1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân loại cơn động kinh trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh

4 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 528,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện với mục tiêu phân loại cơn theo Hiệp Hội Chống Động Kinh Thế Giới 1981 (ICES) trên bệnh nhi động kinh mới được chẩn đoán hoặc chưa điều trị. Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên bệnh nhi động kinh (ĐK) tại Bệnh Viện Nhi Đồng I TP Hồ Chí Minh (BVNĐI) từ tháng 4/2006 đến tháng 3/2007.

Trang 1

PHÂN LOẠI CƠN ĐỘNG KINH TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tô Hồng Đức*, Nguyễn Quang Vinh**, Trần Diệp Tuấn***

TÓM TẮT

Mục đích: Phân loại cơn theo Hiệp Hội Chống Động Kinh Thế Giới 1981 (ICES) trên bệnh nhi động kinh mới được

chẩn đoán hoặc chưa điều trị

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên bệnh nhi động kinh (ĐK) tại Bệnh Viện Nhi Đồng I TP Hồ Chí

Minh (BVNĐI) từ tháng 4/2006 đến tháng 3/2007

Kết quả: Có 99 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, gồm 53 nam và 46 nữ, tỷ lệ nam nữ là 1,15:1 Đến từ các tỉnh là 77 ca

(78%) Chúng tôi ghi nhận có 47 ca (47,5%) có cơn cục bộ, trong đó cơn cục bộ đơn giản là 10 ca (10,1%), cơn cục bộ phức tạp là 4 ca (4%), và cơn cục bộ toàn thể hóa là 33 ca (33,3%) Có 38 ca là cơn toàn thể, chiếm tỷ lệ 38,4% Cơn không phân loại được là 14 ca (14,1%) Có 33 ca (33,3%) là ĐK triệu chứng Theo dõi từ 3 tháng trở lên có 86 ca (86,9%),

bỏ trị 13 ca (13,1%) Đáp ứng sớm có 63/86 ca (73,3%)

Kết Luận: Kết quả phân loại được chiếm tỉ lệ khá cao bằng phân loại cơn động kinh theo ILAE 1981 Đây là cách

phân loại đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp với hoàn cảnh của các nước đang phát triến như nước ta, khi mà các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán còn hạn chế Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cần có các chương trình giáo dục trong cộng đồng để nâng cao hiểu biết về bệnh động kinh

ABSTRACT

CLASSIFICATION OF PEDIATRIC EPILEPTIC SEIZURES IN CHILDREN HOSPITAL No1

AT HO CHI MINH CITY

To Hong Duc, Nguyen Quang Vinh, Tran Diep Tuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 - No 3 – 2008: 172 - 177

Objectives: To classify epileptic seizures based on the 1981 International Classification of Epileptic Seizures (ICES)

for children with newly diagnosed or untreated epilepsy

Methods: A case-series study of 99 epileptic children at Children Hospital No1 HCMC from 4/2006 to 3/2007

Results: Ninety-nine patients were enrolled in this study with 53 boys and 46 girls (male to female ratio is 1.15:1)

There were 77 cases (78%) came from provinces Out of 99 patients, 47 (47.5%) were classified as partial seizures, including simple partial seizures in 10 cases (10.1%), complex partial seizures in 4 cases (4%), and 33 cases (33.3%) with secondarily generalized seizures Thirty-eight patients (38.4%) were classified as generalized seizures Unclassified seizures comprised of 14 cases (14.1%) Thirty-three out of 99 patients were symptomatic epilepsy Eighty-six cases (86.9%) were followed up for more than 3 months, and early responding to antiepileptic drug was found in 63 out of 86 patients (73.3%)

Conclusions: Based on the 1981 ICES, the frequency of patients with classifiable seizures were high in this study This

classification is rather simple and suitable for developing countries such as Vietnam, where diagnostic facilities are limited Furthermore, the results also suggest that health education is necessary to improve the awareness of epilepsy in the publics

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, động kinh (ĐK) chiếm

từ 0,5-1% dân số(14) Ở các nước đang phát triển tỷ lệ này

cao hơn gấp 2-5 lần, trong đó trước 6 tuổi chiếm 60%(4)

