1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát liên quan giải phẫu khí hóa mấu giường trước và thần kinh thị ứng dụng trong phẫu thuật sàn sọ trước

7 96 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 480,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát mối liên quan giải phẫu của sự khí hóa mấu giường trước (MGT) và dây thần kinh thị (TKT) bằng phân tích hình ảnh CTscan. Qua đó chúng tôi nêu tính ứng dụng trong phẫu thuật vùng sàn sọ trước.

Trang 1

KHẢO SÁT LIÊN QUAN GIẢI PHẪU KHÍ HÓA   MẤU GIƯỜNG TRƯỚC VÀ THẦN KINH THỊ  ỨNG DỤNG TRONG PHẪU THUẬT SÀN SỌ TRƯỚC 

Huỳnh Lê Phương* 

TÓM TẮT 

Mục đích: Khảo sát mối liên quan giải phẫu của sự khí hóa mấu giường trước (MGT) và dây thần kinh thị 

(TKT) bằng phân tích hình ảnh CTscan. Qua đó chúng tôi nêu tính ứng dụng trong phẫu thuật vùng sàn sọ 

trước.  

Đối tượng và phương pháp: Với những tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ, chúng tôi có 80 người trưởng 

thành chụp CT scan đầu tại bệnh viện Chợ Rẫy đưa vào khảo sát. Với phần mềm phân tích các yếu tố liên quan 

về giải phẫu của động mạch cảnh trong và xoang bướm được khảo sát và phân tích trên các mặt phẳng 3D.  

Kết  quả: Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận sự khí hóa MGT xảy ra 18,5% cho các bên với 22,5% các 

MGT bên phải và 20% cho bên trái. Sự khí hóa MGT có sự liên quan sự tạo lồi vào phía trong thành bên XB của  ống thần kinh thị (OTKT) và TKT với 58,7 % các bên phải trái (n=160) trên mức ½ đường kính TKT hoặc lồi  hẳn vào xoang. Đặc biệt TKT chạy trong xoang bướm và xoang sàng chiếm tỉ lệ 27,5%.  

Kết  luận:  Mối liên hệ giải phẫu giữa sự khí hóa MGT và TKT là một trong những biến đổi đặc thù giải 

phẫu của xoang bướm cạnh mũi. Khảo sát và đánh giá trước mổ vùng MGT và các xoang sàn sọ trước bằng CT  scan giúp phẫu thuật viên chủ động thao tác và tránh những biến chứng trong phẫu thuật.  

Từ khóa: Mấu giường trước; Thần kinh thị; Sự khí hóa; Xoang bướm  

ABSTRACT  

RELATIONSHIP OF SURGICAL ANATOMY IN PNEUMATIZATIONOF THE ANTERIOR CLINOID  PROCESS AND OPTIC NERVE – APPLICATIONS IN ANTERIOR SKULLBASE SURGERY 

Huynh Le Phuong* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 143 ‐ 149 

Purpose: We sought to investigate the surgical anatomical relation of the pneumatization of anterior clinoid 

process and optic nerve. Through that we delineate the surgical applications in anterior skullbase surgery.  

Methods:  CT scan imaging studies obtained in 80 healthy adults who have no sellar and sphenoid sinus 

lesions were reviewed. The anatomical measurements were made on various dimensions using the multiplanar  reconstruction technique that were analyzed.  

Results:  All  of  anterior  clinoid  process  in  this  radiological  study  had  shown  that  18.5%  of  all  have  been 

pneumatized,  with  22.5%  và  20%  for  right  side  and  left  side,  respectively.  There  was  the  relationship  in  pneumatization  between  the  anterior  clinoid  process  and  the  optic  nerve.  The  prevalence  of  the  optic  canal  protrusion  in  this  study  was  58.7%  of  all  sides.  Specially,  the  optic  nerve  couring  through  the  sphenoid  and  ethmoidal sinuses was 27.5%.  

Conclusion: This study highlights the variants of surgical anatomy in the pneumatization of the anterior 

clinoid process with relationship to the optic nerve. Therefore, to avoid the surgical complication, the axial and  coronal CT sections should always be obtained prior to any surgery in the paraclinoid and sphenoid sinus area.  

