Bài viết Phản ứng với thuốc chống lao ở các bệnh nhân đang điều trị lao: Nghiên cứu loạt ca lâm sàng 43 bệnh nhân HIV dương tính và 93 bệnh nhân HIV âm tính với mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá lại tỷ lệ mắc, các dấu hiệu, và triệu chứng của phản ứng với thuốc chống lao ở những người nhiễm và không nhiễm HIV.
Trang 1ĐANG ĐIỀU TRỊ LAO: NGHIÊN CỨU LOẠT CA LÂM SÀNG
43 BỆNH NHÂN HIV DƯƠNG TÍNH VÀ 93 BỆNH NHÂN HIV ÂM TÍNH
Nguyễn Thị Bích Yến*, Nguyễn Huy Dũng*, Thái Hồng Hà**, Lê Tự Phương Thảo***, Nguyễn Hữu
Lân*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Phản ứng thuốc đã được báo cáo ở những bệnh nhân đang nhận điều trị lao. Tuy nhiên, có rất
ít số liệu so sánh phản ứng với thuốc chống lao ở những bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV và bệnh nhân lao không nhiễm HIV tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu: Để đánh giá lại tỷ lệ mắc, các dấu hiệu, và triệu chứng của phản ứng với thuốc
chống lao ở những người nhiễm và không nhiễm HIV.
Chất liệu & phương pháp: Chúng tôi xem xét đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm của 136 bệnh nhân lao,
nhập viện vì phản ứng với thuốc chống lao, có làm xét nghiệm HIV tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (thành phố
Hồ Chí Minh, Việt Nam), từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2010.
Kết quả: Trong số 136 bệnh nhân lao có phản ứng thuốc chống lao đồng ý làm xét nghiệm HIV, có 43/136
(31,6%) bệnh nhân HIV dương tính và 93/136 (68,4%) bệnh nhân HIV âm tính. Tỷ lệ nam/nữ là 3,9:1. Tuổi trung bình (± SD) là 50 ± 16 tuổi và 33 ± 9 tuổi theo thứ tự là bệnh nhân lao/HIV dương tính và lao/HIV âm tính (p < 0,001). Nhìn chung, các triệu chứng phản ứng thuốc thường gặp nhất bao gồm các triệu chứng về da (52,2% bệnh nhân), dạ dày‐ruột (13,2% bệnh nhân), biểu hiện thần kinh và tâm thần (8,8% bệnh nhân), triệu chứng của nhiễm độc gan (7,4%), và ù tai‐chóng mặt (6,6% bệnh nhân). Không có sự khác biệt có ý nghĩa về
tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng lâm sàng do phản ứng thuốc chống lao ở các bệnh nhân lao HIV dương tính và HIV âm tính ở Việt Nam.
Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân nhập viện vì phản ứng thuốc chống lao không có mối liên quan với tình trạng
nhiễm HIV. Có khả năng do sợ bị kỳ thị liên quan đến nhiễm HIV, những bệnh nhân này có thể cung cấp thông tin riêng rẽ về nhiễm HIV và thuốc ARV. Cần thiết so sánh kết quả của chúng tôi với các nghiên cứu tiến cứu về phản ứng thuốc ở bệnh nhân lao/HIV dương tính có điều trị thuốc kháng virus và bệnh nhân lao/HIV âm tính và cần thiết thực hiện một nghiên cứu tiến cứu về phản ứng thuốc chống lao ở bệnh nhân lao có và không nhiễm HIV ở Việt Nam.
Từ khóa: Bệnh nhân lao, bệnh nhân HIV, thuốc chống lao, thuốc kháng retrovirus, phản ứng thuốc
ABSTRACT
ADVERSE DRUG REACTIONS TO ANTIMYCOBACTERIAL MEDICATIONS
IN TUBERCULOSIS PATIENTS: A CASE SERIES STUDY OF 43 HIV‐POSITIVE
AND 93 HIV‐ NEGATIVE PATIENTS
Nguyen Thi Bich Yen, Nguyen Huy Dung, Thai Hong Ha, Le Tu Phuong Thao, Nguyen Huu Lan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 61 ‐ 66
Background: Adverse events have been reported in patients receiving medications for tuberculosis.
* Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh
** Bộ môn Sinh lý, trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh
*** Bộ môn Nội Thần kinh, trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh
Trang 2However, there is little prospective data comparing adverse effects from anti‐tuberculosis medications in TB/HIV co‐infected patients versus TB/HIV‐ negative patients in VietNam.
Objective: To review the incidence, signs, and symptoms, of adverse drug reactions (ADRs) due to
antimycobacterial medications given to HIV‐positive and HIV‐negative people.
Materials and Methods: We reviewed clinical and laboratory characteristics of 136 tuberculosis patients
admitted for ADRS to Pham Ngoc Thach hospital (Ho Chi Minh City, Vietnam) from January 2010 to December
2010, who had been tested for HIV;
Results: Among the 136 tuberculosis patients with ADRs who agreed to be HIV tested, 43/136 (31.6%) were hiv postive and 93/136 (68.4%) were HIV‐negative. Male to female ratio was 3.9:1. The mean age (± SD) was 50 ± 16 years and 33 ± 9 years for TB‐HIV‐positive patients and TB‐HIV‐negative patients, respectively (p<0.0001). Overall, adverse events occurring most frequently included dermatologic symptoms (52.2% of patients), gastrointestinal symptoms (13.2% of patients), neurological and psychiatric manifestations (8.8% of patients), symptoms of hepatotoxicity (7,4%), and cochlear vestibular symptoms (6.6% of patients). There is
no significant difference in the rate of appearance of symptoms caused by adverse drug reactions to antimycobacterial medications among HIV‐positive and HIV‐negative groups.
Conclusion: The percentage of adverse drug reactions to antimycobacterial medications in tuberculosis
patients in causing hospital admission was not related to HIV status. Probably, due to fear HIV‐related stigma, this population may provide information on the respective influences of HIV infection itself and antiretroviral medication It is necessaryto compare our findings with prospective studies of ADRs in HIV‐positive TB patients on antiviral therapy compared to HIV negative patients and, to realize a prospective study ADRs in TB patients with HIV‐positive and HIV‐negative in Vietnam.
Key words: TB patient, HIV patient, antituberculous agent, antiretroviral (ARV) drugs, adverse drug reactions.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2011 toàn
cầu có 8,7 triệu người mắc bệnh lao, trong đó có
13% đồng nhiễm HIV; trong số 1,4 triệu người
chết do lao, có 990.000 trường hợp lao/HIV âm
tính và 430.000 lao/HIVdương tính và 0,5 triệu
phụ nữ. Dù được điều trị, lao vẫn là một trong
những bệnh nhiễm trùng gây tử vong hàng đầu
cho phụ nữ và người nhiễm HIV trên toàn thế
giới. 60% bệnh nhân lao sống ở vùng Đông Nam
Á và Tây Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, lao đa
kháng thuốc là vấn đề mới nổi đáng lo ngại
trong những năm gần đây. Tỷ lệ lao đa kháng ở
nhóm lao phổi mới khoảng 3,7%, ở nhóm lao
phổi cũ khoảng 20%(12). Việt Nam xếp thứ 12
trong 22 quốc gia có gánh nặng lao cao nhất thế