Bệnh lý ĐK tại các nước đang phát triển chưa thật sự được

ngành y tế quan tâm mặc dù đây là một bệnh có thể chữa

khỏi được(14)

(4) Phần lớn bệnh nhân

ở các nước đang phát triển không được điều trị bằng thuốc

chống động kinh Ước tính vào khoảng 85% bệnh nhân

này hoặc là không được điều trị hoặc là được điều trị

không thích hợp (Meinardi và cs 2001) Một trong những

trở ngại chính đó là vấn đề chẩn đoán bệnh ĐK

Hiệp Hội Chống Động Kinh Thế Giới (International

League Against Epilepsy: ILAE) đã đưa ra hệ thống phân

loại cơn ĐK (1981), phân loại ĐK và hội chứng ĐK (1989) nhằm giúp thống nhất trong báo cáo, nghiên cứu và thực hành lâm sàng Tuy nhiên, tại Thành Phố Hồ Chí Minh (TPHCM) chưa có nghiên cứu nào thật sự sử dụng

hệ thống phân loại này trong ĐK trẻ em Những năm gần đây, tuy có những hệ thống phân loại khác đã được đề nghị, nhưng chưa được chấp nhận Do đó, phân loại của ILAE là phân loại được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất hiện nay Hệ thống phân loại cơn ĐK của ILAE 1981 tuy

đã sử dụng đến các phương pháp khách quan như đo EEG lâu dài và ghi hình video, nó vẫn còn đơn giản hơn nhiều

so với phân loại ĐK và hội chứng ĐK của ILAE 1989 Phân loại ILAE 1989 đòi hỏi phải phân định được hội chứng ĐK toàn thể hay cục bộ và bệnh sinh của ĐK Phân loại cơn ĐK theo ILAE 1981 đơn giản, chỉ dựa trên 3 yếu

*** Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

tố: (1) biểu hiện lâm sàng của cơn động kinh, (2) biểu hiện

của điện não đồ (EEG) trong cơn, và (3) biểu hiện của

EEG ngoài cơn Tuy không giúp xác định được bệnh lý

ĐK và hội chứng ĐK cụ thể, nhưng dựa trên bệnh sử đáng

tin cậy và EEG, các thầy thuốc thường có thể phân loại

được cơn ĐK, xác lập chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị

thích hợp

Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này để khảo sát khả

năng áp dụng phân loại cơn ĐK theo ILAE 1981 cho trẻ từ

1 tháng đến 15 tuổi tại Bệnh viện Nhi đồng 1 Đồng thời

khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị,

và các yếu tố liên quan đến đáp ứng sớm và bỏ trị

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành phân loại cơn ĐK theo hệ thống

