1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

19 xử trí tổn thương sẹo hẹp khí quản và rò khí - thực quản bằng nối khí quản tận - tận trực tiếp và khâu đường rò thực quản

6 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 199,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm báo cáo kết quản phẫu thuật bệnh nhân bị hẹp khí quản hoặc/và rò khí quản – thực quản, biến chứng của đặt ống nội khí quản, mở khí quản kéo dài hoặc chấn thương, vết thương khí thực quản. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

19 XỬ TRÍ TỔN THƯƠNG SẸO HẸP KHÍ QUẢN

VÀ RÒ KHÍ – THỰC QUẢN BẰNG NỐI KHÍ QUẢN TẬN-TẬN TRỰC TIẾP VÀ

KHÂU ĐƯỜNG RÒ THỰC QUẢN

Vũ Hữu Vĩnh*, Ngô Quốc Hưng*, Châu Phú Thi*

TÓM TẮT

Đối tượng: Báo cáo kết quản phẫu thuật bệnh nhân bị hẹp khí quản hoặc/ và rò khí quản –thực quản,

biến chứng của ñặt ống nội khí quản (NKQ), mở khí quản (MKQ) kéo dài hoặc chấn thương, vết thương khí thực quản

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu 21 trường hợp hẹp khí quản hoặc/và rò khí quản – thực quản tuổi từ 19

tới 46 ñược phẫu thuật trong 2 năm tại khoa ngoại Lồng ngực bệnh viện Chợ Rẫy Thời gian từ khi bắt ñầu ñược

mở khí quản hoặc bị chấn thương/vết thương tới thời ñiểm ñược phẫu thuật là từ 12 tháng tới 5 năm Tổn thương của các bệnh nhân liên quan tới hầu hết các ñoạn của khí quản

Kết quả: Phương pháp phẫu thuật là nối khí quản tận tận và khâu ñường rò thực quản Tỷ lệ thành công là

90,5% Trong ñó, 16 ca (76.2%) cho kết quả tốt 2 ca (9.5%) kết quả khá (một còn khàn tiếng, một còn hẹp thực quản phải nong lại nhiều lần sau mổ) 1 ca (4,8%) có kết quả trung bình (ñóng ñược ñường rò khí thực quản nhưng ñể lại ống mở khí quản) 2 ca (9.5%) thất bại (một ca bung chỗ nối khí quản tận tận 2 ngày sau mổ, một ca hẹp lại khí quản sau khi ra viện 3 ngày) phải mở khí quản lại Không có tử vong

Kết luận: Sửa chữa một thì sẹo hẹp khí quản và rò khí thực quản bằng nối khí quản tận tận và khâu kỳ ñầu

ñường rò thực quản là hoàn toàn khả thi, có tỉ lệ thành công cao và an toàn bất kể thời gian bị tổn thương Nối khí quản tận – tận có thể áp dụng cho mất ñoạn khí quản tới 4cm

Từ khóa: Hẹp khí quản, rò khí thực quản

ABSTRACT

MANAGEMENT OF TRACHEAL STENOSIS AND/OR TRACHEOESOPHAGEAL FISTULA WITH DIRECT

TRACHEAL ANASTOMOSIS AND PRIMARY ESOPHAGEAL CLOSURE

Vu Huu Vinh, Ngo Quoc Hung, Chau Phu Thi

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 2 - 2010: 124 - 129

Objective: We evaluated the outcome of the surgical repair for tracheoesophageal fistula and/or tracheal

stenosis, which are usually complications of tracheostomy or tracheoesophageal injury

Methods: Twenty-one patients aged from 19 to 46 years old with tracheal stenosis and/or tracheoesophageal

fistula were operated in 2 years The period from initial tracheostomy to the time of repair surgery ranges from 12 months to 5 years Any part of the trachea was involved All cases were repaired by direct end to end tracheal anastomosis and primary esophageal closure

