg/m²,  tỷ  lệ  có  BMI  ≥  23  là  51%,  BMI  của  nam 

23,28  ±  1,63  kg/m²,  BMI  của  nữ  là  21,89  ±  1,80 

kg/m².  Lê  Thị  Thu  Trang  qua  79  ca  nhồi  máu 

não thì BMI là 20,74 ± 2,35 kg/m² .Kích thước ổ 

nhồi máu não <3cm là 46% và >3cm là 54% còn 

Đinh  Văn  Thắng(1)  <3cm  là  25,3%  và  >3cm  là 

74,7%.  

Liên  quan  thang  điểm  Henry  và  đường 

kính  ổ  nhồi  máu  (ĐKỔNM)  bệnh  nhân 

nhồi máu não với huyết áp 

Kết quả cho thấy ở Henry 4‐5 huyết áp tâm 

thu là 159,79± 17,28 mmHg. 

Henry 1‐2‐3 là 145,34 ± 15,11mmHg (p<0,05), 

Henry  4‐5  huyết  áp  tâm  trương  là  90,28±6,70 

mmHg,  Henry  1‐2‐3  là  84,48  ±  5,72  mmHg 

(p<0,05).  Nhóm  có  tăng  huyết  áp  tâm  thu  ở 

Henry 4‐5 là 88,7% và tỷ lệ có tăng huyết áp tâm 

thu  cao  gấp  3,54  (p<0,05).  Nhóm  có  tăng  huyết 

áp tâm trương ở Henry 4‐5 là 78,9% và tỷ lệ có 

tăng huyết áp tâm trương cao gấp 5,28 (p<0,05). 

Kết  quả  cho  thấy  bệnh  nhân  có  ĐKỔNM 

≥3cm  thì  huyết  áp  tâm  thu  là  162,41±  16,92  mmHg,  ĐKỔNM  <3cm  là  147,61  ±  15,62mmHg  (p<0,05), ĐKỔNM ≥3cm huyết áp tâm trương là  90,93±7,0  mmHg,  ĐKỔNM<3cm  là  85,87±  5,80 

mmHg  (p<0,05).  Nhóm  có  tăng  huyết  áp  tâm 

thu  ĐKỔNM  ≥3cm  là  96,3%  và  tỷ  lệ  có  tăng 

huyết áp tâm thu cao gấp 4,92 (p  <0,05). Nhóm 

có tăng huyết áp tâm trương ở ĐKỔNM ≥3cm là  79,6% và tỷ lệ có tăng huyết áp tâm trương cao 

gấp  3,28  (p  <0,05).  Như  vậy  ở  bệnh  nhân  có 

huyết áp tâm thu, tâm trương tăng cao thì nguy 

cơ liệt nặng và kích thước ổ nhồi máu lớn hơn,  yếu  tố  nguy  cơ  nhồi  máu  não  tăng  cao  là  tăng  huyết  áp,  vì  tăng  huyết  áp  dễ  làm  tổn  thương  nội mạc thành mạch do áp lực dòng máu mạnh  hơn, vị trí nhồi máu gặp ở bao trong nhân xám  trung  ương  chiếm  tỷ  tăng  đây  là  vùng  đường  thần kinh điều khiển vận động bên đối diện đi  qua  cho  nên  thường  gặp  là  liệt  nặng  và  hoàn  toàn. 

Liên quan thang điểm Henry, đường kính 

ổ  nhồi  máu  (ĐKỔNM)  bệnh  nhân  nhồi  máu não với BMI 

Bệnh  nhân  nhồi  máu  não  ở  Henry  4‐5  thì  BMI  là  23,18±1,80  kg/m²  với  Henry1‐2‐3  là 

22,26±1,57  kg/m  (p<0,05).  Nhóm  có  tăng  BMI  ở 

Henry 4‐5 là 57,7% và tỷ lệ có tăng BMI cao gấp 

2,47  (p<0,05).  Bệnh  nhân  nhồi  máu  não  có 

ĐKỔNM  ≥3cm  thì  BMI  là  23,40±1,78  kg/m²,  ĐKỔNM  <3cm  là  22,34±1,61  kg/m²  (p<0,05),  Nhóm  có  tăng  BMI≥  23  có  ĐKỔNM  ≥3cm  là 

64,8% và tỷ lệ có BMI≥23 cao gấp 3,48 (p<0,05). 