* Khoa Ngoại thần kinh ‐ Bệnh viện Chợ Rẫy 

Tác giả liên lạc: TS. BS Huỳnh Lê Phương   ĐT: 0909225188   Email: phuongsds@yahoo.com 

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Sự  khí  hóa  của  xương  vùng  sàn  sọ  dẫn  tới 

những biến đổi giải phẫu là hiện tượng thường 

gặp.  Đặc  biệt,  xoang  bướm  và  những  cấu  trúc 

xương kề cận có thể thể hiện nhiều mức độ khí 

hóa khác nhau. Mấu giường trước (MGT) kề cận 

với  dây  thần  kinh  thị  (TKT),  nhóm  xoang  cạnh 

mũi đặc biệt xoang bướm được xem như là vị trí 

giải phẫu chịu nhiều khí hóa. Một khi sự khí hóa 

này  xảy  ra  quá  mức,  những  biến  đổi  giải  phẫu 

này cần được ghi nhận như những tỉ lệ thường 

gặp  cũng  như  những  nét  cần  lưu  ý  trong  ứng 

dụng phẫu thuật(1,5,6,14).  

Trong thực tế phẫu thuật, việc lấy đi cấu trúc 

MGT  đã  được  nhấn  mạnh  như  bước  cần  có 

trong  các  đường  mổ  để  đến  đích  phẫu  thuật. 

Tuy  nhiên,  thao  tác  lấy  bỏ  MGT  không  thể 

không có nguy cơ biến chứng ngoại khoa. Thêm 

nữa,  trong  phẫu  thuật  nội  soi  qua  mũi  xoang 

bướm  hay  qua  xoang  bướm  hố  yên,  các  biến 

chứng tổn thương TKT cũng thường gặp. Trong 

y  văn  thế  giới  đã  có  nhiều  nghiên  cứu  đưa  ra 

những nhận định về tính đa dạng biến đổi cấu 

trúc giải phẫu, mối liên quan giải phẫu của MGT 

với  những  cấu  trúc  giải  phẫu  xung  quanh  như 

hành lang phẫu thuật nhằm giúp ứng dụng thực 

hành  trong  phẫu  thuật  vùng  cạnh  yên,  xoang 

bướm‐hố yên. Ngoài ra, cũng đã có những báo 

cáo cảnh báo về những tai biến có thể tránh do 

chính  những  biến  đổi  giải  phẫu  bởi  sự  khí  hóa 

vùng  xoang  bướm  sàn  sọ  trước  gây  ra  trong 

phẫu thuật(1,5,9,12,14).  

Tại Việt Nam, dưới góc  độ  ngoại  thần  kinh 

chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung đặc 

điểm biến đổi giải phẫu do sự khí hóa của MGT 

và  TKT.  Nhận  thấy  lợi  ích  của  việc  nắm  vững 

kiến  thức  về  hình  thái  giải  phẫu  đa  dạng  của 

MGT trong mối liên hệ với TKT trong sự khi hóa 

từ  xoang  bướm  sẽ  hữu  ích  trong  việc  đánh  giá 

ảnh  hưởng  khí  hóa  của  MGT  bằng  phân  tích  hình ảnh CT scan. Trong báo cáo này chúng tôi  trình bày kết quả khảo sát về biến đổi giải phẫu 

do khí hóa của MGT và mối liên quan với TKT 

và qua đó đánh giá tính hữu hiệu và ứng dụng 

của CT scan trong chẩn đoán trước mổ.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Mẫu  nghiên  cứu  được  thu  thập  từ  nhóm  mẫu  là  những  người  đến  chụp  CT  scan  vùng  đầu mặt:  

 Bao gồm 80 người có yêu cầu đến chụp CT  scan  đầu  với  lý  do  nhức  đầu  không  rõ  nguyên  nhân,  chọn  ngẫu  nhiên  trong  khoảng  tháng  9/2010 đến 10/2010 tại Bệnh viện Chợ Rẫy. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

Bệnh nhân nam nữ, tuổi từ 18 trở lên. 