phân loại ILAE 1981 cho 99 trẻ từ 1 tháng tới 15 tuổi mới

được chẩn đoán ĐK (chưa được chẩn đoán và điều trị

trước đó) tại khoa Nhiễm – Thần Kinh BVNĐI từ tháng

4/2006 đến tháng 3/2007 Trẻ được chẩn đoán ĐK khi có ít

nhất 2 cơn kịch phát (xuất hiện đột ngột, thời gian ngắn,

phục hồi nhanh, có tính định hình, liên quan đến vận động,

cảm giác, giác quan, ý thức và tâm thần) mà không có yếu

tố kích gợi (yếu tố kích gợi là các yếu tố như sốt, nhiễm

trùng hệ thần kinh trung ương, chấn thương, xuất huyết

não, rối loạn điện giải…) Hai cơn kịch phát phải cách

nhau ít nhất là 24 giờ Cơn ĐK của trẻ được phân loại theo

bảmg phân loại ILAE 1981, tuy nhiên, do chúng tôi không

đủ điều kiện để thực hiện các EEG theo dõi liên tục, EEG

có kèm ghi hình vidéo, EEG nội sọ … nên phân loại của

chúng tôi chủ yếu dựa vào (1) khai thác bệnh sử cẩn thận

và tỉ mỉ và (2) EEG trong 20 phút theo qui cách đang thực

hiện tại BVNĐI (đặt điện cực theo hệ thống 10-20, bao

gồm 2-3 nghiệm pháp tăng thông khí và kích thích ánh

sáng) Chủ yếu là các EEG được thực hiện ngoài cơn Ban

đầu chúng tôi ghi nhận có 129 bệnh nhi có thể đưa vào

nhóm nghiên cứu, nhưng sau khi khai thác bệnh sử cẩn

thận và thực hiện EEG, thì 30 bệnh nhi bị loại khỏi lô

nghiên cứu do hoặc là cơn kịch phát của trẻ không phải là

ĐK, hoặc có nguyên nhân kích gợi, hoặc đã được điều trị trước đó, hoặc theo dõi không đầy đủ và khai thác được bệnh sử không đáng tin cậy Như vậy số bệnh nhi trong nghiên cứu của chúng tôi là 99 Ngòai ra, chúng tôi cũng thực hiện xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh đối với trẻ nghi ngờ có tổn thương cấu trúc, có 45 trẻ được thực hiện siêu

âm no, 11 trẻ có CT (computed tomography) scan não và 3 trẻ được thực hiện MRI (magnetic resonance imaging) não

KẾT QUẢ

Có 99 bệnh nhi tham gia nghiên cứu, bé trai 53 ca và gái 46 ca Tỷ lệ nam trên nữ là 1,15:1 Có 77 bệnh nhi đến

từ các tỉnh, chiếm tỷ lệ 78% Lý do vào viện do co giật là

92 ca (92,9%), cơn mất ý thức và ngã là 3 ca (3%), nhức đầu là 2 ca (2%), rối loạn tiền đình – thị giác là 2 ca (2%),

và mất ý thức là 1 ca (1%) Tiền sử bệnh lý thần kinh là 40

ca (40,4%), chậm phát triển tâm vận là 26 ca (26,3%), sốt

co giật là 14 ca (14,1%) Số ngày trung bình trước khi đến

cơ sở y tế sau cơn ĐK đầu tiên và đến BVNĐI lần lượt là 83±216 ngày (dao động từ 1 đến 1460 ngày) và 212±466 ngày (dao động từ 1 đến 3190 ngày) Chỉ có 22 (22,2%) trẻ được đưa ngay đến cơ sơ y tế ngay sau cơn co giật đâu tiên Trong khi đó, có đến 11 ca (11,1%) sau 6 tháng mới được đưa đến cơ sở y tế lần đầu và 26 trẻ (26,3%) sau 6 tháng mới đến khám lần đầu tiên tại BVNĐI

Chẩn đoán động kinh chỉ dựa trên bệnh sử và biểu hiện lâm sàng mà không có sự hỗ trợ của EEG có thể thực hiện được trên 91 ca (91,9%) Trong đó, phân loại được cơn động kinh là 32 ca, chiếm tỉ lệ 35,2% (32/91 ca)

Phân loại cơn động kinh theo bảng phân loại của ILAE 1981

Chúng tôi ghi nhận có 47 ca (47,5%) có cơn cục bộ, trong đó cơn cục bộ đơn giản là 10 ca (10,1%), cơn cục bộ phức tạp là 4 ca (4%), và cơn cục bộ toàn thể hóa là 33 ca (33,3%) Có 38 ca là cơn toàn thể, chiếm tỷ lệ 38,4% Cơn không phân loại được là 14 ca (14,1%) (Xem Bảng 1)

Bảng 1 Phân loại cơn ĐK theo ILAE 1981 và phân bố theo nhóm tuổi

Loại cơn 1-12 tháng 13-23 tháng 2-5 tuổi 6-10 tuổi 11-15 tuổi Số ca (tỉ lệ)

1 Cục bộ

47

(47,5%)

Thực vật Tâm thần

2 Toàn

thể

38

(38,4%)

