Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát các đặc điểm về tiền căn, lâm sàng liên quan bệnh hen phế quản và hô hấp ký trước và sau điều trị ở những bệnh nhân hen phế quản là giáo viên tại phòng khám hô hấp, Bệnh viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM BỆNH HEN PHẾ QUẢN Ở GIÁO VIÊN
ĐIỀU TRỊ TẠI PHÒNG KHÁM HÔ HẤP BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM TỪ 1/6/2008 ĐẾN 31/12/2009
Phạm Thị Thanh Giang*, Trần Thiên Tài*, Lê Thị Tuyết Lan**
TÓM TẮT
Giới thiệu: Trong quá trình công nghiệp hóa, các yếu tố độc hại xuất hiện ngày càng nhiều trong môi
trường lao động Vì vậy, hen nghề nghiệp ngày càng gặp nhiều hơn Hen nghề nghiệp hiện chiếm khoảng 15% HPQ ở người lớn Hen nghề nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và lợi ích lâu dài về mặt kinh tế Theo số liệu thống kê ở Phòng khám và thăm dò chức năng hô hấp tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM, trong vài năm gần đây, có sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân có nghề nghiệp là giáo viên bị bệnh HPQ đến khám và điều trị
Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm về tiền căn, lâm sàng liên quan bệnh hen phế quản và hô hấp ký trước và
sau điều trị ở những bệnh nhân hen phế quản là giáo viên tại Phòng khám hô hấp, Bệnh viện Đại Học Y Dược
TP Hồ Chí Minh
Phương pháp: Hồi cứu – mô tả cắt ngang Chọn tất cả những bệnh nhân là giáo viên được chẩn đoán hen
phế quản và điều trị ngoại trú theo GINA trong khoảng thời gian từ 1/6/2008 đến 31/12/2009, có theo dõi tái khám sau 2-10 tuần và 12 ± 2 tuần
Kết quả: Khảo sát 64 bệnh nhân Trước nghiên cứu: tỉ lệ nữ/nam: 4/1, thời gian khởi bệnh sau làm nghề:
khoảng 13,5 năm; có tiền căn dị ứng: 65,6% (bao gồm viêm mũi dị ứng: 57,5%); tỷ lệ mới mắc sau làm nghề: 84,4%; các yếu tố kích phát thường gặp: lạnh (20,4%), đổi thời tiết (19,6%), gắng sức (8,9%) và bụi (6%) Trong nghiên cứu: có triệu chứng lâm sàng tương ứng hen bậc 4: 66,1%; hô hấp ký bình thường: 51,6%; có hội chứng hạn chế: 25% và tắc nghẽn: 15,6%; có đáp ứng với thuốc giãn phế quản: 56,3%; tỷ lệ bỏ điều trị: 51,6% Sau điều trị: triệu chứng lâm sàng điển hình hen phế quản và hô hấp ký cải thiện hơn 40%; triệu chứng mũi họng tăng 71% lên 77,4%
Kết luận: Bệnh nhân là giáo viên, chủ yếu đến từ các tỉnh thành ngoài Tp.HCM, hơn 50% có tiền căn dị
ứng, thời gian khởi bệnh khoảng 13,5 năm và tỷ lệ mới mắc khá cao 84,4%, các yếu tố kích phát cần chú ý là nói nhiều, dạy nhiều (18,8%) và bụi phấn (14%) Tỷ lệ bệnh nhân bỏ điều trị còn nhiều Triệu chứng lâm sàng và hô hấp ký cải thiện tốt và FEV1 khá nhạy trong chẩn đoán, theo dõi bệnh Riêng tỷ lệ triệu chứng mũi họng vẫn còn cao và không cải thiện
Từ khóa: HPQ: Hen phế quản HNN: Hen nghề nghiệp Giáo viên GINA: Chiến lược toàn cầu về hen
suyễn
ABSTRACT
CHARACTERISTICS OF ASTHMA IN TEACHERS AT THE RESPIRATOR CONSULTING-ROOM
OF UNIVERSITY MEDICAL CENTER AT HO CHI MINH CITY
FROM JUNE 1 st 2008 TO DECEMBER 31 th 2009
Pham Thi Thanh Giang, Tran Thien Tai, Le Thi Tuyet Lan
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 378 - 385
Introduction: In the process of industrialization, there are lots of toxic substances that present in the
* Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch,**:Bộ môn Sinh lý – Đại học Y Dược TPHCM
Trang 2working environment Therefore, the occupational asthma rate is on the rise The prevalence of occupational asthma is about 15% of adult asthma It has significant influence on public health and socioeconomy In recent years, the proportion of patients who came to Respiratory Consulting-Room at University Medical Centre to be examined and treated because of asthma teachers has been on the rise
Objective: Surveying the historic and clinical characteristics and spirometry of asthma patients who were
teachers before and after treatment at Respiratory Consulting Room of University Medical Center at Ho Chi Minh city
Method: Prospective-cross sectional study Selecting all the patients who were teachers came to be examined and treated asthma according to GINA’s guideline, had the 2nd examination after the 1st one 2-10 weeks and the 3rd examination after the 1st one 10-12 weeks from June 1st 2008 to December 31th 2009
Results: 64 patients has been recruited female/male ratio 3/1, median time to have asthma: 13.5 years, allergic history: 65.6% ( included allergic rhinitis: 57.5%), new-onset asthma: 84.4% The most common trigger factors: cold ( 20.4%) weather change (19.6%), exertion (8.9%) and dust (6%) During the study: grade 4 asthma: 66.1% Normal spirometry: 51.6%, restrictive syndrome: 25% and obstructive syndrome: 15.6%, positive response to bronchodilators: 56.3% No compliance with treatment: 51.6% The improvement of asthmatic symptoms and spiromettry after treatment: > 40% Nasal symptoms increased from 71% to 77.4%
Conclusions: The proportion of patients who came from provinces and other cities was higher than in Hochiminh city More than 50% of patients had allergic history Median time to have asthma was 13.5 years and the proportion of new-onset asthmatic patients was high The number of patient who did not comply with treatment was so high, asthmatic symptoms and spirometry improved significantly but nasal symptoms did not FEV1 was sensitive to diagnose and monitor asthma
Key words: Asthma Occupational asthma Teacher GINA: The Global Initiative for Asthma
GIỚI THIỆU
Hen phế quản (HPQ) là một gánh nặng
toàn cầu, tỉ lệ mới mắc HPQ ngày càng tăng ở
nước ta và trên thế giới Tổ Chức Y Tế Thế Giới
ước tính trên toàn thế giới có khoảng 300 triệu
người mắc hen vào năm 2005 và sẽ tăng lên 400
triệu vào năm 2025(6) HPQ cũng là nguyên nhân
nghỉ làm hàng đầu ở nhiều quốc gia, gồm Úc,
Thụy Điển, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và được
báo cáo như các hậu quả kinh tế và xã hội Có
nhiều nguyên nhân, yếu tố để thúc đẩy hình
thành bệnh HPQ ở người lớn Trong quá trình
công nghiệp hóa, các yếu tố độc hại xuất hiện
ngày càng nhiều trong môi trường lao động Vì
vậy, hen nghề nghiệp (HNN) ngày càng gặp
nhiều hơn Qua một số thống kê ở khoa hô hấp
Bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM trong một
vài năm gần đây, tỷ lệ giáo viên bị bệnh lý HPQ