Result: Successful rate was 90.5% In which, 16 cases (76.2%) have very good results 2 cases (9.5%) have

good result (one with husky voice, one with esophageal stenosis that require dilatation of the esophagus postoperatively) One has medium result; tracheoesophageal fistula was successful closed but the trachea could not repaired Two cases (9.5%) were failed In one, tracheal anastomosis was ruptured 3 days after repaired operation and in the other, the trachea was restenosis Tracheostomy was set up again for both Mortality is zero

Conclusion: Primary repairing long-term post-tracheotomy tracheal stenosis and/or tracheoesophageal

fistula is feasible, safe and have high successful rate regardless period of having those injuries Tracheal missing length up to 4cm in could be repaired safely by direct end to end anastomosis

Keywords: tracheal stenosis, tracheoesophageal fistula

* Khoa ngoại Lồng ngực – mạch máu, Bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên hệ: TS BS Vũ Hữu Vĩnh, ĐT: 0936 666 182; Email: vhvinh@hcm.vnn.vn

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mặc dù các ống nội khí quản hoặc các ống mở khí quản hiện đang được sử dụng cĩ cuff áp

lực thấp nhưng trên thực tế khá nhiều bệnh nhân được đặt ống nội khí quản hoặc mở khí quản lâu

dài cĩ hẹp khí quản hoặc/ và dị khí quản – thực quản Nguyên nhân cĩ thể là kỹ thuật mở khí

quản chưa đúng, thở máy lâu hoặc cĩ nhiễm trùng kéo dài vùng mở khí quản Một nguyên nhân

nữa cũng thường gây hẹp khí quản hoặc dị khí quản thực quản là chấn thương hoặc bỏng hĩa

chất (uống nhầm hoặc cố ý)

Những bệnh nhân này thường phải đeo ống mở khí quản ở cổ nếu cĩ rị khí quản – thực quản, cĩ

thêm một ống nuơi ăn ở bụng Với 1 hoặc cả 2 ống này, chất lượng cuộc sống của người bệnh giảm rõ

rệt ảnh hưởng khơng chỉ người bệnh mà cả người thân, xã hội

Do cĩ nhiều nguy cơ trong phẫu thuật phục hồi các tổn thương trên mà nhiều bệnh nhân chịu

mang những ống này trong một thời gian khá dài Nhiều bệnh nhân đã đi khám nhiều nơi nhưng

khơng phải cơ sở phẫu thuật nào cũng nhận sửa chữa những tổn thương này cho người bệnh

Đối với phẫu thuật sớm để sửa chữa các tổn thương trên, đã cĩ nhiều nghiên cứu cơng bố(4,6,3,7)

Tuy nhiên phẫu thuật muộn thì cịn ít các báo cáo(1, 5)

Các nguyên nhân khác bao gồm chấn thương, vết thương hoặc bỏng do hĩa chất, thường là do

uống hĩa chất gây tổn thương thực quản rồi tới khí quản

Để sửa chữa các tổn thương đĩ, cần phải cắt bỏ đoạn khí quản bị hẹp, tắc hoặc biến dạng, nối khí

quản lại và khâu lại đường rị thực quản

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá kết quả sớm sau phẫu thuật hẹp khí quản và rị khí thực quản và chức năng đường thở,

đường ăn tự nhiên và các biến chứng xảy ra sau khi được tái tạo Đánh giá khả năng nối khí quản tận

tận ở những tổn thương cĩ mất đoạn khí quản lớn

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu: 2 năm (1/2007 – 1/2009), khoa phẫu thuật Lồng Ngực – Bệnh viện Chợ