Trang 3

a 1 ca vừa có cơn vận động vừa có cơn cảm giác; b

Trong đó cơn vận động là 30 ca và cơn cảm giác là 3

ca (1 ca vừa có cơn vận động vừa có cơn cảm giác), và

1 cơn tâm thần Trong số này có 1 ca có biểu hiện mất

trương lực cơ và 2 ca có biểu hiện của động tác tự

động

Động kinh không co cứng hoặc co giật – Phân

loại khi không có EEG

Điểm đáng lưu ý là chúng tôi ghi nhận 8 bệnh nhân

không có biểu hiện co cứng hoặc co giật trong nghiên

cứu này, chiếm tỉ lệ là 8% Trong đó biểu hiện lâm sàng

là mất trương lực cơ có 2 ca; động kinh thể cảm giác gồm

nhức đầu 2 ca, tiền đình 1 ca, và thị giác 1 ca; động kinh

thể tâm thần 1 ca; và cơn vắng ý thức là 1 ca

Điện não đồ và hình ảnh não (siêu âm não

xuyên thóp, CT scan và MRI)

Tất cả 99 ca đều được thực hiện EEG ngoài cơn

Kết quả EEG với sóng ĐK điển hình (sóng gai, sóng

nhọn, đa gai, phực hợp sóng gai-sóng chậm, phức hợp

đa sóng gai-sóng chậm, đợt sóng ức chế, đợt sóng

chậm, sóng hypsarrythmia trong hội chứng West) l 56

ca (56,6%), không điển hình (hoạt động điện bất

thường nhưng không điển hình cho ĐK) là 15 ca

(15,2%), không bất thường l 28 ca (28,3%) (Xem bảng

2)

Bảng 2 Kết quả EEG theo loại cơn ĐK

Tính chất EEG (số ca)\ ĐK cục

bộ

ĐK toàn thể

ĐK không phân loại

Sóng ĐK điển hình (56)

Cục bộ 1 bên 6

Cục bộ 2 bên – đa ổ 2

Toàn thể hóa 14

Sóng ĐK không điển hình

(15)

13 2 EEG không bất thường (28) 12 2 14

Tổng cộng 47 ca 38 ca 14 ca

Siêu âm não xuyên thóp được thực hiện trên 45 trẻ

nhũ nhi, trong đó 11 ca có bất thường, gồm dãn não

thất, dị tật não bẩm sinh và khối choán chỗ bất thường

Hình ảnh CT scan não được làm trên 11 ca, bất thường

gặp trên 8 ca, gồm u não, xuất huyết não, di chứng

chấn thương sọ não, u xơ củ và dị tật teo một bán cầu

đại não trong hội chứng Sturge-Weber MRI được thực

hiện trên 3 ca, và đều cho kết quả bình thường Bằng

cách kết hợp các chi tiết trong khai thác bệnh sử, thăm

khám thần kinh tổng quát và kết quả hình ảnh học,

chúng tôi ghi nhận động kinh triệu chứng trong 33 ca

(33,3%) Trong đó nguyên nhân bất thường não bẩm

là 19 ca (19,2%), và sau thời kỳ chu sinh là 8

ca (8,1%)

Kết quả điều trị bước đầu

Điều trị ban đầu đa số là đơn trị Nghiên cứu của

chúng tôi ghi nhận có 97 ca (98%) là đơn trị Trong đó

chủ yếu là dùng valproic acid gồm 82 ca (82,8%), ngoài

ra còn có carbamazepin, phenobarbital và phenytoin

Theo dõi từ 3 tháng trở lên thực hiện được trên 86 ca

(86,9%), bỏ trị 13 ca (13,1%) Trong 86 ca được theo dõi trong 3 tháng thì có 63 ca có đáp ứng sớm (sau 3 tháng dùng thuốc có giảm ≥ 75% cơn động kinh trở lên so với ban đầu), chiếm tỉ lệ 73,3% Trong 23 ca thuộc nhóm không đáp ứng sớm, thì có 17 ca có giảm về tần số cơn

và thời gian của mỗi cơn; và 6 ca hoàn toàn không đáp ứng nhưng không có ca nào có tăng tần số cơn so với trước khi điều trị