Bệnh nhân được chụp CT scan đầu khảo sát 

cả vùng mũi xoang. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân có tiền sử chấn thương vùng đầu  mặt. 

Bệnh  nhân  có  tiền  sử  phẫu  thuật  vùng  mũi  xoang và đầu mặt. 

Bệnh nhân được phát hiện bệnh lý vùng đầu  mặt, xoang qua hình ảnh CT scan. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 

Phương tiện nghiên cứu 

Các hình ảnh CT scan vùng đầu ghi được từ  máy  CT  scan  đa  lát  cắt.  Thông  số  kỹ  thuật  xác  lập trên máy CT để đạt hình ảnh tối ưu: Eff.maS:  180; KV: 120; Collimation: 40 × 0.6; Slice: 0.9mm,  Re.increment: 0.4 mm; Kernel: H70h Very sharp;  Window:  (Osteo.)  C:  400;  W:  2.000.  Hình  ảnh  được  dựng  lại  MPR  cho  3  mặt  phẳng:  mặt  phẳng trục (Axial); mặt phẳng trán (Coronal) và 

Trang 3

Đánh  giá  mối  liên  hệ  giữa  thần  kinh  thị  và 

mấu giường trước:  

Khảo sát sự khí hóa mấu giường trước. 

Khảo  sát  độ  lồi  của  thần  kinh  thị  liên  quan 

với sự khí hóa mấu giường trước. 

Phương pháp tiến hành nghiên cứu 

Data về hình ảnh được lưu lại vào đĩa DVD 

và sau đó trên máy tính hình ảnh CT được phân 

tích  bằng  phần  mềm  eFilm  Workstation  2.1.0. 

(MERGE Healthcare Co. 2005).  

KẾT QUẢ  

Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Với mẫu nghiên cứu, chúng tôi có hình ảnh 

CT scan vùng MGT cạnh yên từ 80 cá thể trong 

mẫu,  được  xem  như  160  vùng  MGT  (phải  và 

trái).  

Phân bố theo tuổi 

Mẫu nghiên cứu trên CT scan ngẫu nhiên cắt 

ngang của 80 đối tượng. 

Bảng1: Phân bố theo nhóm tuổi  

Tuổi 18-20 21-30 31-40 41-50 51-60 61-70 71-80 81-90 TS

Số BN 7 13 17 21 16 1 4 1 80

Tỉ lệ % 8,3 16,6 21,6 25 20 1,6 5 1,6 100

Nhận xét: Tuổi nhỏ nhất là 18, tuổi lớn nhất 

là 88. Tuổi trung bình (mean) là 42, 4. Tuổi trung 

vị (median) là 42.  

Phân bố mẫu theo giới 

Bảng 2: Phân bố theo giới   

Nhận xét: trong mẫu nghiên cứu, kết quả nữ 

giới  chiếm  tỉ  lệ  2:1  so  với  nam  giới.  Chúng  tôi 

dùng phép kiểm định thống kê  để  kiểm  chứng 

các biến, không ảnh hưởng bởi tỉ lệ trên.  

Liên  quan  giải  phẫu  động  mạch  cảnh  trong và xoang bướm 

Khí hóa mấu giường trước 

Bảng 3: Khí hóa mấu giường trước (MGT) theo phải 

và trái  

Khí hóa không hoàn toàn

Khí hóa hoàn toàn

MGT phải 6 (7,5%) 10 (12,5%) 16/80 (20,0%) MGT trái 8 (10%) 10 (12,5%) 18/80 (22,5%)

∑ /160 14/160 (8,75%) (12,5%) 20/160 (21,25%) 34/160

Nhận xét: bằng phép kiểm thống kê (Signed 

ranks  Wilcoxon,  P<0,05),  cho  thấy  không  có  sự  khác biệt có ý nghĩa giữa bên phải trái trong sự 

xuất hiện khí hóa mấu giường trước.  