giới, với số bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV gia
tăng trong những năm qua. Trong năm 2011, có
30.000 người chết vì bệnh lao, 180.000 người mắc
lao, trong đó có 14.000 bệnh nhân lao nhiễm HIV. Trong khi năm 2010 có 29.000 người chết vì bệnh lao, 180.000 người mắc lao, trong đó có 7.600 bệnh nhân lao nhiễm HIV (11,12). Mặc dù hoá trị lao sẵn có, các chương trình kiểm soát lao
có thể bị cản trở bởi những chướng ngại trong việc cung ứng thuốc kịp thời và hiệu quả. Trong những khó khăn này, sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân nghèo là vấn đề đáng lưu ý đặc biệt. Điều này thường liên quan với sự phát triển của phản ứng thuốc, đôi khi rất nghiêm trọng và đe doạ tính mạng. Thất bại trong việc kiểm soát bệnh lao làm ảnh hưởng đến hậu quả kinh tế, xã hội và có thể dẫn đến sự xuất hiện của các chủng
vi khuẩn lao đa kháng thuốc, siêu kháng thuốc. Lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất ở người nhiễm HIV. Mối tương tác giữa lao
và HIV rất phức tạp. Một nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc mới của các phản ứng thuốc chống lao nghiêm trọng tăng lên ở bệnh nhân
Trang 3lao nhiễm HIV(6). Nguy cơ tương đối của phản
ứng với thuốc chống lao tăng gấp đôi ở người
nhiễm HIV mà cơ chế vẫn chưa được rõ(2). Sự
tương tác thuốc được coi là có khả năng khi mà
bệnh nhân lao nhiễm HIV được sử dụng đồng
thời thuốc kháng virus HIV (ARV) và thuốc
chống lao. Hậu quả của sự gia tăng phản ứng
thuốc ở bệnh nhân lao/HIV có thể gây ảnh
hưởng sâu sắc ở các đơn vị có nguồn lực hạn
chế(6). Một nghiên cứu đoàn hệ của Isaakidis P.
và cộng sự tại Mumbai cho thấy phản ứng thuốc
chống lao hàng hai xảy ra thường xuyên ở bệnh
nhân lao đa kháng thuốc đồng nhiễm HIV,
nhưng không khác biệt có ý nghĩa so với bệnh
nhân không nhiễm HIV nhận công thức điều trị
lao tương tự(4).
Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch là một bệnh
viện tuyến cuối, tiếp nhận những trường hợp
phản ứng thuốc lao chuyển tuyến của thành phố
Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam. Hàng năm,
số bệnh nhân nhập viện điều trị vì phản ứng
thuốc khoảng 300 người. Từ năm 2005, bệnh
viện bắt đầu nhận điều trị lao đa kháng với
thuốc chống lao hàng hai. Những năm gần đây,
bên cạnh số bệnh nhân bị phản ứng với thuốc
chống lao thiết yếu, đã có nhiều trường hợp
phản ứng với thuốc chống lao hàng hai nhập
viện. Ngoài ra, đồng nhiễm lao/HIV là một vấn
đề sức khỏe lớn của thành phố Hồ Chí Minh.
Gần đây, việc điều trị ARV cho bệnh nhân
nhiễm HIV đã được mở rộng. Theo hướng dẫn
quốc gia, người có HIV(+) có mắc lao là thuộc
giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4. Ngoài điều trị lao,
việc ưu tiên cung cấp ARV cho bệnh nhân
lao/HIV cần được thực hiện càng sớm càng tốt,
ngay sau khi bệnh nhân đã dung nạp thuốc lao.
Vì vậy, những năm gần đây, theo thống kê của
bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, số bệnh nhân
lao/HIV có phản ứng thuốc nhập viện cũng gia
tăng. Tuy nhiên, chưa có một số liệu nào được
công bố về tình hình phản ứng thuốc chống lao
ở những bệnh nhân lao có hoặc không nhiễm
HIV.