đến khám và điều trị đang có chiều hướng gia tăng Bên cạnh đó, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về vấn đề không khí không đảm bảo trong trường học và lớp học, cũng như khuyến cáo các nhân viên trường học, trong đó có giáo viên, có nguy cơ mắc bệnh HPQ và các triệu chứng về đường hô hấp tăng cao(11) Do đó, chúng tôi mong muốn thực hiện một nghiên cứu
về đặc điểm bệnh HPQ trên giáo viên, làm cơ sở tìm hiểu về căn nguyên, biểu hiện bệnh và các mối liên quan trong quá trình hình thành và phát triển của bệnh với tương quan bệnh HNN
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát các đặc điểm về tiền căn, lâm sàng liên quan bệnh HPQ và hô hấp ký trước và sau điều trị ở những bệnh nhân HPQ là giáo viên tại Phòng khám hô hấp, Bệnh viện Đại Học Y Dược
TP Hồ Chí Minh
Trang 3PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Hồi cứu – mô tả cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu
64 bệnh nhân được chẩn đoán HPQ và được
điều trị ngoại trú theo GINA tại Phòng khám Hô
hấp Bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí
Minh trong khoảng thời gian từ 1/6/2008 đến
31/12/2009
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Làm giáo viên ≥ 1 năm
Nam > 65 tuổi, nữ > 60 tuổi
Được chẩn đoán xác định HPQ tại thời điểm
ban đầu
Tiêu chuẩn loại trừ
Có 1 trong các tiêu chuẩn sau:
- Được giảm bậc HPQ sau < 12 ± 2 tuần điều
trị tại Bệnh viện ĐH Y Dược TPHCM trong thời
gian nghiên cứu
- Bệnh nhân không được đo hô hấp ký tại
thời điểm giảm bậc
- Không được thực hiện phương pháp đo hô
hấp ký có thử thuốc
- Hồ sơ bị thiếu thông tin
Phương pháp thực hiện
Các Bác sĩ của Phòng khám Hô Hấp, Bệnh
viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh sẽ ghi lại
tên và số hồ sơ của tất cả những bệnh nhân
đúng tiêu chuẩn chọn mẫu vào một bảng danh
sách Bác sĩ nghiên cứu sẽ tìm lại hồ sơ của
những bệnh nhân này đã được lưu tại Phòng
khám Hô Hấp với thông tin của 3 lần khám: lần
khám 1, lần khám 2 (sau 2 – 10 tuần) và lần
khám 3 (sau 12 ± 2 tuần) Các biến số cần phải
thu thập gồm có: tuổi, giới, nơi cư trú, hút thuốc
lá, thời gian mắc bệnh HPQ, yếu tố dị ứng,
thuốc đã sử dụng, triệu chứng lâm sàng, kết quả
hô hấp ký, bậc nặng và dạng HPQ, tuân thủ
điều trị, mức độ kiểm soát HPQ
Định nghĩa các biến số nghiên cứu
Bậc nặng HPQ được phân loại theo Bảng 1
Bảng 1 Phân loại bậc nặng của HPQ (6)
Bậc 1: Gián đoạn Triệu chứng ít hơn 1 lần 1 tuần
Cơn kịch phát ngắn Triệu chứng về đêm ≤ 2 lần trở xuống
trong 1 tháng FEV1 hay PEF ≥ 80% dự đoán Dao động PEF hay FEV1 < 20%
Bậc 2: Dai dẳng
nhẹ
Triệu chứng > 1 lần/tuần nhưng < 1
lần/ngày Cơn kịch phát có thể ảnh hưởng hoạt
động, giấc ngủ Triệu chứng về đêm > 2 lần/tháng FEV1 hay PEF ≥ 80% dự đoán Dao động PEF hay FEV1 < 20% – 30%
Bậc 3: Dai dẳng
trung bình
Triệu chứng mỗi ngày Cơn kịch phát có thể ảnh hưởng hoạt
động, giấc ngủ Triệu chứng về đêm > 1 lần/tuần FEV1 hay PEF 60% - 80% dự đoán Dao dộng PEF hay FEV1 > 30%
Bậc 4: Dai dẳng
nặng
Triệu chứng mỗi ngày Cơn kịch phát thường xuyên Triệu chứng về đêm thường xuyên FEV1 hay PEF ≤ 60% dự đoán Dao dộng PEF hay FEV1 > 30% (Chỉ cần bệnh nhân có 1 trong các biểu hiện nêu trên là đủ
để xếp vào độ nặng tương ứng và chọn bậc cao nhất.)
