1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tạo hình khúc nối bể thận - niệu quản kiểu cắt rời ở trẻ em: Những kinh nghiệm ban đầu

6 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 240,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu để góp phần đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tạo hình khúc nối bể thận - niệu quản kiểu cắt rời ở trẻ em. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC TẠO HÌNH KHÚC NỐI

BỂ THẬN – NIỆU QUẢN KIỂU CẮT RỜI Ở TRẺ EM:

NHỮNG KINH NGHIỆM BAN ĐẦU

Ngô Đại Hải*, Nguyễn Tuấn Vinh*, Vũ Lê Chuyên*

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: góp phần đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả của phẫu thuật nội soi sau phúc

mạc tạo hình khúc nối bể thận –niệu quản kiểu cắt rời ở trẻ em

Phương pháp nghiên cứu: Trong thời gian từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 12 năm 2011, tại khoa Niệu

bệnh viện Bình Dân, có 96 bệnh nhân hẹp khúc nối bể thận niệu quản nguyên phát được phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tạo hình, trong đó có 16 bệnh nhi tuổi từ 16 trở xuống Chúng tôi dùng bộ dụng cụ nội soi của Storz với ống kính 10mm, các trocar 5 và 10mm, đặt 3 hoặc 4 trocar ở vùng hông lưng sau khi đã bơm hơi bằng bong bóng để tạo khoang làm việc sau phúc mạc, tạo hình khúc nối kiểu cắt rời, khâu nối bểthận – niệu quản bằng chỉ Vicryl 4.0, có đặt thông JJ lưu trong lúc mổ, chuyển vị khúc nối khi có mạch máu bất thường chèn ép Bệnh nhân được rút thông JJ sau 4 – 6 tuần, sau 3 – 6 tháng hoặc 12 tháng thì siêu âm, chụp UIV hoặc xạ hình thận Chúng tôi ghi nhận và phân tích các dữ liệu của loạt ca bệnh nhi này trước mổ, trong mổ và sau mổ

Kết quả: Tất cả 16 ca bệnh nhi đều được phẫu thuật thành công qua ngã nội soi sau phúc mạc Thời gian

mổ trung bình là 123,13 phút (90 – 195) Lượng máu mất trung bình là 8,94 ml (3 – 30) Thời gian dùng thuốc giảm đau trung bình là 5,19 ngày (4 – 7) Thời gian nằm viện trung bình là 5,38 ngày (4 – 7) Mạch máu bất thường cực dưới được phát hiện trong 4 trường hợp (25%) Có 9 trường hợp bị tràn khí dưới da nhưng ở mức

độ nhẹ không cần xử trí đặc hiệu Không có biến chứng hậu phẫu Sau thời gian theo dõi trung bình là 29,5 tháng (7 – 72) có 15 ca có cải thiện trên lâm sàng và cận lâm sàng (93,8%), 1 ca thất bại được nội soi niệu quản xẻ hẹp bằng dao điện cho kết quả tốt

Kết luận: Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản kiểu cắt rời là một phẫu

thuật an toàn, hiệu quả có thể áp dụng trong điều trị ở trẻ em

Từ khóa: hẹp khúc nối bể thận – niệu quản, phẫu thuật nội soi sau phúc mạc

ABSTRACT

RETROPERITONEAL LAPAROSCOPIC DISMEMBERED PYELOPLASTY IN CHILDREN:

PRELIMINARY EXPERIENCES

Ngo Dai Hai, Nguyen Tuan Vinh, Vu Le Chuyen * Y hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 – No 4– 2012: 200 - 205

Objectives: to assess the feasibility, safety and efficacy of retroperitoneal laparoscopic dismembered

pyeloplasty for treating ureteropelvic junction (UPJ) obstruction in children

Materials and Methods: From May 2006 to December 2011, at Urology Departments of Binh Dan