Rẫy

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Các bệnh nhân được chẩn đốn hẹp khí quản và rị khí quản thực quản đã được phẫu thuật tại khoa

phẫu thuật Lồng Ngực – Bệnh viện Chợ Rẫy Nghiên cứu khơng bao gồm các bệnh nhân đang cĩ lao

tiến triển và K thanh quản

Phân loại nguyên nhân bao gồm

1- do đặt ống thở (NKQ, MKQ) kéo dài,

2- do chấn thương kín,

3- do vết thương dao đâm,

4 – do tổn thương bỏng hĩa chất thực quản hoặc khí quản

Vị trí tổn thương khí quản được phân loại theo định hướng ngoại khoa đĩ là đường mổ để vào tổn

thương đĩ Bao gồm 1/3 trên, 1/3 giữa và 1/3 dưới

Phương pháp phẫu thuật

Bao gồm chọn đường mổ thích hợp để cĩ thể tiếp cận tốt nhất chỗ tổn thương và thuận lợi cho

phẫu thuật Đối với tổn thương khí quản 1/3 trên, chúng tơi mở đường cổ trước, đường mổ thường

vịng qua lỗ mở khí quản Đối với tổn thương khí quản 1/3 dưới và các phế quản gốc, chúng tơi mở

đường ngực Chỉ riêng tổn thương phế quản gốc trái đơn thuần chúng tơi mới mở ngực trái cịn lại là

mở ngực phải Tổn thương khí quản 1/3 giữa cĩ thể mổ đường cổ hoặc ngực, nhưng tốt nhất là mở

đường cổ phối hợp với chẻ xương ức bán phần hoặc tồn phần Đoạn khí quản tổn thương được cắt bỏ

cho tới phần khí quản cĩ khẩu kính bình thường và nối lại tận tận Đường dị khí quản thực quản được

tách rời, thực quản được khâu lại hai lớp bằng chỉ tự tiêu

Trang 3

Đánh giá kết quả

Chúng tôi ñánh giá kết quả phẫu thuật theo tốt khá trung bình và xấu (thất bại) Tử vong không

nằm trong ñánh giá kết quả, ñược coi như là tai biến phẫu thuật

Tốt: bệnh nhân trở về cuộc sống bình thường Ăn và thở bằng ñường tự nhiên không gặp bất kỳ

trở ngại nào

Khá: Kết quả chưa thật hoàn hảo, ví dụ có khàn tiếng sau mổ, hẹp thực quản sau mổ mà có thể nội

soi nong ñược về bình thường

Trung bình: Không sửa chữa hết các tổn thương, ví dụ chỉ ñóng ñược ñường dò khí thực quản mà

không thể phục hồi khí quản do mất ñoạn lớn hoặc dây thanh âm dính bít hoàn toàn

Xấu: thất bại, chỗ nối khí quản bị bung ra hoặc khí quản bị hẹp lại sau mổ, phải mở khí quản lại

hoặc phải mổ lại

KẾT QUẢ

Tuổi

Đa số từ 19 – 46 tuổi Trung bình 23 + 10 tuổi Cho thấy ña số là lứa tuổi lao ñộng

Giới

Nam: 12 (57.1%), Nữ: 9 (42.9%)

Không có sự khác biệt ñáng kể giữa tỷ lệ nam và nữ

Vị trí tổn thương khí quản

1/3 trên 1/3 giữa 1/3 dưới, carina và phế quản

Vị trí tổn thương ñược phân theo ñịnh hướng ngoại khoa ñó là ñường mổ ñể có thể tiếp cận tốt

nhất với tổn thương Trong 5 ca tổn thương khí quản 1/3 dưới, có 3 ca tổn thương khí quản ngay trên

carina, 1 tổn thương phế quản gốc phải, một tổn thương phế quản gốc trái 2 tổn thương phế quản gốc

này ñều do ñứt rời hoàn toàn phế quản gốc gây xẹp phổi, viêm phổi xẹp và tới với chúng tôi sau 4-5

tháng bị chấn thương Ở ñây chúng tôi chỉ tính những ca ñến muộn còn tổn thương phế quản gốc mới

và ñược phẫu thuật ngay thì khá nhiều và không ñược tính trong nghiên cứu này

Trong 6 ca tổn thương 1/3 giữa có 1 ca do chấn thương, 1 ca do vết thương 2 ca do bỏng thực

quản gây hẹp khí quản và dò khí thực quản Còn 2 ca là do hẹp khí quản dưới lỗ mở khí quản (stoma)