Vì vậy chúng tôi thực hiện một nghiên cứu hồi cứu xác định một số đặc điểm của phản ứng thuốc chống lao xảy ra ở bệnh nhân lao có hay không đồng nhiễm HIV. Chúng tôi hy vọng những số liệu bước đầu này giúp cải thiện việc chẩn đoán, theo dõi và tái điều trị lao cho những bệnh nhân này, và có thể là cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn về phản ứng thuốc lao cho bệnh nhân.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng nghiên cứu là 136 bệnh nhân lao nhập bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng 1.2010 đến tháng 12.2010 vì phản ứng với thuốc chống lao trong giai đoạn điều trị và đồng ý làm xét nghiệm chẩn đoán HIV. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca lâm sàng. Các dữ liệu được ghi nhận để đưa vào phân tích trong nghiên cứu bao gồm tuổi, giới, tình trạng hút thuốc lá, uống rượu, nghiện ma túy, tiền căn điều trị lao, dị ứng thuốc, các loại tổn thương do độc tính của thuốc lao, loại thuốc lao gây phản ứng có hại cho bệnh nhân, xét nghiệm viêm gan siêu vi B, siêu vi C, men gan, … Các số liệu sau khi thu thập sẽ được mã hóa và nhập vào máy vi tính,
sử dụng phần mềm Stata 10 để xử lý. Chúng tôi sử dụng phép kiểm Mann‐Whitney để so sánh sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh nhân cho các biến định lượng và phép kiểm χ2 để so sánh sự khác biệt về tỷ lệ giữa hai nhóm bệnh nhân cho các biến định tính. Thực hiện phép kiểm chính xác của Fisher (Fisher’s Exact Test) nếu có trên 20% số ô trong bảng chéo có tần số mong đợi nhỏ hơn 5. Tất cả các phương pháp kiểm định giả thuyết được thực hiện bằng cách
sử dụng kiểm định 2 bên (two‐sided alternatives). Ngưỡng ý nghĩa là 0,05 (p < 0,05)
để chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết thống kê. KẾT QUẢ
Trong số 136 bệnh nhân nghiên cứu với tuổi trung bình 43 ± 16 (từ 18 tuổi đến 78 tuổi), có 108 (79,4%) bệnh nhân nam, tuổi trung bình 45 ± 15 (từ 20 tuổi đến 78 tuổi), 28 (20,6%) bệnh nhân
Trang 4nữ, tuổi trung bình 39 ± 17 (từ 18 tuổi đến 75
tuổi). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về tuổi trung bình giữa bệnh nhân nam và nữ
tham gia nghiên cứu (p > 0,07). 93 (68,4%) bệnh
nhân có xét nghiệm HIV âm tính, 43 (31,6%)
bệnh nhân có xét nghiệm HIV dương tính. Tuổi
trung bình bệnh nhân HIV dương tính nhỏ hơn
tuổi trung bình bệnh nhân HIV âm tính một
cách có ý nghĩa thống kê (33 ± 9 tuổi so với 48 ±
16 tuổi, p < 0,0001). 55,8% bệnh nhân lao nhiễm
HIV có tiền căn nghiện ma túy. Không có bệnh
nhân nghiện ma túy trong nhóm bệnh nhân
lao/HIV âm tính. Chúng tôi chia bệnh nhân
tham gia nghiên cứu thành hai nhóm theo đặc
điểm nhiễm HIV. Đặc điểm nhân khẩu học và
tiền căn của bệnh nhân tham gia nghiên cứu
được trình bày trong bảng 1. Các loại tổn thương
do độc tính của thuốc chống lao được trình bày
trong bảng 2. Các loại thuốc lao gây phản ứng có
hại cho bệnh nhân được trình bày trong bảng 3.
