1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phản ứng với thuốc chống lao ở các bệnh nhân đang điều trị lao: Nghiên cứu loạt ca lâm sàng 43 bệnh nhân HIV dương tính và 93 bệnh nhân HIV âm tính

6 68 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 416,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Phản ứng với thuốc chống lao ở các bệnh nhân đang điều trị lao: Nghiên cứu loạt ca lâm sàng 43 bệnh nhân HIV dương tính và 93 bệnh nhân HIV âm tính với mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá lại tỷ lệ mắc, các dấu hiệu, và triệu chứng của phản ứng với thuốc chống lao ở những người nhiễm và không nhiễm HIV.

Trang 1

ĐANG ĐIỀU TRỊ LAO: NGHIÊN CỨU LOẠT CA LÂM SÀNG  

43 BỆNH NHÂN HIV DƯƠNG TÍNH VÀ 93 BỆNH NHÂN HIV ÂM TÍNH 

Nguyễn Thị Bích Yến*, Nguyễn Huy Dũng*, Thái Hồng Hà**, Lê Tự Phương Thảo***, Nguyễn Hữu 

Lân*  

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Phản ứng thuốc đã được báo cáo ở những bệnh nhân đang nhận điều trị lao. Tuy nhiên, có rất 

ít số liệu so sánh phản ứng với thuốc chống lao ở những bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV và bệnh nhân lao không  nhiễm HIV tại Việt Nam. 

Mục  tiêu  nghiên  cứu: Để đánh giá lại tỷ lệ mắc, các dấu hiệu, và triệu chứng của phản ứng với thuốc 

chống lao ở những người nhiễm và không nhiễm HIV.  

Chất liệu & phương pháp: Chúng tôi xem xét đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm của 136 bệnh nhân lao, 

nhập viện vì phản ứng với thuốc chống lao, có làm xét nghiệm HIV tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (thành phố 

Hồ Chí Minh, Việt Nam), từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2010. 

Kết quả: Trong số 136 bệnh nhân lao có phản ứng thuốc chống lao đồng ý làm xét nghiệm HIV, có 43/136 

(31,6%) bệnh nhân HIV dương tính và 93/136 (68,4%) bệnh nhân HIV âm tính. Tỷ lệ nam/nữ là 3,9:1. Tuổi  trung bình (± SD) là 50 ± 16 tuổi và 33 ± 9 tuổi theo thứ tự là bệnh nhân lao/HIV dương tính và lao/HIV âm  tính (p < 0,001). Nhìn chung, các triệu chứng phản ứng thuốc thường gặp nhất bao gồm các triệu chứng về da  (52,2% bệnh nhân), dạ dày‐ruột (13,2% bệnh nhân), biểu hiện thần kinh và tâm thần (8,8% bệnh nhân), triệu  chứng của nhiễm độc gan (7,4%), và ù tai‐chóng mặt (6,6% bệnh nhân). Không có sự khác biệt có ý nghĩa về 

tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng lâm sàng do phản ứng thuốc chống lao ở các bệnh nhân lao HIV dương tính và  HIV âm tính ở Việt Nam. 

Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân nhập viện vì phản ứng thuốc chống lao không có mối liên quan với tình trạng 

nhiễm HIV. Có khả năng do sợ bị kỳ thị liên quan đến nhiễm HIV, những bệnh nhân này có thể cung cấp thông  tin riêng rẽ về nhiễm HIV và thuốc ARV. Cần thiết so sánh kết quả của chúng tôi với các nghiên cứu tiến cứu về  phản ứng thuốc ở bệnh nhân lao/HIV dương tính có điều trị thuốc kháng virus và bệnh nhân lao/HIV âm tính và  cần thiết thực hiện một nghiên cứu tiến cứu về phản ứng thuốc chống lao ở bệnh nhân lao có và không nhiễm  HIV ở Việt Nam.  

Từ khóa: Bệnh nhân lao, bệnh nhân HIV, thuốc chống lao, thuốc kháng retrovirus, phản ứng thuốc 

ABSTRACT 

ADVERSE DRUG REACTIONS TO ANTIMYCOBACTERIAL MEDICATIONS  

 IN TUBERCULOSIS PATIENTS: A CASE SERIES STUDY OF 43 HIV‐POSITIVE  

AND 93 HIV‐ NEGATIVE PATIENTS 

Nguyen Thi Bich Yen, Nguyen Huy Dung, Thai Hong Ha, Le Tu Phuong Thao,   Nguyen Huu Lan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 61 ‐ 66 

Background:  Adverse  events  have  been  reported  in  patients  receiving  medications  for  tuberculosis. 

* Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh 

** Bộ môn Sinh lý, trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh 

*** Bộ môn Nội Thần kinh, trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh 

Trang 2

However, there is little prospective data comparing adverse effects from anti‐tuberculosis medications in TB/HIV  co‐infected patients versus TB/HIV‐ negative patients in VietNam. 

Objective:  To  review  the  incidence,  signs,  and  symptoms,  of  adverse  drug  reactions  (ADRs)  due  to 

antimycobacterial medications given to HIV‐positive and HIV‐negative people.  

Materials and Methods: We reviewed clinical and laboratory characteristics of 136 tuberculosis patients 

admitted for ADRS to Pham Ngoc Thach hospital (Ho Chi Minh City, Vietnam) from January 2010 to December 

2010, who had been tested for HIV;  

Results:  Among the 136 tuberculosis patients  with ADRs who agreed to be HIV tested, 43/136 (31.6%)  were hiv postive and 93/136 (68.4%) were HIV‐negative. Male to female ratio was 3.9:1. The mean age (± SD)  was 50 ± 16 years and 33 ± 9 years for TB‐HIV‐positive patients and TB‐HIV‐negative patients, respectively  (p<0.0001).  Overall,  adverse  events  occurring  most  frequently  included  dermatologic  symptoms  (52.2%  of  patients), gastrointestinal symptoms (13.2% of patients), neurological and psychiatric manifestations (8.8% of  patients), symptoms of hepatotoxicity (7,4%), and  cochlear vestibular symptoms (6.6% of patients). There is 

no significant  difference  in  the  rate  of  appearance  of  symptoms  caused  by  adverse  drug  reactions  to  antimycobacterial medications among HIV‐positive and HIV‐negative groups. 

Conclusion:  The  percentage  of  adverse  drug  reactions  to  antimycobacterial  medications  in  tuberculosis 

patients in causing hospital admission was not related to HIV status. Probably, due to fear HIV‐related stigma,  this population  may  provide  information  on  the  respective  influences  of  HIV  infection  itself  and  antiretroviral  medication  It  is  necessaryto  compare  our  findings  with prospective  studies  of  ADRs  in  HIV‐positive  TB  patients on antiviral therapy compared to HIV negative patients and, to realize a prospective study ADRs in TB  patients with HIV‐positive and HIV‐negative in Vietnam.  

Key  words:  TB  patient,  HIV  patient,  antituberculous  agent,  antiretroviral  (ARV)  drugs,  adverse  drug  reactions. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Theo  Tổ  chức  Y  tế  Thế  giới,  năm  2011  toàn 

cầu có 8,7 triệu người mắc bệnh lao, trong đó có 

13%  đồng  nhiễm  HIV;  trong  số  1,4  triệu  người 

chết  do  lao,  có  990.000  trường  hợp  lao/HIV  âm 

tính  và  430.000  lao/HIVdương  tính  và  0,5  triệu 

phụ nữ. Dù được điều trị, lao vẫn là một trong 

những bệnh nhiễm trùng gây tử vong hàng đầu 

cho  phụ  nữ  và  người  nhiễm  HIV  trên  toàn  thế 

giới. 60% bệnh nhân lao sống ở vùng Đông Nam 

Á và Tây Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, lao đa 

kháng  thuốc  là  vấn  đề  mới  nổi  đáng  lo  ngại 

trong những năm gần đây. Tỷ lệ lao đa kháng ở 

nhóm  lao  phổi  mới  khoảng  3,7%,  ở  nhóm  lao 

phổi  cũ  khoảng  20%(12).  Việt  Nam  xếp  thứ  12 

trong 22 quốc gia có gánh nặng lao cao nhất thế 

giới, với số bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV gia 

tăng trong những năm qua. Trong năm 2011, có 

30.000 người chết vì bệnh lao, 180.000 người mắc 

lao,  trong  đó  có  14.000  bệnh  nhân  lao  nhiễm  HIV. Trong khi năm 2010 có 29.000 người chết vì  bệnh  lao,  180.000  người  mắc  lao,  trong  đó  có  7.600  bệnh  nhân  lao  nhiễm  HIV (11,12).  Mặc  dù  hoá trị lao sẵn có, các chương trình kiểm soát lao 