Qua nhận xét trên ta thấy ở bệnh nhân nhồi  máu não mà có BMI≥23 thì mức độ liệt Henry 4‐

5 và trên C.T có đường kính ổ nhồi máu ≥ 3cm  chiếm tỷ lệ cao. 

Trang 6

ổ nhồi máu ở bệnh nhân nhồi máu não với 

độ  dày  nội  trung  mạc  động  mạch  cảnh 

(NTMĐMC) 

Bệnh  nhân  nhồi  máu  não  ở  Henry  4‐5  thì 

NTMĐMC  là  1,10±0,21mm  và  Henry  1‐2‐3  là 

0,99±0,22mm (p<0,05). Nhóm có tăng NTMĐMC 

ở Henry 4‐5 là 88,7% và tỷ lệ có tăng NTMĐMC 

cao gấp 3,54 (p<0,05). Bệnh nhân nhồi máu não ở 

ĐKỔNM≥3cm thì NTMĐMC là 1,14±0,19mm và 

ĐKỔNM<  3cm  là  0,98±0,20mm  (p<0,05).  Nhóm 

có tăng NTMĐMC ở ĐKỔNM≥ 3cm là 96,3% và 

tỷ  lệ  có  tăng  NTMĐMC  cao  gấp  12,58  (p<0,05). 

Do  cơ  chế  khác  nhau  nên  yếu  tố  nguy  cơ  ảnh 

hưởng không giống nhau lên nội trung mạc và 

mảng xơ vữa động mạch cảnh, tuy nhiên độ dày 

nội trung mạc và mảng xơ vữa tại chỗ cùng có 

những yếu tố nguy cơ chung, điều đó cho thấy 

độ dày nội trung mạc có thể là một đáp ứng sớm 

trong  khi  mảng  xơ  vữa  là  một  biểu  hiện  muộn 

của tiến trình xơ vữa và sự dày lên nội mạc động 

mạch cảnh có thể làm lưu lượng máu đến não ít 

và góp phần ổ nhồi máu não có đường kính lớn 

hơn và liệt nặng hơn. 

Liên quan thang điểm Henry, đường kính 

ổ  nhồi  máu  bệnh  nhân  nhồi  máu  não  với 

rối loạn Lipid máu 

Bệnh  nhân  nhồi  máu  não  ở  Henry  4‐5  thì 

cholesterol là 5,86±1,01mmol/l với Henry1‐2‐3 là 

5,28±0,86  mmol/l  (p<0,05).  Nhóm  có  tăng 

cholesterol ở Henry 4‐5 là 83,1% và tỷ lệ có tăng 

cholesterol cao gấp 3,99 (p<0,05) 

Triglycerit  ở  Henry  4‐5  là  2,53±1,52mmol/l 

với  Henry1‐2‐3  là  1,66±0,64mmol/l  (p<0,05). 

Nhóm có tăng triglycerit ở Henry 4‐5 là 66,2% và 

tỷ lệ có tăng triglycerit cao gấp 1,59 (p>0,05). 

LDL‐C  ở  Henry  4‐5  là  3,70±0,88mmol/l  với 

Henry1‐2‐3  là  3,46±0,74mmol/l  (p>0,05).  Nhóm 

có tăng LDL‐C ở Henry 4‐5 là 76,1% và tỷ lệ có 

tăng LDL‐C cao gấp 2,24(p>0,05). 

HDL‐C ở Henry 4‐5 là 1,100±0,12mmol/l với 

Henry1‐2‐3  là  1,11±0,21mmol/l  (p>0,05).  Nhóm 

có tăng HDL‐C ở Henry 4‐5  là  8,5%  và  tỷ  lệ  có  tăng HDL‐C cao gấp 0,44 (p>0,05). 

Bệnh nhân nhồi máu não ở ĐKỔNM ≥3 cm  thì  cholesterol  là  5,90±1,00mmol/l  với  ĐKỔNM<3cmlà  5,45±0,89mmol/l  (p<0,05). 

Nhóm  có  tăng  cholesterol  ở  ĐKỔNM≥3cm  là  81,5%  và  tỷ  lệ  có  tăng  cholesterol  cao  gấp  2,12  (p>0,05). 