Bảng 3: Khí hóa mấu giường trước (MGT) đồng thời 

hai bên  

Khí hóa không hoàn toàn

Khí hóa hoàn toàn

MGT cả hai bên

8/80 (10,%) 7/80 (8,75%) 15/80

(18,5%)

Nhận  xét:  18,5%  được  ghi  nhận  những 

trường  hợp  có  đồng  thời  khí  hóa  MGT  cả  hai  bên.  

Khí hóa ống thần kinh thị / Thần kinh thị  

Bảng 4: Mối liên quan vị trí dây thần kinh thị với 

xoang bướm và xoang sàng  

Lồi vào

XB <1/2

D dây

TK

Lồi vào

XB >1/2

D dây

TK

Lồi gần hoàn toàn

Không thấy lồi dây TK

Lồi vào xoang sàng

TK II phải (32,5%)26 (32,5%)26 8 (10%) 6 (7,5%) (17,5%)14 (100%)80

TK II trái (37,5%)30 24 (30%) 8 (10%) 4 (5%) (17,5%)14 (100%)80

∑/80 56 (35%) (31,2%)50 (10,4%) 16 (6,2%) 10 (17,1%)28 (100%)160

Nhận xét: Qua bảng 4, nghiên cứu cho thấy tỉ 

lệ tế bào sàng sau (Onodi) khí hóa lan rộng ra sau  trên  chiếm  17,1%  dẫn  tới  dây  thần  kinh  thị  lồi  chạy  trong  xoang  sàng.  Trong  khi  đó,  tỉ  lệ  dây  thần kinh lồi hẳn chạy trong xoang bướm chiếm  10,4%.  

Khí hóa MGT phải

Trang 4

Hình 1.A: Hình CT scan, thiết diện trán (coronal) của một đối tượng trong nghiên cứu, minh họa sự khí hóa 

mấu giường trước do sự phát triển tế bào sàng sau gây ra tình trạng dây thần kinh thị chạy trong XB. Hình 1.B: 

Hình CT scan, thiết diện phẳng ngang (axial) của một đối tượng trong nghiên cứu khác, minh họa sự khí hóa  mấu giường trước và dây thần kinh thị chạy tự do trong XB và XS. Hai gối trước của động mạch cảnh trong  đoạn xoang hang cũng được nhìn thấy.  

BÀN LUẬN 

Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Tuổi 

Dân  số  trong  mẫu  nghiên  cứu  lấy  từ  tuổi 

trưởng  thành  từ  18  tuổi  đến  88,  lứa  tuổi,  vùng 

xoang cạnh mũi và sàn sọ đã phát triển đầy đủ. 

Do đó, mẫu nghiên cứu không bị ảnh hưởng bởi 

yếu tố tuổi. Đã có tác giả cho rằng yếu tố tuổi có 

ảnh  hưởng  đến  sự  khí  hóa  của  xoang  cạnh 

mũi(9),  chúng  tôi  sẽ  tiếp  tục  nghiên  cứu  vấn  đề 

này sau với một mẫu dân số đông hơn.  

 Giới 

Nghiên cứu của chúng tôi theo thiết kế mô tả 

cắt ngang, và mẫu dân số được lấy theo tiêu chí 

đưa ra (phần phương pháp và đối tượng) ngẫu 

nhiên không lựa chọn trong một thời điểm ngẫu 

nhiên. Dù vậy, qua thống kê theo biến giới tính 

cho  thấy  tỉ  lệ  Nam  và  Nữ:  ½:1.  Tuy  nhiên,  với 

phép  kiểm  thống  kê  (Mann‐Whitney  U)  chúng 

tôi  vẫn  có  thể  phân  tích  và  tìm  hiểu  có  hay 

không có sự khác nhau giữa giới tính trong các 

biến nghiên cứu (phần sau). Tỉ lệ dân số nữ lớn 

hơn dân số nam cũng có thể lý giải bởi nữ giới 

quan  tâm  đến  bệnh  tật  nhiều  hơn  nam  (chụp 

hình  kiểm  tra  sớm  khi  có  triệu  chứng  bất 

có thời gian hơn.  