có  thể  bị  cản  trở  bởi  những  chướng  ngại  trong  việc cung ứng thuốc kịp thời và hiệu quả. Trong  những  khó  khăn  này,  sự  tuân  thủ  điều  trị  của  bệnh nhân nghèo là vấn đề đáng lưu ý đặc biệt.  Điều này thường liên quan với sự phát triển của  phản ứng thuốc, đôi khi rất nghiêm trọng và đe  doạ  tính  mạng.  Thất  bại  trong  việc  kiểm  soát  bệnh lao làm ảnh hưởng đến hậu quả kinh tế, xã  hội và có thể dẫn đến sự xuất hiện của các chủng 

vi khuẩn lao đa kháng thuốc, siêu kháng thuốc.   Lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp  nhất ở người nhiễm HIV. Mối tương tác giữa lao 

và  HIV  rất  phức  tạp.  Một  nghiên  cứu  gần  đây  cho thấy tỷ lệ mắc mới của các phản ứng thuốc  chống  lao  nghiêm  trọng  tăng  lên  ở  bệnh  nhân 

Trang 3

lao  nhiễm  HIV(6).  Nguy  cơ  tương  đối  của  phản 

ứng  với  thuốc  chống  lao  tăng  gấp  đôi  ở  người 

nhiễm  HIV  mà  cơ  chế  vẫn  chưa  được  rõ(2).  Sự 

tương tác thuốc được coi là có khả năng khi mà 

bệnh  nhân  lao  nhiễm  HIV  được  sử  dụng  đồng 

thời  thuốc  kháng  virus  HIV  (ARV)  và  thuốc 

chống  lao.  Hậu  quả  của  sự  gia  tăng  phản  ứng 

thuốc  ở  bệnh  nhân  lao/HIV  có  thể  gây  ảnh 

hưởng  sâu  sắc  ở  các  đơn  vị  có  nguồn  lực  hạn 

chế(6).  Một  nghiên  cứu  đoàn  hệ  của  Isaakidis  P. 

và cộng sự tại Mumbai cho thấy phản ứng thuốc 

chống lao hàng hai xảy ra thường xuyên ở bệnh 

nhân  lao  đa  kháng  thuốc  đồng  nhiễm  HIV, 

nhưng  không  khác  biệt  có  ý  nghĩa  so  với  bệnh 

nhân không nhiễm HIV nhận công thức điều trị 

lao tương tự(4).  

Bệnh  viện  Phạm  Ngọc  Thạch  là  một  bệnh 

viện  tuyến  cuối,  tiếp  nhận  những  trường  hợp 

phản ứng thuốc lao chuyển tuyến của thành phố 

Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam. Hàng năm, 

số  bệnh  nhân  nhập  viện  điều  trị  vì  phản  ứng 

thuốc  khoảng  300  người.  Từ  năm  2005,  bệnh 

viện  bắt  đầu  nhận  điều  trị  lao  đa  kháng  với 

thuốc chống lao hàng hai. Những năm gần đây, 

bên  cạnh  số  bệnh  nhân  bị  phản  ứng  với  thuốc 

chống  lao  thiết  yếu,  đã  có  nhiều  trường  hợp 

phản  ứng  với  thuốc  chống  lao  hàng  hai  nhập 

viện. Ngoài ra, đồng nhiễm lao/HIV là một vấn 

đề  sức  khỏe  lớn  của  thành  phố  Hồ  Chí  Minh. 

Gần  đây,  việc  điều  trị  ARV  cho  bệnh  nhân 

nhiễm HIV đã được mở rộng. Theo hướng dẫn 

quốc  gia,  người  có  HIV(+)  có  mắc  lao  là  thuộc 

giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4. Ngoài điều trị lao, 

việc  ưu  tiên  cung  cấp  ARV  cho  bệnh  nhân 

lao/HIV cần được thực hiện càng sớm càng tốt, 

ngay sau khi bệnh nhân đã dung nạp thuốc lao. 