10 ca tổn thương khí quản 1/3 trên ñều do di chứng của mở khí quản kéo dài Tổn thương hẹp hoặc

ñứt rời hoàn toàn khí quản trên lỗ mở khí quản

Dò thực quản thường ở vị trí cổ, có 1 trường hợp dò ở nền cổ, gây khó khăn cho việc khâu ñường

dò, bệnh nhân này sau có hẹp thực quản, phải nong 3 lần thì ăn uống ñược bình thường Trong 20

trường hợp hẹp khí quản có 6 trường hợp có dò khí thực quản, một trường hợp chỉ có dò khí thực

quản mà không có hẹp khí quản

Nguyên nhân tổn thương

Đặt ống NKQ

kéo dài

Chiều dài khí quản mất ñoạn:

Trang 4

Trong 21 ca có 19 ca có phẫu thuật khí quản, 1 ca chỉ có dò khí thực quản mà không có hẹp khí

quản, 1 ca có hẹp khí quản và dò khí thực quản nhưng chỉ ñược chỉ ñịnh phẫu thuật ñóng ñường dò

khí thực quản, không phẫu thuật khí quản do tổn thương dính dây thanh âm bít ñường thở phía trong

miệng Trong 19 ca có hẹp khí quản, ñộ dài ñoạn khí quản mất ñoạn sau khi ñã cắt bỏ phần khí quản

tổn thương tới phần có khẩu kính bình thường hoặc chấp nhận ñược trước khi nối tận tận như sau:

Trường hợp mất ñoạn > 5cm chính là trường hợp bung miệng nối khí quản 3 ngày sau mổ

Trường hợp này ñược phẫu thuật 2 lần thất bại ở một cơ sở khác trước khi ñến với chúng tôi

Chiều dài miệng rò thực quản

2,5cm ± 0,5 cm

Thời gian từ khi tổn thương tới khi ñược phẫu thuật

Tất cả ñều là di chứng chấn thương, vết thương hoặc do mở khí quản kéo dài Những tổn thương

là cũ, lâu ngày, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh Phẫu thuật những trường hợp

này thường khó do dính

Kết quả phẫu thuật:

Tốt: 16 trường hợp (76.2%) bệnh nhân trở về cuộc sống bình thừơng, bỏ ñược ống mở khí

quản và ống nuôi ăn ở bụng, nội soi sau mổ cho thấy khí quản hoàn toàn thông thoáng, không chít

hẹp Thực quản liền tốt, người bệnh ăn tự nhiên

Khá: 2 trường hợp (9.5%) Một bệnh nhân bị khàn tiếng sau phẫu thuật, một bị hẹp thực quản sau

phẫu thuật, phải nong 3 lần sau ñó mới ăn uống ñược

Trung bình: một bệnh nhân (4.8%) chỉ ñóng ñược ñường dò khí - thực quản, còn khí quản do soi

thấy dây thanh biến dạng, dính chặt bịt hoàn toàn ñường thở ở miệng, phẫu thuật ñược chỉ ñịnh chỉ

ñóng ñường dò thực quản – khí quản, không can thiệp vào khí quản

Kém: 2 trường hợp (9.5%), 1 bệnh nhân bị ñứt rời chỗ nối khí quản sau 3 ngày phẫu thuật, phải

mở khí quản lại, 1 trường hợp sau phẫu thuật bị hẹp lại

Không có trường hợp nào tử vong

BÀN LUẬN

Phẫu thuật khí quản và nối khí quản tận tận ñã ñược ñề cập từ lâu Tuy nhiên khí quản là cơ quan

duy nhất, có chiều dài nhất ñịnh (khoảng 12 cm với khoảng 18 – 22 vòng sụn) và tới nay vẫn chưa có

vật liệu thay thế nên phẫu thuật khí quản ẩn chứa nhiều nguy cơ Vấn ñề quan trọng là vị trí tổn

thương và ñộ dài của ñoạn khí quản bị mất ñoạn sau khi cắt bỏ phần khí quản bị tổn thương Belsey

năm 1950 ñã tuyên bố những mất ñoạn khí quản > 2cm là không thể nối tận tận trực tiếp ñược (1)