Đặc  điểm  khí  hóa  MGT  qua  phân  tích  hình ảnh CT scan 

Do  về  mặt  cấu  trúc  giải  phẫu,  MGT  là  một  đầu xương hướng vào cực trong của bờ sau cánh 

bé  xương  bướm.  Chung  quanh  MGT  được  bao  quanh bởi những cấu trúc giải phẫu quan trọng  như:  động  mạch  cảnh  trong  (ĐMCT),  ống  thần  kinh thị (OTKT): ngăn cách với MGT phía ngoài  sau bởi vách ngăn thị (optic strut), dây thần kinh  thị  (TKT),  xoang  bướm/xoang  sàng,  nên  việc  nắm  vững  chi  tiết  giải  phẫu  liên  quan  MGT  và  đặc biệt những biến đổi khí hóa thường gặp của  MGT là cần thiết. Những đánh giá giải phẫu này 

có  thể  được  nhận  dạng  trước  mổ  bởi  tận  dụng  phương  tiện  chẩn  đoán  hình  ảnh  học  CT  scan  nhằm  đạt  hiệu  quả  điều  trị  cũng  như  tránh  những  biến  chứng  đáng  tiếc  trong  mổ.  Trong  nghiên cứu này, chúng tôi đề cập tới sự khí hóa  mấu giường trước là tâm điểm.  

Sự khí hóa mấu giường trước 

Mấu giường trước được xem nằm thành bên 

ở  góc  trước  trên  và  ngoài  của  xoang  bướm  và  ngay sau ngoài tế bào sàng sau. MGT bị khí hóa  khi có sự chi phối của sự khí hóa quá mức của  một  hoặc  cả  hai  cấu  trúc  giải  phẫu  trên:  Xoang 

TKT trái TKT phải

Khí hóa MGT trái

Khí hóa MGT phải

B A

Trang 5

phải  (n=80),  22,5%  bên  trái  tương  tự  và  21,5% 

cho  trường  hợp  tính  chung  cả  hai  bên  (n=160). 

Bằng phép kiểm thông kê, chúng tôi không thấy 

có sự khác biệt giữa bên phải và trái trong sự khí 

hóa MGT (Bảng 3). Tương tự, chúng tôi cũng ghi 

nhận sự khí hóa MGT đồng thời cả hai bên trên 

một  cá  thể  chiếm  18,5%  (n=80).  Vì  có  những 

trường  hợp  chỉ  khí  hóa  MGT  bên  phải  hay 

ngược lại bên trái nhưng không có đồng thời cả 

hai bên trên cùng một người, cũng như một bên 

khí hóa hoàn toàn và đối bên chỉ khí khóa không 

hoàn toàn, và tỉ lệ cho từng bên có ý nghĩa trong 

thực tế lâm sàng hơn nên chúng tôi không cộng 

dồn các tỉ lệ trên như một số báo cáo trong y văn 

cũng như đi phân tích sự khác biệt(4,14).  

Tuy nhiên, theo phân chia mức độ khi hóa 

của MGT của tác giả Mikami(11) chúng tôi đơn 

giản  cách  gọi  như:  khí  hóa  không  hoàn  toàn 

(chỉ  khí  hóa  vách  ngăn  thị  ((optic  strut))  hay 

chân  trước  ((anterior  root))  của  MGT)  và  khí 

hóa  hoàn  toàn  (tức  khí  hóa  cả  hai  vách  ngăn 

thị  và  chân  trước  MGT).  Sự  khí  hóa  không 

hoàn  toàn  của  chỉ  vách  ngăn  thị  hay  khí  hóa 

hoàn  toàn  sẽ  có  ý  nghĩa  trong  phẫu  thuật  mà 

chúng tôi sẽ bàn luận trong phần dưới. Chúng 

tôi ghi nhận có 12,5% MGT khí hóa hoàn toàn 

trong  tổng  số  hai  cạnh  (n=160)  và  8,75%  các 

trường hợp MGT khí hóa không hoàn toàn.  

Dù mẫu dân số nghiên cứu khác nhau về địa 

lý, nhưng kết quả của chúng tôi ghi nhận có sự 

hiện  diện  khí  hóa  của  MGT  khoảng  20%  tính 

chung. Kết quả này không khác với những báo 

cáo trong y văn thế giới mà nhiều nghiên cứu đã 

cho  thấy  tỉ  lệ  khí  hóa  thay  đổi  từ  4  đến 

29,3%(4,6,7,13,14).  