Triglycerit  ở  ĐKỔNM  ≥3  cm  là  2,26±1,21  mmol/l  với  ĐKỔNM<3cm  là  2,26±1,21  mmol/l  (p>0,05).  Nhóm  có  tăng  triglycerit  ở  ĐKỔNM≥3cm là 63% và tỷ lệ có tăng cholesterol  cao gấp 0,9 (p>0,05). 

LDL‐C  ở  ĐKỔNM≥3cm  là  3,80±0,86mmol/l 

với  ĐKỔNM<3cmlà  3,44±0,80  mmol/l  (p<0,05). 

Nhóm có tăng LDL‐C ở ĐKỔNM≥3cm là 77,8% 

và tỷ lệ có tăng LDL‐C cao gấp 2,05 (p>0,05). 

1,09±0,21mmol/l  với  ĐKỔNM<3cm  là  1,12±0,22  mmol/l  (p>0,05).  Nhóm  có  giảm  HDL‐C  ở  ĐKỔNM≥3cm là 9,3%% và tỷ lệ có giảm HDL‐C  cao gấp 0,68 (p>0,05). 

Liên quan thang điểm Henry, đường kính 

ổ  nhồi  máu  bệnh  nhân  nhồi  máu  não  với  glucose máu. 

Glucose máu ở Henry 4‐5 là 7,22±2,62mmol/l  với  Henry1‐2‐3  là  7,69±2,54  mmol/l  (p>0,05).  Nhóm có tăng glucose ở Henry 4‐5 là 43,7% và 

tỷ lệ có tăng glucose cao gấp 0,63 (p>0,05). 

7,47±2,85mmol/l  với  ĐKỔNM<3cm  là  7,22±3,0  mmol/l  (p>0,05).  Nhóm  có  tăng  glucose  ở  ĐKỔNM≥3cm là 48,1% và tỷ lệ có tăng glucose  cao gấp 1,10 (p>0,05). 

Như  chúng  ta  biết  glucose  máu  tăng  cao  thường  xảy  ra  trong  giai  đoạn  cấp  của  nhồi  máu  não  Có  nhiều  công  trình  nghiên  cứu  đã  chứng  minh  rằng  đái  đường  là  yếu  tố  gây  ra  các  thể  tai  biến  mạch  máu  não.  Tăng  đường  máu kéo dài tác động đến hệ thống mạch máu  não. Bệnh nhân đái đường có sự tiến triển của 

bề dày lớp nội trung mạc của động mạch cảnh,  nhiều tổn thương xơ vữa các động mạch trong 

Trang 7

và  ngoài  sọ  và  đặc  biệt  liên  quan  đến  sự  tắc 

nghẽn  nhiều  động  mạch  nhỏ,  tác  động  đến 

nhiều  tiểu  động  mạch  đi  vào  trong  não.  Tuy 

nhiên sự tăng đường máu không có liên quan 

đến  mức  độ  liệt  nặng  của  bệnh  nhân  và  kích 

thước ổ nhồi máu. 

Liên quan thang điểm Henry, đường kính 

ổ  nhồi  máu  bệnh  nhân  nhồi  máu  não  với 

hút thuốc lá 

Nhóm có hút thuốc lá ở Henry 4‐5 là 77,5% 

và  tỷ  lệ  có  hút  thuốc  lá  cao  gấp  2,10  tuy  nhiên 

không có ý nghĩa thống kê so với nhóm không 

hút thuốc lá (p>0,05). 

Nhóm  có  hút  thuốc  lá  ở  ĐKỔNM≥3cm  là 

85,2%  và  tỷ  lệ  có  hút  thuốc  lá  cao  gấp  4,04 

(p<0,05).  Thuốc  lá  làm  biến  đổi  nồng  độ  lipid 

máu mà quan trọng là giảm yếu tố bảo vệ HDL, 

tăng  fibrinogen,  tăng  tính  đông  máu,  tăng  độ 

nhớt  máu,  tăng  kết  dính  tiểu  cầu,  có  mối  liên 

quan  giữa  số  lượng  thuốc  lá  hút  với  nhồi  máu 

não. Hút thuốc lá là nguy cơ đột quỵ não, nhiều 

nghiên cứu cho thấy nếu ngưng trên 2 năm thì 

thì  đột  quỵ  sẽ  giảm  rõ  rệt  cho  nên  ngừng  hút 

thuốc  là  vô  cùng  cần  thiết  để  phòng  ngừa  đột 

quỵ não. 