Vì vậy, những năm gần đây, theo thống kê của 

bệnh  viện  Phạm  Ngọc  Thạch,  số  bệnh  nhân 

lao/HIV có phản ứng thuốc nhập viện cũng gia 

tăng.  Tuy  nhiên,  chưa  có  một  số  liệu  nào  được 

công bố về tình hình phản ứng thuốc chống lao 

ở  những  bệnh  nhân  lao  có  hoặc  không  nhiễm 

HIV. 

Vì vậy chúng tôi thực hiện một nghiên cứu  hồi cứu xác định một số đặc điểm của phản ứng  thuốc chống lao xảy ra ở bệnh nhân lao có hay  không  đồng  nhiễm  HIV.  Chúng  tôi  hy  vọng  những số liệu bước đầu này giúp cải thiện việc  chẩn đoán, theo dõi và tái điều trị lao cho những  bệnh  nhân  này,  và  có  thể  là  cơ  sở  cho  những  nghiên cứu sâu hơn về phản ứng thuốc lao cho  bệnh nhân. 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  

Đối tượng nghiên cứu là 136 bệnh nhân lao  nhập  bệnh  viện  Phạm  Ngọc  Thạch  từ  tháng  1.2010  đến  tháng  12.2010  vì  phản  ứng  với  thuốc  chống  lao  trong  giai  đoạn  điều  trị  và  đồng ý làm xét nghiệm chẩn đoán HIV. Chúng  tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca  lâm  sàng.  Các  dữ  liệu  được  ghi  nhận  để  đưa  vào phân tích trong nghiên cứu bao gồm tuổi,  giới,  tình  trạng  hút  thuốc  lá,  uống  rượu,  nghiện  ma  túy,  tiền  căn  điều  trị  lao,  dị  ứng  thuốc,  các  loại  tổn  thương  do  độc  tính  của  thuốc  lao,  loại  thuốc  lao  gây  phản  ứng  có  hại  cho bệnh nhân, xét nghiệm viêm gan siêu vi B,  siêu vi C, men gan, … Các số liệu sau khi thu  thập sẽ được mã hóa và nhập vào máy vi tính, 

sử  dụng  phần  mềm  Stata  10  để  xử  lý.  Chúng  tôi  sử  dụng  phép  kiểm  Mann‐Whitney  để  so  sánh  sự  khác  biệt  giữa  hai  nhóm  bệnh  nhân  cho các biến định lượng và phép kiểm χ2 để so  sánh sự khác biệt về tỷ lệ giữa hai nhóm bệnh  nhân  cho  các  biến  định  tính.  Thực  hiện  phép  kiểm chính xác của Fisher (Fisher’s Exact Test)  nếu có trên 20% số ô trong bảng chéo có tần số  mong đợi nhỏ hơn 5. Tất cả các phương pháp  kiểm định giả thuyết được thực hiện bằng cách 

sử  dụng  kiểm  định  2  bên  (two‐sided  alternatives). Ngưỡng ý nghĩa là 0,05 (p < 0,05) 

để chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết thống kê.   KẾT QUẢ 

Trong số 136 bệnh nhân nghiên cứu với tuổi  trung bình 43 ± 16 (từ 18 tuổi đến 78 tuổi), có 108  (79,4%) bệnh nhân nam, tuổi trung bình 45 ± 15  (từ  20  tuổi  đến  78  tuổi),  28  (20,6%)  bệnh  nhân 

Trang 4

nữ,  tuổi  trung  bình  39  ±  17  (từ  18  tuổi  đến  75 

tuổi). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 

về  tuổi  trung  bình  giữa  bệnh  nhân  nam  và  nữ 

tham gia nghiên cứu (p > 0,07). 93 (68,4%) bệnh 

nhân  có  xét  nghiệm  HIV  âm  tính,  43  (31,6%) 