Hospital, 96 patients with primary UPJ obstruction underwent retroperitoneal laparoscopic pyeloplasty, in which there were 16 children We used laparoscopic instruments of Storz with 10mm laparoscope, 5 -10mm trocars A three to four – port, balloon – dissecting technique was used The type of UPJ repair performed was dismembered Anderson – Hynes All anastomoses were completed intracorporally with 4.0 Vicryl sutures Ureteral transposition was performed as needed The JJ stent was removed after 4 to 6 weeks and ultrasonography, IVP or

* Khoa Niệu, Bệnh viện Bình Dân, TP Hồ Chí Minh

Trang 2

diuretic renal scan were performed at 3 to 6 months or 12 months as indicated The outcome of 16 pediatric patients was assessed during intraoperative and postoperative period

Results: All laparoscopical operations were successfully completed Mean operating time was 123.13

minutes (90 – 195) Mean estimated blood loss was 8.94 ml (3 – 30) Mean hospital stay was 5.38 days (4 – 7) A crossing vessel was found in 4 patients (25%) No remarkable intraoperative complication occurred, There were 9 cases of mild subcutaneous emphysema No postoperative complications Mean following up period was 29.5 months (7 – 72) Fifteen patients (93,8%) were asymptomatic and had improved hydronephrosis on IVP or UPJ drainage in diuretic renal scan One patient underwent retrograde endopyelotomy due to recurrent hydronephrosis at 20 months

Conclusions: In our condition, retroperitoneal laparoscopic dismembered pyeloplasty is a safe and effective

alternative treatment for UPJ obstruction in children

Key words: ureteropelvic junction obstruction, dismembered pyeloplasty, retroperitoneal laparoscopy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, trong các phương pháp điều trị

bệnh lý hẹp khúc nối bể thận niệu quản, phẫu

thuật nội soi ổ bụng tạo hình khúc nối được

xem là phẫu thuật tiêu chuẩn với kết quả thành

công cao tương đương phẫu thuật mở xác nhận

qua thời gian theo dõi lâu dài(19)

Trường hợp phẫu thuật nội soi tạo hình

khúc nối đầu tiên ở trẻ em được thực hiện bởi

Peters và cs vào năm 1995 qua đường trong

phúc mạc(15) Đến năm 2001, Yeung và cs thực

hiện phẫu thuật nội soi tạo hình khúc nối qua

đường sau phúc mạc(22) Từ đó đến nay, nhiều

phẫu thuật viên Nhi khoa đã áp dụng rộng rãi

phương pháp này qua cả 2 đường trong và sau

phúc mạc(2,4) Đồng thời, kỹ thuật tạo hình kiểu

cắt rời Anderson-Hynes cũng được đa số tác giả

thực hiện trong phẫu thuật(8,23)

Ở nước ta, phẫu thuật mở tạo hình khúc nối

vẫn còn chiếm đa số trong điều trị ở trẻ em Do

đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để góp

phần đánh giá tính an toàn và hiệu quả của

phương pháp phẫu thuật này trong điều kiện

hiện nay, từ đó có thể áp dụng rộng rãi tại các

trung tâm y khoa trên toàn quốc

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Chọn mẫu

Các bệnh nhân từ 16 tuổi trở xuống, chẩn

đoán hẹp khúc nối bể thận niệu quản nguyên

phát (qua lâm sàng, siêu âm, UIV/CT scan và xạ hình thận có chích furosemide) có chỉ định phẫu thuật tạo hình

Tiêu chuẩn loại trừ

- Hẹp khúc nối bể thận niệu quản tái phát

- Hẹp khúc nối bể thận niệu quản thứ phát sau mổ sỏi

- Hẹp khúc nối bể thận niệu quản với thận ứ nước nhẹ, chức năng thận không suy giảm qua theo dõi bằng xạ hình thận

- Hẹp khúc nối bể thận niệu quản mà chức năng thận còn dưới 10% trên xạ hình thận