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học và tiền căn của
bệnh nhân tham gia nghiên cứu
HIV (+)
n (%)
HIV (-)
Tuổi 33 ± 9 48 ± 16 <0,0001
Tiền căn điều trị lao: 7(16,3%) 17(18,4%)
>0,7
Hút thuốc lá 6(13,9%) 13(14,1%) >0,9
Nghiện ma túy 24(55,8%) 0(0%) <0,1 -15
Tiền căn dị ứng thuốc 4(9,2%) 4(4,4%) >0,2
HBsAg (+) 2(9,1%)α 3(10,3)β >0,8
Anti-HCV (+) 9(40,1%) γ 2(6,7%) δ <0,003
α Trong tổng số 22 bệnh nhân làm xét nghiệm
HBsAg. β Trong tổng số 29 bệnh nhân làm xét
nghiệm HBsAg. γ Trong tổng số 22 bệnh nhân làm
xét nghiệm Anti‐HCV. δ Trong tổng số 30 bệnh nhân
làm xét nghiệm Anti‐HCV
Bảng 2: Các loại tổn thương do độc tính của thuốc
lao
HIV (+)
n (%)
HIV (-)
n (%)
p-value
Buồn nôn 0(%) 4(4,3%) >0,3
>0,1
Mẩn ngứa 14(32,6%) 34(36,6%)
>0,5
Đỏ da toàn thân 5(11,6%) 14(15,1%)
Viêm trợt da 2(4,7%) 1(1,1%)
Hội chứng Stevens-Johnson 2(4,7%) 1(1,1%) >0,1
Tê bì do viêm dây thần kinh
Rối loạn tâm lý 4(%) 6(2,2%)
>0,1
Tăng men gan 0(0%) 2(2,2%)
0,9
Giảm 3 dòng tế bào máu 0(0%) 1(1,1%) 0,4
Bảng 3: Các loại thuốc lao gây phản ứng có hại cho bệnh nhân
HIV (+)
n (%)
HIV (-)
Thuốc chống lao hàng 1:
Streptomycin (S) 9(20,9%) 30(33,3%) >0,1 Isoniazid (H) 6(14%) 16(17,2%) >0,6 Rifampicin (R) 16(37,2%) 25(26,9%) >0,2 Ethambutol (E) 2(4,7%) 15(16,1%) >0,05 Pyrazinamid (Z) 15(34,9%) 23(24,7%) >0,2 Thuốc chống lao hàng 2 2(66,7%)£ 4(80%)π >0,6
£ Trong tổng số 3 bệnh nhân điều trị lao đa kháng thuốc. π Trong tổng số 5 bệnh nhân điều trị lao đa kháng thuốc
BÀN LUẬN
Một số nghiên cứu trước đây phát hiện tỷ lệ phản ứng với thuốc chống lao ở những bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với bệnh nhân lao/HIV
âm(13,7,3,2,6). Theo thống kê năm 2010, có hơn 300 bệnh nhân nhập bệnh viện phạm Ngọc Thạch vì phản ứng với thuốc chống lao. Tuy vậy, trong nghiên cứu này, chỉ có 136 bệnh nhân bị phản ứng thuốc chống lao nhập viện được xác định tình trạng nhiễm HIV, với 43 bệnh nhân HIV dương tính và 93 bệnh nhân HIV âm tính. Tỷ lệ bệnh nhân lao/HIV (+) trên bệnh nhân lao nhập
Trang 5hơn nhiều so với tỷ lệ HIV (+) trên quần thể
bệnh nhân lao tại Việt Nam cùng năm 2010 là
7.600 bệnh nhân lao nhiễm HIV trong tổng số
180.000 người mắc lao(11). Điều này chứng tỏ
rằng, việc tư vấn & xét nghiệm HIV đã không
được thực hiện cho tất cả bệnh nhân lao nhập
viện vì phản ứng thuốc. Ngoài ra, chúng tôi
cũng không có đủ dữ liệu điều trị ARV của bệnh
nhân trong hồ sơ bệnh án. Theo Marks D.J.B. và
cộng sự, tại Nam phi, vùng có tỷ lệ đồng nhiễm
lao/HIV cao, việc cung cấp thuốc ARV vẫn còn
hạn chế do sự chậm trễ trong chẩn đoán, quá tải
cơ sở y tế, công tác hậu cần kém ở các phòng
khám, bệnh nhân không đến khám bệnh do sự
kỳ thị, bệnh nhân có thể cung cấp thông tin
riêng rẽ về nhiễm HIV và thuốc ARV; hiện
tượng tăng tần suất tác dụng phụ nghiêm trọng
do thuốc chống lao không liên quan đến việc sử
dụng ARV vì phần lớn bệnh nhân nhiễm HIV
đã không được điều trị bằng thuốc ARV(6).