bệnh nhân có xét nghiệm HIV dương tính. Tuổi 

trung bình bệnh nhân HIV dương tính nhỏ hơn 

tuổi  trung  bình  bệnh  nhân  HIV  âm  tính  một 

cách có ý nghĩa thống kê (33 ± 9 tuổi so với 48 ± 

16 tuổi, p < 0,0001). 55,8% bệnh nhân lao nhiễm 

HIV có tiền căn nghiện ma túy. Không có bệnh 

nhân  nghiện  ma  túy  trong  nhóm  bệnh  nhân 

lao/HIV  âm  tính.  Chúng  tôi  chia  bệnh  nhân 

tham  gia  nghiên  cứu  thành  hai  nhóm  theo  đặc 

điểm  nhiễm  HIV.  Đặc  điểm  nhân  khẩu  học  và 

tiền  căn  của  bệnh  nhân  tham  gia  nghiên  cứu 

được trình bày trong bảng 1. Các loại tổn thương 

do độc tính của thuốc chống lao được trình bày 

trong bảng 2. Các loại thuốc lao gây phản ứng có 

hại cho bệnh nhân được trình bày trong bảng 3. 

Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học và tiền căn của 

bệnh nhân tham gia nghiên cứu 

HIV (+)

n (%)

HIV (-)

Tuổi 33 ± 9 48 ± 16 <0,0001

Tiền căn điều trị lao: 7(16,3%) 17(18,4%)

>0,7

Hút thuốc lá 6(13,9%) 13(14,1%) >0,9

Nghiện ma túy 24(55,8%) 0(0%) <0,1 -15

Tiền căn dị ứng thuốc 4(9,2%) 4(4,4%) >0,2

HBsAg (+) 2(9,1%)α 3(10,3)β >0,8

Anti-HCV (+) 9(40,1%) γ 2(6,7%) δ <0,003

α  Trong tổng số 22 bệnh nhân làm xét nghiệm 

HBsAg.  β  Trong tổng số 29 bệnh nhân làm xét 

nghiệm HBsAg.  γ  Trong tổng số 22 bệnh nhân làm 

xét nghiệm Anti‐HCV.  δ  Trong tổng số 30 bệnh nhân 

làm xét nghiệm Anti‐HCV 

Bảng 2: Các loại tổn thương do độc tính của thuốc 

lao 

HIV (+)

n (%)

HIV (-)

n (%)

p-value

Buồn nôn 0(%) 4(4,3%) >0,3

>0,1

Mẩn ngứa 14(32,6%) 34(36,6%)

>0,5

Đỏ da toàn thân 5(11,6%) 14(15,1%)

Viêm trợt da 2(4,7%) 1(1,1%)

Hội chứng Stevens-Johnson 2(4,7%) 1(1,1%) >0,1

Tê bì do viêm dây thần kinh

Rối loạn tâm lý 4(%) 6(2,2%)

>0,1

Tăng men gan 0(0%) 2(2,2%)

0,9

Giảm 3 dòng tế bào máu 0(0%) 1(1,1%) 0,4

Bảng 3: Các  loại thuốc lao gây phản ứng có hại cho  bệnh nhân 

HIV (+)

n (%)

HIV (-)

Thuốc chống lao hàng 1:

Streptomycin (S) 9(20,9%) 30(33,3%) >0,1 Isoniazid (H) 6(14%) 16(17,2%) >0,6 Rifampicin (R) 16(37,2%) 25(26,9%) >0,2 Ethambutol (E) 2(4,7%) 15(16,1%) >0,05 Pyrazinamid (Z) 15(34,9%) 23(24,7%) >0,2 Thuốc chống lao hàng 2 2(66,7%)£ 4(80%)π >0,6

£  Trong tổng số 3 bệnh nhân điều trị lao đa kháng  thuốc.  π  Trong tổng số 5 bệnh nhân điều trị lao đa  kháng thuốc 

BÀN LUẬN 

Một số nghiên cứu trước đây phát hiện tỷ lệ  phản  ứng  với  thuốc  chống  lao  ở  những  bệnh  nhân lao đồng nhiễm HIV cao hơn một cách có ý  nghĩa  thống  kê  so  với  bệnh  nhân  lao/HIV 

âm(13,7,3,2,6).  Theo  thống  kê  năm  2010,  có  hơn  300  bệnh nhân nhập bệnh viện phạm Ngọc Thạch vì  phản  ứng  với  thuốc  chống  lao.  Tuy  vậy,  trong  nghiên  cứu  này,  chỉ  có  136  bệnh  nhân  bị  phản  ứng  thuốc  chống  lao  nhập  viện  được  xác  định  tình  trạng  nhiễm  HIV,  với  43  bệnh  nhân  HIV  dương tính và 93 bệnh nhân HIV âm tính. Tỷ lệ  bệnh nhân lao/HIV (+) trên bệnh nhân lao nhập 