- Hẹp khúc nối bể thận niệu quản có nhiễm khuẩn niệu

- Hẹp khúc nối bể thận niệu quản kết hợp với hẹp niệu quản lưng hoặc chậu

- Hẹp khúc nối bể thận niệu quản với bể thận nội xoang

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, báo cáo hàng loạt ca

Nội dung nghiên cứu

Chẩn đoán

Dựa trên triệu chứng lâm sàng, siêu âm, UIV hoặc CT scan, xạ hình thận có chích furosemide

Phương pháp mổ

- Vô cảm: mê nội khí quản

- Tư thế bệnh nhân: nằm nghiêng bên đối

Trang 3

diện, có đội vùng hông như mổ mở

- Các bước phẫu thuật:

+ Đặt 3 trocar vùng hông lưng: 2 trocar

10mm, 1 trocar 5mm, có thể thêm trocar thứ tư

5mm khi cần

+ Bộc lộ niệu quản, bóc tách theo niệu

quản lên bể thận

+ Cắt rời khúc nối hẹp gởi giải phẫu bệnh

lý, lấy nước tiểu cấy kháng sinh đồ nếu nước

tiểu đục mủ, xén bớt bể thận nếu bể thận giãn to,

xẻ rộng đầu trên niệu quản

+ Chuyển vị niệu quản ra trước mạch

máu cực dưới bất thường, nếu có

+ Khâu nối niệu quản-bể thận bằng vicryl

4.0 mũi rời, đặt thông JJ qua niệu quản xuống

bàng quang, khâu kín bể thận bằng vicryl 4.0

mũi liên tục

+ Đặt dẫn lưu hốc thận sau phúc mạc

bằng thông O2 16 Fr

+ Rút các trocar, khâu cân cơ, khâu da, cố

định dẫn lưu

- Ghi nhận: số trocar, thời gian phẫu thuật,

lượng máu mất, tai biến trong lúc mổ nếu có

Hậu phẫu

Ghi nhận thời điểm có trung tiện, thời gian

rút dẫn lưu, thời gian dùng thuốc giảm đau, loại

thuốc giảm đau, thời gian nằm viện, các biến

chứng gần (xì dò nước tiểu qua dẫn lưu, nhiễm

khuẩn niệu, nhiễm khuẩn vết mổ)

Đánh giá kết quả

Bệnh nhân được hẹn tái khám sau 01 tháng

để rút thông JJ qua nội soi bàng quang và siêu

âm kiểm tra, sau 03 - 06 tháng và sau 12 tháng để

để siêu âm, chụp UIV/ CT scan và/ hoặc làm xạ

hình thận

Ghi nhận lại các biến số nghiên cứu đã nêu

trên

Tiêu chuẩn đánh giá

+ Tốt: cải thiện lâm sàng + cải thiện trên xạ

hình và/hoặc siêu âm + UIV

+ Xấu: không cải thiện lâm sàng + không cải

thiện trên xạ hình thận

Thu thập và xử lý số liệu

Tất cả các số liệu đều được ghi lại trong mẫu

hồ sơ nghiên cứu và nhập vào máy tính để phân tích và xử lý số liệu

Tôi sử dụng phần mềm thống kê SPSS 13.0 for Windows để quản lý, tính toán, xử lý các dữ liệu thống kê

KẾT QUẢ Giới tính và tuổi

16 bệnh nhi, gồm 9 nam và 7 nữ

Tuổi trung bình là 14 ± 1, nhỏ nhất là 10, lớn nhất là 16 tuổi

Chi tiết phẫu thuật

Tất cả 16 trường hợp đều được phẫu thuật thành công qua ngã nội soi sau phúc mạc

Số trocar sử dụng: 3 trocar trong 12 trường hợp (75%), 4 trocar trong 4 trường hợp (25%) Tình trạng khúc nối trong mổ: hẹp rõ trong