BÀN LUẬN

Tỉ lệ phân loại được trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là 85,9% Đây là một tỉ lệ khá cao Các nghiên cứu được thực hiện tại các nước phát triến và đang phát triển có tỉ lệ phân loại được dao động từ 71% đến gần 98%(9) Nghiên cứu của Shah(10) có phương pháp gần giống chúng tôi nhất như về phân loại, lứa tuổi và địa điểm là tại bệnh viện, các tỷ lệ gần giống về ba nhóm lớn, tuy nhiên trong nhóm ĐK cục

bộ có tỷ lệ ĐK đơn giản thấp hơn và phức tạp cao hơn của chúng tôi Nghiên cứu trong nước có của Lê Thị Khánh Vân (2003), tuy nhiên chưa theo cách phân loại của ILAE nên kết quả cũng khác (không có nhóm không phân loại được) Nghiên cứu của Hoàng Viết Bôn (2001) có cách phân loại theo ILAE cho tỷ lệ tương tự như nghiên cứu của chúng tôi, nhưng đây là nghiên cứu chủ yếu về kiến thức thái độ hành vi, chưa

đi sâu vào các thể lâm sàng

Tỉ lệ ĐK cục bộ trong nghiên cứu của chúng tôi là 47,5% Theo Sananayake, tỷ lệ ĐK cục bộ ở các nước đang phát triển (54 -73%) cao hơn ở các nước phát triển (33 – 66%)(9) Kết quả của chúng tôi cho tỷ lệ cục

bộ cao phù hợp với nhận định này, lý do có thể là do tỷ

lệ này phản ảnh tần suất khá cao của ĐK triệu chứng tại các nước đang phát triển, mắc phải sau tổn thương chu sinh, nhiễm trùng và chấn thương đầu Chúng tôi tin rằng tỉ lệ ĐK cục bộ ở lô nghiên cứu của chúng tôi

cơ lẽ còn cao hơn, nhưng do chúng tôi phân loại chủ yếu dựa vào bệnh sử biểu hiện lâm sàng mà không có các phương tiện trợ giúp khác như video, nên có thể đã phân loại một số trường hợp ĐK cục bộ toàn thể hóa vào nhóm ĐK toàn thể Trong nhóm ĐK cục bộ thì cơn cục bộ toàn thể hóa chiếm ưu thế (33/47 ca) Giải thích lý do có tỷ lệ cao hơn các nhóm khác trong ĐK cục bộ có thể là sau khi bị thể cục bộ đơn giản hoặc phức tạp ban đầu bệnh nhân không đi khám và điều trị cho tới lúc họ chuyển qua giai đoạn toàn thể hóa

Tỉ lệ ĐK toàn thể trong nghiên cứu của chúng tôi

là 38,4% Trong đó chỉ có một ca là ĐK cơn vắng ý thức Theo một số nghiên cứu thì ĐK cơn vắng ý thức

ít gặp ở các nước nhiệt đới hơn ở các nước vùng ôn đới(9) Ngoài ra, ĐK cơn vắng cũng thường gặp ở lứa tuổi lớn hơn Chúng tôi cũng ghi nhận 3 ca ĐK với cơn

co giật, là một dạng cơn ĐK tương đối hiếm Phần lớn các cơn toàn thể là cơn co cứng co giật gồm 24 ca

Tỉ lệ không phân loại được trong nghiên cứu của chúng tôi là 14,1%, có cao hơn so với nghiên cứu của Sananayake(9) Trong các trường hợp được chẩn đoán

ĐK khi chưa đo EEG (91 bệnh nhân - 91,9%), nếu không có EEG chỉ phân loại cơn được 35,2%, nếu có EEG phân loại được 85,9% So sánh với Sananayake

Trang 4

(1250 bệnh nhân trẻ em và người lớn), tỷ lệ này lần

lượt là 95,6% và 97,1%; đây là một trong những báo

cáo có tỷ lệ phân loại được cao nhất trên thế giới(9)