Trang 5

hơn  nhiều  so  với  tỷ  lệ  HIV  (+)  trên  quần  thể 

bệnh  nhân  lao  tại  Việt  Nam  cùng  năm  2010  là 

7.600  bệnh  nhân  lao  nhiễm  HIV  trong  tổng  số 

180.000  người  mắc  lao(11).  Điều  này  chứng  tỏ 

rằng,  việc  tư  vấn  &  xét  nghiệm  HIV  đã  không 

được  thực  hiện  cho  tất  cả  bệnh  nhân  lao  nhập 

viện  vì  phản  ứng  thuốc.  Ngoài  ra,  chúng  tôi 

cũng không có đủ dữ liệu điều trị ARV của bệnh 

nhân trong hồ sơ bệnh án. Theo Marks D.J.B. và 

cộng sự, tại Nam phi, vùng có tỷ lệ đồng nhiễm 

lao/HIV cao, việc cung cấp thuốc ARV vẫn  còn 

hạn chế do sự chậm trễ trong chẩn đoán, quá tải 

cơ  sở  y  tế,  công  tác  hậu  cần  kém  ở  các  phòng 

khám, bệnh nhân không đến khám bệnh do sự 

kỳ  thị,  bệnh  nhân  có  thể  cung  cấp  thông  tin 

riêng  rẽ  về  nhiễm  HIV  và  thuốc  ARV;  hiện 

tượng tăng tần suất tác dụng phụ nghiêm trọng 

do thuốc chống lao không liên quan đến việc sử 

dụng  ARV  vì  phần  lớn  bệnh  nhân  nhiễm  HIV 

đã  không  được  điều  trị  bằng  thuốc  ARV(6). 

Trong một nghiên cứu về phản ứng thuốc chống 

lao  tại  Viện  Lồng  ngực  Montreal  từ  năm  1990 

đến 1999, Yee D. và cộng sự nhận thấy tỷ lệ các 

thuốc  chống  lao  thường  gây  tác  dụng  phụ 

nghiêm  trọng  theo  thứ  tự  giảm  dần  là 

pyrazinamide (1,48/bệnh nhân/tháng), isoniazid 

(0,49/bệnh  nhân/tháng),  rifampin  (0,43/bệnh 

nhân/tháng), ethambutol (0,07 bệnh nhân/tháng) 

trong số những bệnh nhân hóa trị lao bằng bốn 

thuốc  chống  lao  thiết  yếu(13)  là  pyrazinamide, 

isoniazid,  rifampin,  ethambutol.  Trong  nghiên 

cứu của chúng tôi, tỷ lệ phản ứng thuốc  chống 

lao  do  Streptomycin  là  28,9%,  Rifampicin  là 

30,1%, Pyrazinamid là 27,9%, Isoniazid là 16,2%, 

Ethambutol là 12,5%, trong số những bệnh nhân 

hóa trị lao bằng năm thuốc chống lao thiết yếu là 

Streptomycin,  pyrazinamide,  isoniazid, 

rifampin,  ethambutol.  Cũng  trong  nghiên  cứu 

này của  chúng  tôi,  tỷ  lệ  phản  ứng  thuốc  chống 

lao  hàng  2  là  75%  trong  tổng  số  8  bệnh  nhân 

điều trị lao đa kháng thuốc phải nhập viện vì bị 

phản ứng thuốc. Phản ứng với thuốc chống lao 

hàng  hai  xảy  ra  với  tần  suất  lớn  nhưng  không 

khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  nhóm  bệnh 

nhân  lao  kháng  thuốc  HIV  dương  tính  so  với  nhóm bệnh nhân lao kháng thuốc HIV âm tính  cũng  được  ghi  nhân  trong  nghiên  cứu  nghiên  cứu  đoàn  hệ  của  Isaakidis  P.  và  cộng  sự  tại  Mumbai(4).  