Chính vì vậy phẫu thuật khí quản nhất là ở vị trí khó tiếp cận như 1/3 giữa và có mất ñoạn lớn > 2cm

vẫn ñược ñánh giá là phẫu thuật khó

Tổn thương 1/3 trên khí quản thường do ñặt ống kéo dài hoặc do hít hoặc uống phải hóa chất Sẹo

hẹp hoặc/và rò khí quản thực quản làm cho khó có thể rút ống mở khí quản Để ống càng lâu, mức ñộ

hẹp và rò càng nặng Với loại tổn thương này chúng tôi luôn mở ñường cổ ngang qua và bao gồm lỗ

mở khí quản (stoma)

Tổn thương khí quản 1/3 giữa thường gặp do chấn thương, vết thương hoặc hẹp dưới chỗ mở khí

quản ñể lâu, nó cũng thường phối hợp với rò khí thực quản như ñối với tổn thương 1/3 trên Đây là vị

Trang 5

trí rất khó tiếp cận nếu chỉ mổ ở cổ hoặc mở ngực phải Với ñường mở cổ thì tổn thương ở quá thấp và

với ñường mở ngực phải thì tổn thương lại ở quá cao Với những ñường mổ này vẫn có thể tiếp cận

tổn thương ñược nhưng khó khăn và có thể không xử lý hết ñoạn tổn thương cần thiết, dễ gây hẹp tái

phát Đường thích hợp nhất là phối hợp mở cổ với chẻ xương ức bán phần hoặc toàn phân, khí quản

ñược tiếp cận qua việc mở màng tim và tách rẽ tĩnh mạch chủ trên và phần lên của quai ñộng mạch

chủ Tuy nhiên ñường mổ này phức tạp hơn và cần có kinh nghiệm phẫu thuật

Vị trí tổn thương khí quản 1/3 dưới, carina và phế quản gốc thường là do chấn thương Những tổn

thương này không ñược chú ý ñúng mức trong lần nhập viện ñầu (ngay khi bị chấn thương) Sau một

thời gian, những tổn thương này trở thành vấn ñề, khó thở dữ dội với chấn thương khí quản và xẹp

phổi hoàn toàn với tổn thương phế quản gốc bên phổi xẹp Bệnh nhân tới khám và ñược phát hiện tổn

thương Thường thì các phế quản gốc hẹp nặng hoặc ñứt rời Khí quản thì có thể hẹp 1,2 hoặc 3 chỗ

như một trường hợp mà chúng tôi ñã gặp Đường tiếp cân tốt nhất là mở ngực phải cho những tổn

thương khí quản, carina và phế quản gốc phải Tổn thương phế quản gốc trái ñơn thuần thì nên mở

ngực trái

A Với khí quản cổ: có thể nối tận tận cho ñoạn mất dài tới 4 cm Nếu bóc tách vào lồng ngực có thể thêm 1,5

cm

B Với khí quản ngực: cho phép tới 3 cm Nếu bóc tách phế quản gốc 2 bên và ñặc biệt là phế quản gốc trái thì

thêm ñược 2,5cm

Mất ñoạn khí quản lớn là một vấn ñề quan trọng trong phẫu thuật Tuyên bố của Belsey ñã không

còn phù hợp do những tiến bộ của phẫu thuật và gây mê hồi sức Khi gập ñầu hoàn toàn, khí quản cổ

gần như nằm hoàn toàn trong ngực và nếu có bóc tách tốt, khí quản ngực cũng có thể ñưa lên cổ khá

nhiều Bóc tách thêm hai phế quản gốc thì khả năng di ñộng của khí quản ngực càng lớn Xẻ màng tim

dưới rốn phổi cũng có thể góp phần kéo khí quản lên trên thêm ñược tới gần 1cm

Trong nhóm tổn thương muộn, mất ñoạn lớn thường hay gặp, thách thức cho việc nối tận tận