Trong một nghiên cứu về phản ứng thuốc chống
lao tại Viện Lồng ngực Montreal từ năm 1990
đến 1999, Yee D. và cộng sự nhận thấy tỷ lệ các
thuốc chống lao thường gây tác dụng phụ
nghiêm trọng theo thứ tự giảm dần là
pyrazinamide (1,48/bệnh nhân/tháng), isoniazid
(0,49/bệnh nhân/tháng), rifampin (0,43/bệnh
nhân/tháng), ethambutol (0,07 bệnh nhân/tháng)
trong số những bệnh nhân hóa trị lao bằng bốn
thuốc chống lao thiết yếu(13) là pyrazinamide,
isoniazid, rifampin, ethambutol. Trong nghiên
cứu của chúng tôi, tỷ lệ phản ứng thuốc chống
lao do Streptomycin là 28,9%, Rifampicin là
30,1%, Pyrazinamid là 27,9%, Isoniazid là 16,2%,
Ethambutol là 12,5%, trong số những bệnh nhân
hóa trị lao bằng năm thuốc chống lao thiết yếu là
Streptomycin, pyrazinamide, isoniazid,
rifampin, ethambutol. Cũng trong nghiên cứu
này của chúng tôi, tỷ lệ phản ứng thuốc chống
lao hàng 2 là 75% trong tổng số 8 bệnh nhân
điều trị lao đa kháng thuốc phải nhập viện vì bị
phản ứng thuốc. Phản ứng với thuốc chống lao
hàng hai xảy ra với tần suất lớn nhưng không
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh
nhân lao kháng thuốc HIV dương tính so với nhóm bệnh nhân lao kháng thuốc HIV âm tính cũng được ghi nhân trong nghiên cứu nghiên cứu đoàn hệ của Isaakidis P. và cộng sự tại Mumbai(4).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phản ứng thuốc lao thường gây ra các triệu chứng tổn thương da (52,2%), rối loạn đường tiêu hóa (13,2%), biểu hiện thần kinh tâm thần (8,8%), rối loạn tổn thương gan mật (7,4%), rối loạn hệ thống tiền đình ốc tai (6,6%), triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại biên (2,9%), sốt (2,2%), phù mạch (2,2%), hội chứng Stevens‐Johnson (2,2%), đau khớp (1,5%). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng gây ra do phản ứng thuốc lao ở nhóm bệnh nhân lao/HIV dương so với bệnh nhân lao/HIV
âm. Theo nghiên cứu thực hiện tại Malaysia của Kurniawati F. và cộng sự, các tác dụng phụ nghiêm trọng thường xảy ra khi điều trị bằng thuốc kháng lao thiết yếu chung cho cả bệnh nhân HIV dương và HIV âm là triệu chứng tổn thương da (7,8%), rối loạn đường tiêu hóa (2,5%), rối loạn tổn thương gan mật (2,6%), biểu hiện thần kinh tâm thần (0,3%)(5).
Phác đồ hoá trị ngắn ngày có chứa isoniazid, rifampicin, và pyrazinamide đã nâng cao hiệu quả điều trị lao. Phản ứng bất lợi do thuốc thường gặp nhất dẫn tới gián đoạn điều trị là nhiễm độc gan(8). Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở cả hai nhóm bệnh nhân lao/HIV dương và lao/HIV âm, bệnh nhân có tăng men gan và bilirubin chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (7,4%), trong khi bệnh nhân có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao hơn (13,2%). Theo Marks D.J.B.
và cộng sự, tỷ lệ nhiễm độc gan thấp một cách bất thường có thể do không có dữ liệu cơ sở và không có theo dõi các xét nghiệm chức năng gan, ở một số bệnh nhân, buồn nôn và nôn có thể là triệu chứng của nhiễm độc gan do thuốc(6). Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại biên do phản ứng với thuốc chống lao không thấy xuất hiện ở nhóm bệnh nhân lao/HIV dương và chỉ ghi nhận ở
Trang 6lý thần kinh ngoại biên có thể chỉ ra bệnh nhân
có phản ứng với isoniazid ở cả nhóm bệnh nhân
đang điều trị lao có HIV dương hoặc âm(10,6), xảy
ra ở 5% bệnh nhân điều trị bằng isoniazid(1).
Nghiên cứu của Breen R.A. và cộng sự chứng tỏ
không có mối liên quan giữa sự phát triển của
bệnh lý thần kinh ngoại biên và điều trị ARV(2).
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng bệnh lý thần
kinh ngoại biên thường gặp với tần suất khoảng
20% ở người nhiễm HIV(9).