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  phản  ứng  thuốc  lao  thường  gây  ra  các  triệu  chứng  tổn  thương  da  (52,2%),  rối  loạn  đường  tiêu  hóa  (13,2%), biểu hiện thần kinh tâm thần (8,8%), rối  loạn  tổn  thương  gan  mật  (7,4%),  rối  loạn  hệ  thống tiền đình ốc tai (6,6%), triệu chứng bệnh lý  thần  kinh  ngoại  biên  (2,9%),  sốt  (2,2%),  phù  mạch (2,2%), hội chứng Stevens‐Johnson (2,2%),  đau  khớp  (1,5%).  Không  có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa thống kê về tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng  gây  ra  do  phản  ứng  thuốc  lao  ở  nhóm  bệnh  nhân lao/HIV dương so với bệnh nhân lao/HIV 

âm. Theo nghiên cứu thực hiện tại Malaysia của  Kurniawati  F.  và  cộng  sự,  các  tác  dụng  phụ  nghiêm  trọng  thường  xảy  ra  khi  điều  trị  bằng  thuốc  kháng  lao  thiết  yếu  chung  cho  cả  bệnh  nhân HIV dương và HIV âm là triệu chứng tổn  thương  da  (7,8%),  rối  loạn  đường  tiêu  hóa  (2,5%), rối loạn tổn thương gan mật (2,6%), biểu  hiện thần kinh tâm thần (0,3%)(5). 

Phác đồ hoá trị ngắn ngày có chứa isoniazid,  rifampicin,  và  pyrazinamide  đã  nâng  cao  hiệu  quả  điều  trị  lao.  Phản  ứng  bất  lợi  do  thuốc  thường  gặp  nhất  dẫn  tới  gián  đoạn  điều  trị  là  nhiễm  độc  gan(8).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi, ở cả hai nhóm bệnh nhân lao/HIV dương và  lao/HIV  âm,  bệnh  nhân  có  tăng  men  gan  và  bilirubin  chỉ  chiếm  tỷ  lệ  nhỏ  (7,4%),  trong  khi  bệnh  nhân  có  các  triệu  chứng  rối  loạn  tiêu  hóa  chiếm  tỷ  lệ  cao  hơn  (13,2%).  Theo  Marks  D.J.B. 

và cộng sự, tỷ lệ nhiễm độc gan thấp một cách  bất thường có thể do không có dữ liệu cơ sở và  không  có  theo  dõi  các  xét  nghiệm  chức  năng  gan,  ở  một  số  bệnh  nhân,  buồn  nôn  và  nôn  có  thể là triệu chứng của nhiễm độc gan do thuốc(6).   Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng  bệnh  lý  thần  kinh  ngoại  biên  do  phản  ứng  với  thuốc  chống  lao  không  thấy  xuất  hiện  ở  nhóm  bệnh  nhân  lao/HIV  dương  và  chỉ  ghi  nhận  ở 

Trang 6

lý thần kinh ngoại biên có thể chỉ ra bệnh nhân 

có phản ứng với isoniazid ở cả nhóm bệnh nhân 

đang điều trị lao có HIV dương hoặc âm(10,6), xảy 

ra  ở  5%  bệnh  nhân  điều  trị  bằng  isoniazid(1). 

Nghiên cứu của Breen R.A. và cộng sự chứng tỏ 

không  có  mối  liên  quan  giữa  sự  phát  triển  của 

bệnh lý thần kinh ngoại biên và điều trị ARV(2). 

Tuy  nhiên  cũng  cần  lưu  ý  rằng  bệnh  lý  thần 

kinh ngoại biên thường gặp với tần suất khoảng 

20% ở người nhiễm HIV(9). 

Ở  bệnh  nhân  điều  trị  bằng  isoniazid,  các 

biểu  hiện  thần  kinh  tâm  thần  do  phản  ứng  với 

thuốc như rối loạn tâm thần, động kinh co giật, 

rối  loạn  ý  thức,  hôn  mê  thường  ít  gặp,  nhưng 

thường  nặng  và  khó  chẩn  đoán,  cần  phân  biệt 

với  lao  màng  não,  bệnh  lý  não  do  gan(1).  Trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  các  biểu  hiện  thần 

kinh tâm  thần  do  phản  ứng  với  thuốc  xảy  ra  ở 

8,8% bệnh nhân bị phản ứng với thuốc lao.  