13 trường hợp (81,3%), không hẹp trong 3 trường hợp (18,8%) Trong 3 trường hợp đánh giá khúc nối không hẹp, có 1 trường hợp do mạch máu cực dưới chèn ép khúc nối nên chúng tôi chỉ cắt rời chuyển vị niệu quản ra trước mạch máu, không cắt đoạn khúc nối gởi giải phẫu bệnh lý, còn 2 trường hợp chúng tôi không xác định chắc chắn nên vẫn tiến hành tạo hình kiểu cắt rời

Thời gian phẫu thuật trung bình là 123,13 ± 15,91 phút (95 – 195)

Lượng máu mất trung bình là 8,94 ± 3,49 ml (3 – 30)

Mạch máu bất thường bắt chéo khúc nối được phát hiện trong 4 trường hợp (25%) Trong đó, có 2 trường hợp chúng tôi ghi nhận mạch máu bắt chéo khúc nối nhưng không chèn ép khúc nối nên chúng tôi chỉ tiến hành tạo hình khúc nối kiểu cắt rời chứ không chuyển vị niệu quản

Có 9 trường hợp bị tràn khí dưới da với mức

độ nhẹ, không cần xử trí đặc hiệu

Trang 4

Hậu phẫu và đánh giá kết quả

Thời gian lưu ống dẫn lưu ngoài trung bình

là 3,5 ± 0,54 ngày (2 – 6)

Thời gian dùng thuốc giảm đau trung bình

là 5,19 ± 0,55 ngày (4 – 7)

Thời gian nằm viện trung bình là 5,38 ± 0,63

ngày (4 – 7)

Không ghi nhận biến chứng trong hậu phẫu

Sau xuất viện 4 – 6 tuần bệnh nhân tái khám

để rút thông JJ qua nội soi bàng quang

Thời gian theo dõi trung bình là 29,5 ± 9,58

tháng (7 – 72)

Có 15 bệnh nhi cải thiện trên lâm sàng và

cận lâm sàng (UIV/CT scan/xạ hình)

Một trường hợp ứ nước tái phát vào tháng

thứ 20, được nội soi niệu quản xẻ hẹp bằng dao

điện, theo dõi đến 72 tháng ghi nhận kết quả tốt

BÀN LUẬN

Ở trẻ em, phẫu thuật mở tạo hình cũng là

tiêu chuẩn vàng trong điều trị bệnh lý hẹp khúc

nối bể thận niệu quản trong nhiều thập niên

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ,

các phương pháp điều trị ít xâm lấn ra đời như

nong khúc nối bằng bong bóng, cắt xẻ khúc nối

nội soi và phẫu thuật nội soi ổ bụng với ưu

điểm là ít đau hậu phẫu, thời gian nằm viện và

hồi phục ngắn hơn(20) Tuy nhiên, nong khúc nối

bằng bóng và cắt xẻ khúc nối qua nội soi lại có tỉ

lệ thành công thấp hơn mổ mở Phẫu thuật nội

soi ổ bụng tạo hình khúc nối qua thời gian đã

cho thấy có tỉ lệ thành công tương đương với

mổ mở, đồng thời vẫn giữ được các ưu điểm

của một phương pháp điều trị ít xâm lấn Ravish

và cs trong một nghiên cứu tiến cứu so sánh kết

quả của phẫu thuật nội soi với phẫu thuật mở

tạo hình khúc nối đã kết luận rằng phẫu thuật

nội soi ngoài ưu điểm là ít đau, nằm viện ngắn

và nhanh hồi phục còn bao gồm một tỉ lệ thành

công cao hơn của phẫu thuật mở(16) Ở trẻ nhỏ

dưới 12 tháng tuổi, Tong và cs tiến hành nghiên cứu so sánh giữa phẫu thuật mở với phẫu thuật

có hỗ trợ của nội soi ổ bụng đã ghi nhận các ưu điểm của nội soi ổ bụng là thời gian nằm viện ngắn, hồi phục nhanh và tính thẩm mỹ tốt hơn(21) Metzelder và cs thì nghiên cứu so sánh phẫu thuật nội soi trong phúc mạc tạo hình khúc nối ở 3 nhóm trẻ tuổi từ 1 – 12 tháng, 1 – 7 tuổi và 7 – 18 tuổi(12) Ông kết luận không có sự khác biệt về thời gian mổ cũng như tỉ lệ thành công giữa 3 nhóm trẻ, ngoài ra tính khả thi của phương pháp này ở trẻ dưới 1 tuổi là rất cao Trong phẫu thuật nội soi tạo hình khúc nối