Trong nghiên cứu này, tổn thương mất ñoạn phổ biến từ 2-4 cm, không phải là vấn ñề lớn cho nối tận

Trường hợp mất ñoạn lớn hơn cần thận trọng, bóc tách ñủ hơn, ñặt mũi khâu gần nhau hơn, cần có 2-

3 m mối anchor (mối ñính kéo) và thời gian khâu gập ñầu cần ñể lâu hơn Trường hợp bung mối nối

của chúng tôi tuy là mất ñoạn lớn nhưng cũng một phần do cắt mối khâu gập ñầu sớm vào ngày thứ 2

sau mổ Những trường hợp sau chúng tôi ñể tới 4 – 6 ngày cho kết quả tốt hơn

Trang 6

Rò khí thực quản mà không có hẹp khí quản cũng không phải là hiếm, nhưng có sự khác nhau

giữa nhóm ñược phẫu thuật sớm và muộn Macchiarini tổng kết kinh nghiệm trong 18 năm có 32 ca

rò khí thực quản ñược phẫu thuật sớm chỉ có 13 ca có hẹp khí quản phối hợp, trong ñó 3 ca hẹp dưới

thanh môn và 10 ca hẹp khí quản (4) Trong 7 ca rò khí thực quản tới muộn, chúng tôi chỉ gặp có 1 ca

không có hẹp khí quản còn 6 ca còn lại ñều có hẹp khí quản

Khâu ñường rò thực quản thực chất là tách rời thực quản khỏi khí quản và khâu lại mặt trước thực

quản Nhiều tác giả khuyến cáo nên ñể một ít cơ hay màng giữa thực quản và khí quản ñể phòng tái rò

nhưng trong thực tế chúng tôi không áp dụng và không thấy có rò trở lại

KẾT LUẬN

Phẫu thuật tổn thương muộn khí quản và rò khí quản – thực quản là hoàn toàn khả thi cho dù tổn

thương ở những vị trí phức tạp, ñoạn khí quản tổn thương lớn và có rò khí thực quản Kết quả phẫu

thuật khả quan, cứu sống người bệnh ở những trường hợp chấn thương có ñứt rời phế quản gốc ñến

muộn Trả lại cuộc sống bình thường cho những có mở khí quản và mở ñường tiêu hóa nuôi ăn dài

ngày Phẫu thuật phục hồi mất ñoạn khí quản không còn giới hạn ở mốc 2cm như Belsey ñã từng

tuyên bố năm 1950 mà ñã ñược nới rộng rất nhiều tùy thuộc vào cơ sở ngoại khoa và kinh nghiệm

phẫu thuật Tỷ lệ thành công ở mức 90,5% và tỷ lệ tử vong bằng không ở nghiên cứu này cho thấy lợi

ích của việc phẫu thuật Từ những ca thất bại, chúng tôi mạnh dạn khuyến cáo mở xương ức trong

trường hợp tổn thương khí quản1/3 giữa và cắt bỏ triệt ñể tổn thương khí quản cho tới khẩu kính bình

thường mà không sợ mất ñoạn khí quản lớn Bóc tách rộng rãi và phối hợp cổ ngực cho phép nối tận

tận khí quản ở mức ñộ mất ñoạn khá lớn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Belsey R Resection and reconstruction of the intrathoracic trachea Br J Surg 1950; 38:200

Larynx 2003 Feb;30 Suppl:S69-73

4 Macchiarini et al Evaluation and outcome of different surgical technique for postintubation tracheoesophageal fistulas J Thorac

Cardiovasc Surg 2000;119:268-76)

2003 Aug;260(7):374-80

1991;52:759-65

Ngày đăng: 21/01/2020, 05:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w