Lồi ống thần kinh / dây thần kinh thị 

Về mặt giải phẫu, TKT trong OTKT nằm sát 

ngay trước trong với MGT. Sự khí hóa quá mức 

của  xoang  bướm  hay/và  tế  bào  sàng  sau,  lan 

rộng tới MGT sẽ gây lồi OTKT vào thành xoang 

bướm/xoang  sàng.  Khi  sự  khí  hóa  MGT  xảy  ra 

hoàn toàn, OTKT hầu như nằm hẳn trong xoang 

bướm hoặc có thể trong xoang sàng(2,3,9,11,12).  

Có nhiều nghiên cứu của y văn thế giới báo 

cáo về sự khí hóa của xoang bướm hay/và xoang  sàng  lên  hiện  tượng  lồi  hay  nằm  trong  xoang  của OTKT / TKT. Một biên độ kết quả rất khác  nhau  giữa  các  nghiên  cứu  ghi  nhận  về  hiện  tượng  biến  đổi  giải  phẫu  này  với  tỉ  lệ  từ  8  đến  98% các mẫu nghiên cứu cho tất cả các dạng lồi  của OTKT. Sự giải thích sự khác nhau được cho  rằng các mẫu nghiên cứu khác nhau về địa lý, cỡ  mẫu,  phương  pháp  nghiên  cứu  (phẫu  tích  xác, 

CT  scan  đa  lát  cắt  khác  nhau  hoặc  với  những  khoảng  cách  lát  cắt  khác  nhau).  Trong  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  phân  chia  sự  lồi  của  OTKT  vào xoang thành 5 loại với kết quả tỉ lệ ghi nhận  từng loại như ở bảng 4. Tổng của tỉ lệ OTKT lồi 

>1/2 đường kính dây thần kinh và tỉ lệ OTKT lồi  hẳn cho kết quả 58,7% các trường hợp cả phải và  trái (n=160).  

Tuy nhiên, một thực tại là tỉ lệ OTKT lồi hay  nằm trong xoang bướm/xoang sàng có liên quan  với sự khí hóa MGT(4,14). Có thể xem một khi có 

sự  hiện  diện  khí  hóa  MGT,  đây  sẽ  là  một  dấu  hiệu quan trọng để xem như có thể kèm theo sự  lồi/nằm  trong  của  OTKT  trên  thành  xoang  bướm/xoang sàng. Điều này có thể hiểu qua hai 

cơ chế khả dĩ sau: 1/ sự khí hóa quá mức của tế  bào  nền  xoang  bướm  sang  bên  khiến  OTKT  bị  bộc lộ trên thành bên đầu tiên để kế tiếp khí hóa  MGT. 2/ sự khí hóa của MGT có thể độc lập phát  triển  quá  mức  gây  nên  OTKT  bị  bộc  lộ  trong  xoang  bướm.  Giả  thiết  đầu  được  cũng  cố  bởi  nhiều nghiên cứu khi tỉ lệ OTKT lộ trong xoang  nhiều hơn tỉ lệ MGT bị khí hóa(2,4).  Kết  quả  của  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cũng  phù  hợp  với 

nhận định này.  

Ý nghĩa lâm sàng 

Lấy  bỏ  MGT  ngày  nay  đã  trở  thành  một  bước  cần  có  trong  nhiều  đường  mổ  để  tiếp  cận/bộc  lộ  vùng  đích  đến  như  vùng  cạnh  mấu  giường, bộc lộ/di chuyển TKT, tạo phẫu trường  rộng trong các trường hợp túi phình quanh gốc  động mạch mắt, u màng não cạnh mấu giường, 

u  tuyến  yên  to,  các  sang  thương  phần  trên  của  động  mạch  thân  nền.  Tuy  nhiên,  một  trong  những  biến  chứng  của  thao  tác  lấy  bỏ  MGT  là 