Ở bệnh nhân điều trị bằng isoniazid, các
biểu hiện thần kinh tâm thần do phản ứng với
thuốc như rối loạn tâm thần, động kinh co giật,
rối loạn ý thức, hôn mê thường ít gặp, nhưng
thường nặng và khó chẩn đoán, cần phân biệt
với lao màng não, bệnh lý não do gan(1). Trong
nghiên cứu của chúng tôi, các biểu hiện thần
kinh tâm thần do phản ứng với thuốc xảy ra ở
8,8% bệnh nhân bị phản ứng với thuốc lao.
Để kết luận, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ phản
ứng thuốc chống lao ở những bệnh nhân nhập
viện điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
giữa nhóm bệnh nhân lao HIV dương tính so
với nhóm bệnh nhân lao HIV âm tính không
giống với những kết quả nghiên cứu tiến cứu
báo cáo trước đây trên thế giới, dù bệnh nhân
HIV dương tính có thể dễ dàng tiếp cận điều trị
ARV tại Việt Nam. Vì vậy, cần thiết thực hiện
nghiên cứu tiến cứu về phản ứng thuốc chống
lao trên hai nhóm đối tượng HIV dương tính và
HIV âm tính để nhận diện nguy cơ xảy ra phản
ứng thuốc ở những bệnh nhân đang điều trị lao,
nhằm giúp tăng cường hiệu quả của chương
trình chống lao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Arbex MA., Varella MCL, Siqueira HR, et al (2010). Antituberculosis drugs: Drug interactions, adverse effects, and use in special situations. Part 1: First‐line drugs*. J Bras Pneumol, 36(5): 626‐640.
2 Breen RA, Miller RF, Gorsuch T, et al (2006). Adverse events and treatment interruption in tuberculosis patients with and without HIV co‐infection. Thorax, 61: 791‐794.
3 Dean GL, Edwards SG, Ives NJ, et al (2002). Treatment of tuberculosis in HIV‐infected persons in the era of highly active antiretroviral therapy. AIDS, 16: 75‐83.
4 Isaakidis P, Varghese B, Mansoor H (2012). Adverse Events
Antiretroviral and Second Line Anti‐TB Treatment in Mumbai, India. PLoS ONE, 7(7): e40781: 1‐7.
5 Kurniawati F, Sulaiman SAS, Gillani SW (2012). Adverse Drug Reactions of Primary Anti‐tuberculosis Drugs Among Tuberculosis Patients Treated in Chest Clinic. Int. J. of Pharm. & Life Sci., 3(1): 1331‐1338.
6 Marks DJB, Dheda K, Dawson R (2009). Adverse events to antituberculosis therapy. Influence of HIV and antiretroviral drugs. International Journal of STD & AIDS, 20: 339‐345.
7 Pedral‐Sampaio DB, Martins NE, Alcantara AP, et al (1997). Use
of standard therapy for tuberculosis is associated with increased adverse reactions in patients with HIV. Braz J Infect Dis, 1: 123‐
130.
8 Schaberg T, Rebhan K, Lode H (1996). Risk factors for side effects of isoniazidrifampicin and pyrazinamide in patients hospitalized for pulmonary tuberculosis. Eur Respir J, 9: 2026‐
2030.
9 Sheth SG, Rao CV, et al (2007). HIV‐related peripheral neuropathy and glucose dysmetabolism: study of a public dataset. Neuroepidemiology, 29: 121–124.
10 Snider DE Jr. (1980). Pyridoxine supplementation during isoniazid therapy. Tubercle, 61: 191‐196.
11 World Health Organization (2011). WHO global Turbeculosis control report 2012. Geneva, Switzerland.
12 World Health Organization (2012). WHO global Turbeculosis control report 2012. Geneva, Switzerland.
13 Yee D, Valiquette C, Pelletier M, et al (2003). Incidence of serious side effects from first‐line antituberculosis drugs among patients treated for active tuberculosis. Am J Respir Crit Care Med, 167: 1472‐1477.
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 13/07/2013 Ngày bài báo được đăng: 25–09‐2013