KẾT LUẬN 

Chỉ số trung bình, tỷ lệ tăng các yếu tố nguy 

cơ  như  BMI,  huyết  áp  tâm  thu,  huyết  áp  tâm 

trương, độ dày nội trung mạc động mạch cảnh, 

đường  máu,  cholesterol,  triglycerit,  HDL‐C, 

LDL‐C  ở  nhóm  nhồi  máu  não  tăng  cao  hơn 

nhóm chứng (p<0,05) 

Trị số trung bình, tỷ lệ tăng của  tăng  huyết 

áp  tâm  thu,  tâm  trương,  BMI,  cholesterol  TP, 

triglycerit,  độ  dày  nội  trung  mạc  động  mạch 

cảnh  chung  ở  nhóm  nhồi  máu  não  có  mức  liệt 

chi theo thang điểm HENRY 4‐5 tăng cao hơn ở 

nhóm nhồi máu não có mức liệt chi theo thang 

điểm HENRY 1‐2‐3 (p<0,5) 

Trị số trung bình, tỷ lệ tăng của  tăng  huyết 

áp  tâm  thu,  tâm  trương,  BMI,  cholesterol  TP,  LDL‐C, độ dày nội trung mạc động mạch cảnh  chung, có hút thuốc lá ở nhóm nhồi máu não có  đường kính ổ nhồi máu não ≥3cm tăng cao hơn 

ở  nhóm  có  đường  kính  ổ  nhồi  máu  não  <3cm  (p<0,05). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

não trong 10 năm tại Bệnh viện Thanh Nhàn Hà nội’’‐ Tạp chí  Nội khoa 1/2009 Trang 512 ‐ 516 

và  Đái  tháo  đường”  Tạp  chí  nội  khoa  số  1/2009  Trang  93  ‐ 

107. 

3 Hoàng  Trung  Vinh  và  cs  (2009)  “Biến  đổi  nồng  độ  glucose  máu  ở  bệnh  nhân  đột  quỵ  não  trong  giai  đoạn  cấp”  Y  học  thực hành số 673 ‐ 674 tháng 8/2009. 

4 Robin  MJ  (2012).  “Stroke  Incidence  in  older  US  ’’.Stroke,  pp  1224‐1229 

5 Lê Đức Hinh và nhóm chuyên gia (2007): “Tai biến mạch máu  não” Nhà xuất bản y học 2007. Trang 217‐240 

6 Lê Thị Thu Trang (2009) “Nghiên cứu vai trò các yếu tố nguy 

cơ và đặc điểm lâm sàng giai đoạn cấp của tai biến mạch máu  não tại BV tỉnh Quảng Trị” Tạp chí nội khoa, Trang 686‐695. 

7 Lê  Thúy  Phượng  (2009)  “Tăng  huyết  áp  ở  người  tai  biến  mạch máu não lớn tuổi’’ Tạp chí nội khoa số 3, Trang 405 ‐ 

412. 

8 Nguyễn Đức  Hải  và  Nguyễn  Hồng  Ngọc  (2002):  “Đánh  giá  vữa xơ động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng siêu âm Dopller  trên bệnh nhân nhồi máu não”. Tạp chí tim mạch học số 29,  Trang 450. 

học‐ Bệnh học thần kinh” Nhà xuất bản y học.Trang 8‐72 

10 Nguyễn Văn Tâm (2001): “Đánh giá điểm số đột quỵ SIRIRAJ  trong  chẩn  đoán  nhồi  máu  não  và  chảy  máu  não  trên  liều”  Luận văn thạc sĩ y khoa ‐ ĐHY Hà Nội .Trang 25‐45 

11 Phan Thị Diệu Linh (2009):“Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ  liên  quan  đến  đột  quỵ  tại  Bệnh  viện  đa  khoa  tỉnh  Khánh  Hoà” ‐Tạp chí Nội Khoa. Tr 518 ‐ 524. 

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 05:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w