Trang 6

nguy  cơ  xâm  phạm  vào  xoang  bướm/xoang 

sàng. Nguy cơ biến chứng này tăng cao một khi 

MGT bị khí hóa và trường mổ lạc vào XB không 

được xử trí làm kín dẫn đến biến chứng rò dịch 

não tủy vào xoang. Chúng tôi không đề cập vấn 

đề  xử  trí  biến  chứng  rò  trong  báo  cáo  này.  Khí 

hóa MGT có thể được ghi nhận bởi sự đánh giá 

trước mổ bằng khảo sát MGT trên hình ảnh CT 

scan. Việc đánh giá trước mổ để ghi nhận sự khí 

hóa  MGT  từ  xoang  bướm  hay  xoang  sàng  có  ý 

nghĩa tìm kiếm lổ rò trong việc phẫu thuật xử trí 

biến chứng rò dịch não tủy sau mổ như là biến 

chứng của lấy MGT. Sự hiện diện khí hóa MGT 

không đồng nghĩa chống chỉ định lấy MGT mà 

rằng  đó  là  dấu  hiệu  nhắc  nhở  phẫu  thuật  viên 

cẩn thận trong thao tác, giữ lại nguyên vẹn niêm 

mạc  xoang  đẩy  vào  xoang  hoặc  làm  kín  xoang 

sau phẫu thuật(7,11).  

Trong  phẫu  thuật  qua  mũi  nội  soi  xoang 

bướm/qua  xoang  bướm  hố  yên,  một  đánh  giá 

trước mổ bằng khảo sát CT scan là cần thiết để 

ghi nhận có hay không sự khí hóa quá mức sang 

bên của xoang bướm hay tế bào sàng sau, MGT 

bị khí hóa hay không? Điều này được xác định 

đồng nghĩa với thành bên xoang sẽ mỏng và tỉ lệ 

thường  gặp  của  TKT  và  cả  động  mạch  cảnh 

trong lồi vào xoang. Đặc biệt khi OTKT chạy tự 

do trong xoang, thành xương của OTKT thường 

mỏng hay tách xương (dehiscence) dẫn tới chấn 

thương TKT trong thao tác mổ. Mặc dù, phương 

pháp  nội  soi  qua  mũi  để  vào  xoang  bướm  hay 

qua xoang bướm vào hố yên là phương pháp ít 

xâm  lấn  nhưng  trường  mổ  thường  hẹp  và  khi 

phẫu thuật viên không lưu tâm yếu tố biến đổi 

giải phẫu trên sẽ dễ có nguy cơ biến chứng tổn 

thương TKT(5,8,12).  

Hình ảnh xoang bướm trên CT scan 

Sự  phát  triển  và  cải  tiến  kỹ  thuật  trong  CT 

scan đã trải qua nhiều thế hệ máy, từ những CT 

scan 4 lát cắt, độ phân giải thấp đến những thế 

hệ  máy  đa  lát  cắt  gần  đây  với  những  lát  cắt 

vậy,  với  thiết  diện  mặt  phẳng  trục  ngang,  mặt  phẳng trán và mặt phẳng trán dọc, hình ảnh XB  trên  CT  scan  có  thể  khảo  sát  theo  3  trục  không  gian. Qua đó, CT scan có thể khảo sát được xự  hiện  diện  các  mốc  giải  phẫu  cũng  như  những  biến đổi giải phẫu thường gặp của vùng xoang  bướm, cạnh yên, MGT. Đặc biệt, CT scan có thể  ghi nhận được mối tương quan của thần kinh và  mạch máu trong XB như: sự lồi của động mạch  cảnh,  thần  kinh  thị,  thần  kinh  V2,  thần  kinh  Vidian trên các thành của XB(3,8,9).  