ở trẻ em, vấn đề chọn đường vào trong phúc mạc hoặc sau phúc mạc là tùy vào sở thích của phẫu thuật viên Đường trong phúc mạc được

đa số ưa chuộng do có ưu điểm là khoang thao tác rộng, các mốc giải phẫu quen thuộc, việc khâu nối thuận lợi, tuy nhiên có nguy cơ chạm thương các tạng ổ bụng(12,17,20) Một số tác giả còn cho rằng với việc sử dụng 1 trocar 5mm ở rốn cho ống kính nội soi và 2 trocar 3mm để thao tác, phẫu thuật qua đường trong phúc mạc còn

có độ thẩm mỹ cao hơn đường sau phúc mạc do các trocar sau phúc mạc thường lớn hơn và ở vị trí dễ thấy hơn(6) Tuy nhiên các tác giả thực hiện phẫu thuật qua đường sau phúc mạc đã báo cáo cho thấy không có sự khác biệt với đường trong phúc mạc về nhiều phương diện, kể cả thời gian

mổ(4,8) Tại bệnh viện Bình Dân, chúng tôi thường sử dụng đường sau phúc mạc trong hầu hết các phẫu thuật nội soi ổ bụng nên chúng tôi cũng không gặp khó khăn gì trong việc khâu nối trong không gian hẹp Chúng tôi cũng không có dụng cụ nội soi nhỏ 3mm do đó chúng tôi sử dụng các trocar 5 và 10mm, tuy nhiên theo đánh giá chủ quan của mình, chúng tôi nhận thấy các vết sẹo vùng hông lưng sau 1 năm thường mờ

đi, khó nhận biết

Kỹ thuật tạo hình khúc nối bể thận niệu quản được đa số phẫu thuật viên áp dụng là kỹ thuật cắt rời Anderson-Hynes, chúng tôi cũng

Trang 5

thực hiện kỹ thuật này cho tất cả các bệnh nhân

trong nghiên cứu của mình Ngoài ra, các kỹ

thuật khác như Foley Y-V, Fenger, vạt xoay bể

thận cũng được thực hiện trong phẫu thuật nội

soi Singh và cs(17) tiến hành tạo hình khúc nối

qua nội soi trong phúc mạc cho 19 bệnh nhi theo

2 kỹ thuật cắt rời và Foley Y-V ghi nhận tỉ lệ

thành công chung là 94,7% Tuy nhiên, Casale

và cs(5) nghiên cứu so sánh 2 kỹ thuật cắt rời và

Fenger trên 26 bệnh nhi lại ghi nhận tỉ lệ thành

công của kỹ thuật cắt rời là 94%, trong khi của

kỹ thuật Fenger chỉ là 43% (p=0,002 với phép

kiểm Fisher exact)

Trong loạt bệnh nhi của chúng tôi, tỉ lệ phát

hiện mạch máu bất thường là 25% (4/16 ca) Tỉ lệ

này là tương đương với các báo cáo ở trẻ em

khác nhung thấp hơn tỉ lệ ở người lớn(1,6,23)

Trước đây chuyển vị khúc nối ra trước mạch

máu bất thường là thường qui, tuy nhiên gần

đây nhiều tác giả cho rằng mạch máu bắt chéo

khúc nối trong đa số trường hợp không là

nguyên nhân gây hẹp khúc nối do đó không cần

chuyển vị, chỉ tạo hình khúc nối đơn thuần(3)