Sananayake phân loại cơn toàn thể khi không có EEG

bằng lâm sàng, sau khi có EEG phải chuyển 30 ca

(2,4% trên tổng số) sang loại cục bộ (nhóm toàn thể

hóa thứ phát) Vì vậy để tránh lầm lẫn này, chúng tôi

xếp những ca có biểu hiện lâm sàng toàn thể (không có

yếu tố giúp xác định khác) khi chưa có EEG hoặc sau

đo EEG có kết quả bình thường vào loại không phân

loại được, cũng do sự khác nhau này chúng tôi có tỷ lệ

không phân loại được cơn cao hơn của Sananayake

Ngoài ra, có lẽ còn do thời gian theo dõi của chúng tôi

ngắn chỉ trong 3 tháng

Về 8 ca không co cứng hoặc co giật, khả năng

chẩn đoán ĐK chủ yếu là dựa trên lâm sàng, tuy nhiên

không thể xác định sớm đây là ĐK nếu không có EEG

Điều này cho thấy khi áp dụng bảng phân loại chỉ cần

dựa trên lâm sàng và EEG, hiệu quả phân loại cơn rất

tốt Tuy nhiên cần chú ý dù có EEG, một số ca không

co gòng hoặc co giật vẫn có thể bị bỏ sót nếu EEG

bình thường hoặc không nghĩ tới nên không chỉ định

Chúng tôi nhận thấy với 28,3% EEG bình thường,

15,2% không điển hình đã khẳng định việc chẩn đoán

ĐK không bao giờ bị loại trừ chỉ vì kết quả EEG

không thấy sóng ĐK điển hình(1,13) Siêu âm não có

24,2% bất thường trên tổng số được chỉ định (11/45

ca), xét nghiệm này đơn giản, vô hại, ít tốn kém và hữu

ích khi cho biết những thông tin quan trọng về dãn não

thất, khối bất thường, dị tật não bẩm sinh… giúp định

hướng chẩn đoán nguyên nhân và cho thêm xét nghiệm

khác Về nguyên nhân gây ĐK triệu chứng, nhiều nhất

là bệnh lý chu sinh với 19,2% (ngạt, sinh non…), kế

tới mới là bệnh lý thần kinh, chứng tỏ vấn đề quản lý

và đề phòng bệnh lý chu sinh còn cần được quan tâm

Trong nghiên cứu, chúng tôi đánh giá tỷ lệ đáp

ứng sớm vì đây là yếu tố tiên lượng thuyên giảm về lâu

dài, bất kể nguyên nhân(3) Dù chủ yếu là đơn trị

(98%), tỷ lệ đáp ứng sớm khả quan trên số theo dõi

điều trị đầy đủ trong 3 tháng đầu (63/86 ca, 73,3%),

nhóm không đáp ứng sớm cũng không thấy tăng tần số

cơn Tỷ lệ bỏ trị còn rất cao (13,1%) và không liên

quan với nhóm tuổi, giới, địa chỉ, tiền sử bệnh lý thần

kinh Do đó, cần chú ý tư vấn và giúp người thân hiểu

rõ về sự cần thiết của quá trình điều trị và theo dõi lâu

dài trong điều trị ĐK

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng ghi nhận tỷ

lệ vào cơ sở y tế lần đầu ở ngày đầu là 22,2% dù co

giật là tình trạng gây lo lắng cho thân nhân Đây là một

tỷ lệ thấp đáng ngạc nhiên Tỉ lệ bệnh nhi được đưa

đến cơ sở y tế cao nhất ở tuần 2-4 (25 ca, chiếm

25,6%), có thể do một số ca có cơn thưa hoặc chỉ sau

2-4 tuần đầu thì tần số cơn mới tăng đáng kể Trong

khi đó, có đến 11 ca (11,1%) sau 6 tháng mới được

đưa đến cơ sở y tế lần đầu và 26 trẻ (26,3%) sau 6

tháng mới đến khám lần đầu tiên tại BVNĐI Điều trị

chậm càng có nguy cơ khó trị(1) và trẻ nên được đến

khám chuyên khoa ngay sau khi có cơn co giật không

kèm sốt đầu tiên(11)