Bảng 2 Phân loại mức độ kiểm soát HPQ (6)
Đặc tính Kiểm soát (tất
cả đặc tính dưới đây)
Kiểm soát một phần (bất kỳ triệu chứng nào trong bất
kỳ tuần nào)
Không kiểm soát
Triệu chứng ban ngày
Không (≤
2/tuần)
Hơn 2 lần/tuần
Giới hạn hoạt động
Triệu chứng/thức giấc về đêm
Không Bất kỳ
Nhu cầu dùng thuốc cắt cơn
Không (≤ 2/tuần)
>2/tuần
Chức năng phổi (PEF hay FEV1)
Bình thường < 80% dự
đoán hay giá trị tốt nhất (nếu biết trước)
3 hay hơn các đặc tính của phần HPQ kiểm soát một phần trong bất
kỳ tuần nào
Đợt kịch phát HPQ Không Một hay hơn/năm 1 lần trong bất kỳ tuần nào
Trang 4Hô hấp ký(7)
Hội chứng tắc nghẽn: (F)VC ≥ 80% và
FEV1/(F)VC < 70%
Hội chứng hạn chế: (F)VC < 80% và
FEV1/(F)VC ≥ 70%
Hội chứng hỗn hợp: (F)VC < 80% và
FEV1/(F)VC < 70%
Hô hấp ký chứng tỏ có đáp ứng với thuốc
giãn phế quản sau 15 phút phun 400μg
Salbutamol khi thỏa ít nhất 1 trong các tiêu
chuẩn sau:
(F)VC tăng ≥ 200 ml và tăng ≥ 12%
FEV1 tăng ≥ 200 ml và tăng ≥ 12%
PEF tăng ≥ 15%
Xử lý số liệu
Các dữ liệu được mô tả dưới dạng trung
bình, độ lệch chuẩn, tần suất và tỷ lệ Biến số
định tính được biểu diễn bằng tần suất và phần
trăm Biến số định lượng được biểu diễn bằng
trung bình và độ lệch chuẩn nếu có phân phối
chuẩn, bằng trung vị và khoảng tứ vị nếu không
có phân phối chuẩn
Phép kiểm Chi Square được dùng để so sánh
các tỷ lệ hoặc tìm mối liên hệ của các biến định
tính Phép kiểm T để so sánh hai trung bình nếu
biến lượng có phân phối chuẩn
Với P < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ
Có 64 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu,
trong đó có 52 nữ (81,2%) và 12 nam (18,8%)
Tuổi trung bình là 39,7 ± 10,7, tuổi nhỏ nhất là 22
và lớn nhất là 63
Bảng 3 Nơi cư trú
Cư trú
Thời gian khởi bệnh với trung vị là 162
tháng (13,5 năm), khoảng tứ vị là 84 - 258 tháng
(7 - 21,5 năm)
46 người không hút thuốc lá (79,1%), 13
người hút thụ động (20,3%) và 5 người đã hoặc
đang hút thuốc lá (7,8%)
Bảng 4 Đặc điểm tiền căn của đối tượng nghiên cứu
Bệnh đi kèm
Trào ngược dạ dày thực quản 2 2,5
Tiền căn điều
Tiền căn dùng thuốc điều trị HPQ
(SABA: short-acting bronchilator agonist; LABA: long-acting bronchilator agonist; ICS: inhaled Corticosteroids)
Bảng 5 Phân bố tỷ lệ các yếu tố kích phát (YTKP)
cơn HPQ
Lạnh Đổi thời tiết Cúm, viêm hô hấp Gắng sức Khói thuốc lá Bụi Mùi lạ Cảm xúc Hóa chất Thức ăn, thức uống Yếu tố nội tiết Thuốc Không có Thú có lông Rượu bia Yếu tố khác
48
46
32
21
18
14
12
11
10
8
5
3
3
2
1
1
20,4 19,6 13,6 8,9 7,6 6,0 5,1 4,7 4,2 3,4 2,2 1,3 1,3 0,9 0,4 0,4
Bảng 6 Đặc điểm lâm sàng tại thời điểm bắt đầu
điều trị
Bậc nặng theo GINA
Dạng HPQ
Hen ở phụ nữ có thai 1 1,6
Hô hấp ký tại thời điểm bắt đầu điều trị HPQ theo GINA có kết quả như sau (trung bình
± độ lệch chuẩn): (F)VC: 85,9%±15,6%; FEV1:
Trang 580,5%±19,7%; FEV1/(F)VC: 92,8%±14,6%; PEF:
81,3%±23,3%
Bảng 7 Đặc điểm hô hấp ký tại thời điểm bắt đầu
điều trị
Kết quả Hô hấp
ký
Không hạn chế và tắc nghẽn 33 51,6
Có đáp ứng với thuốc giãn phế quản 36 56,3
Chỉ số HHK
đáp ứng
Đặc điểm điều trị HPQ
Chúng tôi chỉ khảo sát trên 31 bệnh nhân
có đầy đủ hồ sơ và có đến tái khám đủ 3 lần
(48,4%)
Bảng 8 Đặc điểm điều trị HPQ
Triệu chứng
lâm sàng Ho Khò khè Khạc đàm Khó thở Triệu chứng mũi họng
Nhu cầu dùng thuốc
cắt cơn
≤ 2 lần/tuần > 2 lần/tuần
Tỷ lệ hen bậc 4 sau 12 ± 2 tuần điều trị
giảm đáng kể từ 71% xuống còn 19,3%, do đó
kéo theo sự gia tăng tỷ lệ tập trung ở hen bậc 3
(tăng 38,6%) và có sự gia tăng tỷ lệ của hen bậc
2 (tăng 13%)
BN đạt kiểm soát hoàn toàn chiếm tỷ lệ cao
nhất và tăng từ 51,6% lên 61,3% Số BN không
đạt kiểm soát HPQ chiếm tỷ lệ thấp nhất và
giảm từ 9,7% còn 6,4%
Thời gian điều trị để đạt kiểm soát HPQ
hoàn toàn là 23 (14 - 40) ngày (trung vị
(khoảng tứ vị))
Xét 22 bệnh nhân trong số 64 bệnh nhân
được đo hô hấp ký đầy đủ qua cả 3 lần khám
Các chỉ số hô hấp ký đều cải thiện và tăng
đáng kể Trong đó, hai chỉ số VC và FEV1 có
sự cải thiện có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 và
FEV1 cải thiện nhiều nhất từ 78,3% ± 20,1% lên 85% ± 16,8%
Thời gian điều trị để kết quả hô hấp ký về bình thường là 30 (18 - 61) ngày (trung vị (khoảng tứvị))
Bệnh nhân biết cách sử dụng thuốc đúng cách đúng liều chiếm tỷ lệ cao nhất trên 80% Tác dụng phụ của thuốc điều trị HPQ gặp nhiều nhất là khàn giọng chiếm gần 16% nhưng giảm ở lần khám 3 còn 6,5%
BÀN LUẬN
Vì đối tượng nghiên cứu là giáo viên nên
sự phân bố tuổi nằm trong độ tuổi lao động,
do đó việc phát hiện, chẩn đoán đúng và điều trị HPQ tích cực và có hiệu quả đối với những bệnh nhân này sẽ có ý nghĩa rất lớn giúp giảm gánh nặng và tổn thất cho bản thân, gia đình
và xã hội
Tỷ lệ giới nữ: nam là 4: 1, phù hợp với một nghiên cứu(11) là tỷ lệ nữ giới trong nhóm nhân viên trường học chiếm 91%
Theo Bảng 4, số bệnh nhân có tiền căn dị
ứng chiếm tỷ lệ là 65,6%, tương tự như trong nghiên cứu của Trần Văn Đông và Nguyễn Thị Vân(14), tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử mắc ít nhất một bệnh dị ứng khác nhau là 65,7% Cơ địa dị ứng là yếu tố khiến một cá nhân dễ mắc bệnh HPQ nói chung và là yếu tố nguy cơ lớn nhất
có thể gây ra HNN nói riêng(6) Riêng với HNN, cơ địa dị ứng là yếu tố hàng đầu gây xuất hiện bệnh đặc biệt khi tác nhân kích thích
là chất có trọng lượng phân tử cao(1,12) Số bệnh nhân thường xuyên bị viêm mũi dị ứng (VMDU) chiếm tỷ lệ cao nhất là 57,5% (37 người), các tình trạng dị ứng khác bao gồm mày đay, chàm Theo y văn, đại đa số bệnh nhân HPQ có tiền căn viêm mũi và có tới 30% bệnh nhân viêm mũi dai dẳng đã có hay sẽ mắc HPQ, viêm mũi thường xuất hiện trước HPQ và cũng là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện
và tăng nặng thêm bệnh HPQ(6)
Về tiền căn HPQ bản thân, có 84,4% bệnh nhân mới mắc HPQ sau khi làm nghề giáo viên
Trang 6và 15,6% bệnh nhân đã bị HPQ từ nhỏ nhưng
sau làm nghề thì bệnh nặng lên và khó kiểm
soát Qua đó, cần xem xét kỹ hơn mối liên quan
giữa bệnh HPQ và yếu tố nghề nghiệp của bệnh
nhân Ngoài ra, người khởi phát bệnh sớm nhất
là 1 năm, người trễ nhất là 32 năm, phù hợp vì
HNN thường xuất hiện sau một thời gian dài từ
nhiều tháng đến nhiều năm sau khi làm công
việc có tiếp xúc với các tác nhân kích thích(9)
Có 31,3% bệnh nhân có tiền căn HPQ gia
đình HPQ nói chung và HNN nói riêng đã
được xác định có thể có yếu tố di truyền gia
đình, và tiền căn HPQ gia đình hay còn gọi là sự
định trước gen là một trong các yếu tố nội sinh
của HPQ và chính những đối tượng này có yếu
tố nguy cơ bị HPQ cao hơn, khi cùng làm việc
trong một môi trường lao động
Có 10,9% bệnh nhân phải nhập viện và 9,4%
phải cấp cứu vì HPQ Theo nghiên cứu của
Breton(Error! Reference source not found.), nhóm bệnh nhân
HNN có khả năng cần phải đi khám bác sĩ và
nhập viện vì tình trạng nặng lên của bệnh HPQ
cao hơn nhóm bệnh nhân không bị HNN Sự
khác biệt này có thể do bản chất hoặc cỡ mẫu
trong nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn
Theo Bảng 5, YTKP thường gặp nhất là lạnh
(20,4%) và đổi thời tiết (19,6%) Có lẽ không khí
lạnh ẩm càng dễ gây kích thích đường dẫn khí
đang bị tăng đáp ứng do đa số các giáo viên ở
các trường học ở nước ta phải giảng dạy trung
bình 6 tiếng một ngày, chính điều này đã làm
ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động chức năng
hô hấp của cơ thể bằng việc gây ra những biến
đổi của lớp niêm mạc đường dẫn khí và làm
tăng khả năng bị nhiễm khuẩn đường hô hấp
cho bệnh nhân là giáo viên Điều này lý giải tỷ lệ
YTKP gây HPQ đứng thứ hai là cúm, viêm hô
hấp chiếm 13,6% Trong các hoạt động gắng sức
có 12 bệnh nhân ghi nhận nói nhiều, nói liên tục
và dạy học nhiều giờ Kết quả trên phù hợp với
nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân, thay đổi thời
tiết và gắng sức là hai yếu tố chính làm nặng
thêm cơn HPQ(10) Trong nghiên cứu khảo sát
một số chỉ số sinh học của toàn bộ giáo viên trường đại học Sư phạm Thái Nguyên (400 giáo viên), Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên đã công bố: gần 80% giáo viên mắc bệnh về họng, phổi, thanh quản như hiện tượng khàn giọng, đau họng, viêm họng, viêm phổi Đây là một tỷ
lệ rất cao và có chiều hướng tăng dần theo thời gian công tác Hiện tượng giáo viên bị rối loạn giọng với tần suất cao là do lớp học đông, tiếng
ồn nhiều, giáo viên phải nói to, nói nhiều, có khi phải thuyết giảng suốt 5 - 8 giờ/ngày Khuyến cáo giáo viên không nên giảng dạy quá nhiều giờ vì nguyên nhân gây rối loạn giọng có thể dẫn đến các bệnh đường hô hấp