Ngược lại, một số tác giả khác lại chứng minh

mạch máu bất thường chèn ép từ ngoài là

nguyên nhân gây hẹp khúc nối(18) Theo quan

điểm riêng của chúng tôi, trong trường hợp phát

hiện có mạch máu bất thường bắt chéo khúc nối,

nếu mạch máu không chèn ép rõ gây gập góc

khúc nối đồng thời quan sát đại thể khúc nối

bình thường thì chúng tôi không chuyển vị, chỉ

tiến hành tạo hình kiểu cắt rời Còn nếu mạch

máu chèn ép rõ gây gập góc khúc nối thì chúng

tôi tiến hành chuyển vị khúc nối ra trước mạch

máu kết hợp với cắt rời khúc nối hay không tùy

vào đánh giá đại thể khúc nối có hẹp hay không

sau khi đã bóc tách giải phóng khúc nối

Việc đặt thông niệu quản lưu sau tạo hình khúc nối ở trẻ em vẫn còn nhiều tranh cãi, nhất

là ở các trẻ dưới 5 tuổi Le Tan Son và cs(10) thực hiện 122 ca tạo hình khúc nối với dẫn lưu niệu quản xuyên bể thận ra da cho kết quả tốt, không

có ca nào phải mổ lại Tuy nhiên đa số tác giả sử dụng thông JJ để dẫn lưu sau tạo hình do các ưu điểm vượt trội của nó, mặc dù vẫn có những biến chứng liên quan đến thông như tiểu máu đại thể, thông bị di lệch, nhiễm khuẩn, tạo sỏi(7,9,14) Một số tác giả chọn cách đặt thông ngược dòng qua nội soi bàng quang do có tỉ lệ thành công cao hơn và ít biến chứng hơn cách đặt xuôi dòng trong mổ(6,7) Ngược lại, Mandhani(11) trong nghiên cứu trên 24 bệnh nhân tạo hình khúc nối nội soi ổ bụng đưa ra kết luận là đặt thông JJ xuôi dòng là một kỹ thuật đơn giản, tránh được thủ thuật soi bàng quang, giảm nguy cơ cắt đứt đầu trên thông trong mổ, tạo thuận lợi cho việc nhận biết, bóc tách và khâu nối bể thận niệu quản Trong 16 bệnh nhi này cũng như các bệnh nhân người lớn khác của mình, chúng tôi luôn đặt JJ xuôi dòng trong mổ sau khi đã khâu kín mặt sau của khúc nối bể thận niệu quản, chúng tôi không ghi nhận một biến chứng liên quan đến thông nào trong loạt bệnh nhi này

Biến chứng của phẫu thuật nội soi tạo hình khúc nối ở trẻ em được ghi nhận trong mổ và sau mổ lần lượt là 2,91% và 11,65% (Nerli và cs, 2009)(13) Chúng tôi không ghi nhận biến chứng hậu phẫu nào, chỉ có tình trạng tràn khí dưới da mức độ nhẹ ở 9 trường hợp Chúng tôi đồng tình với nhận định của Nerli là hầu hết biến chứng có thể được ngăn ngừa nếu phẫu thuật viên bảo đảm các nguyên tắc như nắm rõ giải phẫu học, tạo phẫu trường rõ ràng, rộng rãi và bóc tách nhẹ nhàng, cẩn thận

Trang 6

Kết quả của phẫu thuật được đánh giá là

thành công khi có cải thiện tình trạng lâm

sàng cộng với cải thiện độ ứ nước thận trên

siêu âm, UIV hoặc cải thiện độ đào thải và

chức năng thận trên xạ hình Trong nghiên

cứu này, có 15 trường hợp đáp ứng các tiêu

chí trên sau thời gian theo dõi trung bình là

29,5 tháng Một trường hợp ứ nước tái phát

vào tháng thứ 20 và được nội soi niệu quản xẻ

hẹp cho kết quả tốt

KẾT LUẬN

Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc tạo hình

khúc nối bể thận – niệu quản kiểu cắt rời là một

phẫu thuật an toàn và hiệu quả, có thể áp dụng

rộng rãi trong điều trị bệnh lý hẹp khúc nối ở trẻ

em ở mọi lứa tuổi Tuy nhiên phẫu thuật viên

cần được đào tạo bài bản nhất là về kỹ thuật

khâu nối trong cơ thể, đồng thời cũng đòi hỏi

trang thiết bị phải đồng bộ, hoàn chỉnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