KẾT LUẬN

Đây là nghiên cứu phân loại cơn ĐK theo ILAE

1981 ở trẻ em được khám và điều trị tại BVNĐ1 Với khai thác bệnh sử chi tiết và EEG ngoài cơn, kết quả phân loại được chiếm tỉ lệ khá cao, tuy có thể có một

số lầm lẫn khi xếp loại do chúng tôi không có EEG liên tục và video để quay phim theo dõi Dù vậy, đây

là phân loại mà chúng ta có thể xử dụng được, đặc biệt

là tại một nước đang phát triến và thiết các phương tiện chẩn đoán khác như nước ta Với việc phân loại cơn như vậy, tuy không giúp xác định được bệnh lý

ĐK và hội chứng ĐK cụ thể, nhưng dựa trên bệnh sử đáng tin cậy và EEG, các thầy thuốc thường có thể phân loại được cơn ĐK, xác lập chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị thích hợp Điều trị với đơn trị cho tỷ lệ đáp ứng sớm cao, nhưng tỷ lệ bệnh nhân đến điều trị muộn và bỏ trị cũng rất cao, chứng tỏ công tác tuyên truyền về bệnh ĐK cần được chú ý quan tâm hơn nữa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bazil CW, Morrell MJ, Pedley TA (2005) Epilepsy In: Rowland

LP Merritt’s Neurology, 11th edition, pp 992-1034 Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia

2 Bùi Song Hương, Lê Nam Trà, Hoàng Cẩm Tú (2005) Một số đặc điểm

lâm sàng và điện não đồ của động kinh cục bộ ở trẻ em Tạp chí nghiên cứu y học, số phụ trương 35 (2): 92 - 95

3 Guerrini R (2006) Epilepsy in children The Lancet, 367(9509):

499-524

bảo vệ sức khoẻ trẻ em, Luận án phó tiến sĩ khoa học y dược Đại

Học Y Khoa Hà Nội, tr 1-7

Nhi Đồng II TPHCM, Luận án chuyên khoa cấp II, Đại Học Y Dược

TPHCM, tr 5-60

6 Marson A, Jacoby A, Johnson A, Kim L, Gamble C, Chadwick D (2005) Immediate versus deferred antiepileptic drug treatment for

early epilepsy and single seizures: a randomised controlled trial The Lancet, vol 365, June: 2007-2013

7 Ngô Viết Bôn (2001) Nghiên cứu kiến thức, thái độ, hành vi của các

bà mẹ có con bị động kinh tại Bệnh Viện Nhi Đồng I TPHCM Y Học

TPHCM, số phụ bản 5(4): 86 - 88

8 Phan Việt Nga (2002) Nghiên cứu chẩn đoán và theo dõi kết quả điều trị động kinh toàn thể ở trẻ em Luận án tiến sĩ khoa học y dược,

Học Viện Quân Y, tr 1-24

9 Senanayake N (1993) “Classification of Epileptic Seizures: A Hospital-Based Study of 1,250 Patients in a Developing Country”

Epilepsia, 34(5): 812-818

10 Shah NK, Rajadhyaksha BS, Shah VS , Shah NS, Desai VG (1992) Experience with the International League Against Epilepsy Classifications of Epileptic Seizures (1981) and Epilepsies and Epileptic

Syndrome (1989) in epileptic children in a developing country Epilepsia,

33(6): 1072-1077

11 Stokes T, Shaw EJ, Juarez GA, Camosso SJ, Baker R (2004) The diagnosis and management of the epilepsies in adults and children in primary and secondary care, 1st edition, pp 12-75 National Collaborating Centre for Primary Care, London

12 Trần Thu Hương (1996) Nghiên cứu động kinh tự phát ở trẻ em dưới 15 tuổi Luận án phó tiến sĩ khoa học y dược Đại Học Y Khoa

Hà Nội, tr.1-41

13 Wallace JS, Farrell K (2004) Epilepsy in children, 2nd edition, pp.21-81, 123-148 Arnold, London

World Health Organization (2004) Epilepsy in the Western

Pacific Region, 1st edition, pp 3-10 Regional Office for the Western Pacific, Manila

Ngày đăng: 21/01/2020, 04:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w