Để kết luận, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ phản 

ứng  thuốc  chống  lao  ở  những  bệnh  nhân  nhập 

viện  điều  trị  tại  bệnh  viện  Phạm  Ngọc  Thạch 

giữa  nhóm  bệnh  nhân  lao  HIV  dương  tính  so 

với  nhóm  bệnh  nhân  lao  HIV  âm  tính  không 

giống  với  những  kết  quả  nghiên  cứu  tiến  cứu 

báo  cáo  trước  đây  trên  thế  giới,  dù  bệnh  nhân 

HIV dương tính có thể dễ dàng tiếp cận điều trị 

ARV  tại  Việt  Nam.  Vì  vậy,  cần  thiết  thực  hiện 

nghiên  cứu  tiến  cứu  về  phản  ứng  thuốc  chống 

lao trên hai nhóm đối tượng HIV dương tính và 

HIV âm tính để nhận diện nguy cơ xảy ra phản 

ứng thuốc ở những bệnh nhân đang điều trị lao, 

nhằm  giúp  tăng  cường  hiệu  quả  của  chương 

trình chống lao. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Arbex  MA.,  Varella  MCL,  Siqueira  HR,  et  al  (2010).  Antituberculosis drugs: Drug  interactions,  adverse  effects,  and  use  in  special  situations.  Part  1:  First‐line  drugs*.  J  Bras  Pneumol, 36(5): 626‐640. 

2 Breen  RA,  Miller  RF,  Gorsuch  T,  et  al  (2006).  Adverse  events  and  treatment  interruption  in  tuberculosis  patients  with  and  without HIV co‐infection. Thorax, 61: 791‐794. 

3 Dean  GL,  Edwards  SG,  Ives  NJ,  et  al  (2002).  Treatment  of  tuberculosis in HIV‐infected persons in the era of highly active  antiretroviral therapy. AIDS, 16: 75‐83. 

4 Isaakidis  P,  Varghese  B,  Mansoor  H  (2012).  Adverse  Events 

Antiretroviral and Second Line Anti‐TB Treatment in Mumbai,  India. PLoS ONE, 7(7): e40781: 1‐7. 

5 Kurniawati F, Sulaiman SAS, Gillani SW (2012). Adverse Drug  Reactions  of  Primary  Anti‐tuberculosis  Drugs  Among  Tuberculosis Patients Treated in Chest Clinic. Int. J. of Pharm. &  Life Sci., 3(1): 1331‐1338. 

6 Marks  DJB,  Dheda  K,  Dawson  R  (2009).  Adverse  events  to  antituberculosis  therapy.  Influence  of  HIV  and  antiretroviral  drugs. International Journal of STD & AIDS, 20: 339‐345. 

7 Pedral‐Sampaio DB, Martins NE, Alcantara AP, et al (1997). Use 

of standard therapy for tuberculosis is associated with increased  adverse reactions in patients with HIV. Braz J Infect Dis, 1: 123‐

130. 

8 Schaberg  T,  Rebhan  K,  Lode  H  (1996).  Risk  factors  for  side  effects  of  isoniazidrifampicin  and  pyrazinamide  in  patients  hospitalized for pulmonary tuberculosis. Eur Respir J, 9: 2026‐

2030. 

9 Sheth  SG,  Rao  CV,  et  al  (2007).  HIV‐related  peripheral  neuropathy  and  glucose  dysmetabolism:  study  of  a  public  dataset. Neuroepidemiology, 29: 121–124. 

10 Snider  DE  Jr.  (1980).  Pyridoxine  supplementation  during  isoniazid therapy. Tubercle, 61: 191‐196. 

11 World  Health  Organization  (2011).  WHO  global  Turbeculosis  control report 2012. Geneva, Switzerland. 

12 World  Health  Organization  (2012).  WHO  global  Turbeculosis  control report 2012. Geneva, Switzerland. 

13 Yee  D,  Valiquette  C,  Pelletier  M,  et  al  (2003).  Incidence  of  serious side effects from first‐line antituberculosis drugs among  patients  treated  for  active  tuberculosis.  Am  J  Respir  Crit  Care  Med, 167: 1472‐1477. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  13/07/2013  Ngày bài báo được đăng:   25–09‐2013 

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 04:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w