M, Carricaburu E, El-Ghoneimi A (2012) Retroperitoneal

Laparoscopic Pyeloplasty in Children: Long-Term Outcome and

Critical Analysis of 10-Year Experience in a Teaching Center Eur

Urol., (Epub ahead of print)

A (2005) Retroperitoneal laparoscopic versus open pyeloplasty

in children J Urol., 173(5): 1710-3, discussion 1713

JH, Gill IS, Aron M (2009) Is routine transposition of anterior

crossing vessels during laparoscopic dismembered pyeloplasty

necessary? J Endourol., 23(3): 469-73

better retroperitoneoscopic or laparoscopic dismembered pyeloplasty

in children? J Urol., 178(4 Pt 2): 1791-5, discussion 1795

Mitchell ME (2004) Comparison of dismembered and

nondismembered laparoscopic pyeloplasty in the pediatric

patient J Endourol., 18(9): 875-8

Pediatric laparoscopic pyeloplasty: lessons learned from the first

52 cases J Endourol., 23(8): 1307-11

reliable than antegrade stenting for pyeloplasty in infants and children? Urology, 66(6):1301-4, discussion 1304

Retroperitoneoscopic dismembered pyeloplasty for pediatric ureteropelvic junction obstruction: a report of 85 cases Zhong Nan Da Xue Xue Bao Yi Xue Ban., 36(5): 430-4

pyeloplasty: a help or a hindrance? J Pediatr Urol 4(4): 275-9

Tram, Huynh Cao Nhan, Nguyen Thi Truc Linh (2011) Transpelvic anastomotic stenting: A good option for diversion after pyeloplasty in children J Pediatric Urology 7(3): 363-366

superior to retrograde stenting in laparoscopic pyeloplasty? J Urol 171(4):1440-2

Laparoscopic transabdominal pyeloplasty in children is feasible irrespective of age J Urol 175(2): 688-91

(2009) Complications of laparoscopic pyeloplasty in children Pediatr Surg Int 25(4): 343-347

pyeloplasty using double 'J' stent in infants and children Pediatr Surg Int 25(2):191-4

laparoscopic dismembered pyeloplasty’’ J Urol., 153(6),

pp.1962-5

Laparoscopic pyeloplasty compared with open pyeloplasty in children J Endourol 21(8): 897-902

M (2007), “Transperitoneal laparoscopic pyeloplasty in children’’ J Endourol., 21(12), pp.1461-6

JA (2007), “Functional assessment of crossing vessels as etiology

of ureteropelvic junction obstruction’’ Urology, 69(6), pp

1022-4

Laparoscopic pyeloplasty: Our new gold standard’’ J Endourol 23(3): 463-7

pyeloplasty in children J Urol., Vol 162, Issue 3, Part 2: 1045-47

Ruan Q (2009) Comparison of laparoscopic-assisted versus open dismembered pyeloplasty for ureteropelvic junction obstruction

in infants: intermediate results Urology 74(4): 889-93

Retroperitoneoscopic dismembered pyeloplasty for pelvi-ureteric junction obstruction in infants and children BJU Int., Vol 87, Issue 6: 509–513

Z, Wang C, Li J, Wu Z (2009) Retroperitoneoscopic Anderson-Hynes dismembered pyeloplasty in infants and children: a 60-case report Pediatr Surg Int 25(6): 519-23

Ngày đăng: 21/01/2020, 04:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w