Ngày  nay,  trong  sự  phát  triển  vũ  bão  của  lĩnh  vực  chẩn  đoán  hình  ảnh,  cộng  hưởng  từ  (MRI)  đã  góp  phần  hữu  hiệu  trong  chẩn  đoán  các  bệnh  lý  đầu  sọ,  không  ngoại  trừ  XB.  Tuy  nhiên,  giá  trị  thiết  thực  của  CT  scan  trong  việc  đánh  giá  trước  phẫu  thuật  nội  soi  mũi  xoang  không hề thay đổi. Cùng quan điểm với các tác  giả  nghiên  cứu  trước(3,4,8,12)  chúng  tôi  cho  rằng  việc  thực  hiện  chụp  một  CT  scan  có  tái  tạo  3  thiết  diện  trước  phẫu  thuật  nội  soi  xoang  mũi,  đặc  biệt  XB,  là  một  điều  cần  thiết.  Trên  thực  tế  lâm sàng, tình trạng bệnh lý có thể gây chèn ép, 

xô  lệch  hay  bào  mòn  các  cấu  trúc  giải  phẫu,  nhưng  việc  khảo  sát  CT  scan  trước  mổ  sẽ  giúp  phẫu  thuật  viên  nội  soi  xoang  mũi  đánh  giá  được tình trạng giải phẫu vùng xoang bướm của  người  bệnh,  xác  định  được  các  mốc  giải  phẫu  định hướng, biết được những biến đổi giải phẫu  thông  thường  hay  do  bệnh  lý  gây  ra  nhằm  có  trước một tiên lượng cho một kế hoạch mổ cũng  như  hạn  chế  tối  đa  các  nguy  cơ  biến  chứng  có  thể  xảy  ra  của  một  phẫu  thuật  nội  soi  vùng  xoang cạnh mũi(12)  

KẾT LUẬN 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  ghi  nhận  có  tỉ  lệ  không nhỏ  MGT  bị  khí  hóa  chiếm  20%  cho  các  MGT bên phải (n=80), 22,5% bên trái tương tự và  21,5%  cho  trường  hợp  tính  chung  cả  hai  bên  (n=160). Trong mối liên quan với sự khí hóa trên, 

tỉ lệ OTKT lồi >1/2 đường kính dây thần kinh và 

Trang 7

hố yên là thiết thực bằng khảo sát hình ảnh CT 

scan 3 thiết diện.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO  

variantions  of  the  paranasal  sinuses:  CT  examination  for 

endoscopic sinus surgery”. Auris Nasus Larynx. 26, pp: 39‐48.  

to  optic  nerve  protrusion  according  to  sinus  computed 

tomography. Otolaryngology Head‐Neck Surg. 134:499‐505.  

aided  computed  tomography  analysis  of  sphenoid  sinus 

anatomical relationships. Am J Rhinol 18:173‐178.  

nerve to the posterior paranasal sinuses: a CT anatomic study. 

Am J Neuroradiol 17:669‐675.  

anatomy of the sphenoid sinus on the CT using multiplanar 

reconstruction technique”. Otolaryngo‐Head and Neck Surg. 

138, pp:182‐186.  

anterior  clinoid  mimicking  an  aneurysm  on  MR  imaging: 

Report of two cases. J Neurosurg 71:128‐132.  

the anterior clinoid process. J Clin Neurosci 11:283‐287.  

vách  ngăn  xoang  bướm‐Ứng  dụng  phẫu  thuật  qua  xoang  bướm hố yên”. Y Học Tp Hồ Chí Minh. 16, Phụ bản 4, tr:282‐

288.  

variations of the sphenoid sinus on computed tomography”.  Rhinology. 43, pp:109‐114.  

variations  of  computed  tomography  scans  of  the  sinuses:  A  surgeon’s perspective”. Laryngoscope. 108, pp:422‐425  

pneumatization  of  the  anterior  clinoid  process.  J  Neurosurg  106:170‐174.  

complications in sphenoidotomy”. Otoloaryngol Clin N Am. 

43, pp: 839‐854.  

clinoidectomy. Technical note. J Neurosurg 69:529‐534. 

14 Sirikci  A,  Bayarit  YA,  et  al.  (2000).  “Variations  of  sphenoid  and related structures:. Eur Radiol. 10, pp: 844‐848.  

 

Ngày nhận bài báo        21‐1‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:    20‐3‐2013  Ngày bài báo được đăng:       20 – 4 ‐ 2013 

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 05:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w