Nghiên cứu của Dangman tại Connecticut(4) trên đối tượng là giáo viên, tình trạng ẩm ướt và nấm mốc hiện hữu trong trường học được báo cáo như là nguyên nhân chính của sự xuất hiện thường xuyên các triệu chứng lâm sàng của bệnh HPQ trên đối tượng này và được xem là yếu tố mẫn cảm nghề nghiệp Chúng tôi khảo sát được có 9 bệnh nhân (14%) ghi nhận bụi phấn là YTKP bụi có thể nhìn thấy, bên cạnh đó còn các loại bụi khác là những hạt vật chất có kích thước rất nhỏ, nên giáo viên không thể nhận thức được, điều này dẫn đến sự bỏ sót trong thống kê tỷ lệ YTKP là bụi Trong nghiên cứu Jacek và cộng sự(5), tỷ lệ các yếu tố liên quan đến bệnh HPQ ở giáo viên và trợ giảng lần lượt là: ô nhiễm không khí trong lớp học gồm có chất lượng không khí kém, không thông thoáng và không khí ô nhiễm do xây dựng cải tạo, chiếm
tỷ lệ cao nhất 36,1%; đứng thứ ba là bụi chiếm 18,1% gồm có bụi vô cơ, bụi phấn, bụi sợi vải và vôi Trong đó, bụi phấn là yếu tố gây HPQ cho toàn bộ nhân viên trường học là 1,5% Theo một nghiên cứu(13) mới đây vào tháng 1/2010 về
“Chất lượng không khí ở các lớp học” tiến hành trên 21 trường học với 41 lớp học có 547 học sinh, kết quả cho thấy rằng có sự gia tăng mức
độ các hạt vật chất có đường kính 10μm và mức
độ CO2 trong các lớp học luôn cao hơn bên ngoài, vượt mức cho phép Hậu quả là gây ảnh hưởng đến vấn đề hô hấp của các học sinh như
Trang 732% có biểu hiện ho khan về đêm, 32% bị viêm
mũi và 13% bị khò khè
Theo Bảng 6 và 7, 66,1% bệnh nhân có triệu
chứng lâm sàng tương ứng hen bậc 4 theo tiêu
chuẩn GINA và 95,7% là hen dạng điển hình
Trong khi đó, 51,6% bệnh nhân có hô hấp hý
bình thường và tỷ lệ BN có đáp ứng với thuốc
GPQ là 56,3% Như vậy phần lớn những bệnh
nhân HPQ tại thời điểm bắt đầu điều trị trong
nghiên cứu này là dựa trên tiêu chuẩn triệu
chứng lâm sàng Điều này cũng chính là hạn chế
trong nghiên cứu của chúng tôi vì để xác định
HPQ ở giáo viên có phải là một bệnh HNN hay
không thì đáng quí nhất là thực hiện Thăm dò
chức năng hô hấp tại nơi làm việc trong nhiều
thời điểm khác nhau trong ngày và trong một
thời gian tương đối dài, từ 3-4 tuần Ngoài ra,
FEV1 là chỉ số có giá trị để chẩn đoán và theo
dõi vì đáp ứng thuốc nhiều nhất (42,9%) và cải
thiện tốt nhất sau điều trị
Trong nghiên cứu, chúng tôi chỉ khảo sát 2
lần tái khám của bệnh nhân, theo khuyến cáo
của GINA 2007, nói chung sự cải thiện của HPQ
phải đạt được trong vòng 1 tháng Tỷ lệ bệnh
nhân bỏ điều trị là 51,6%, cần phải tăng cường
giáo dục về nhận thức theo dõi và phòng ngừa
bệnh HPQ trên đối tượng này
Đối với 48,4% bệnh nhân tuân thủ tốt điều
trị tái khám đủ 2 lần, theo Bảng 8, các triệu
chứng lâm sàng điển hình HPQ và mức độ
kiểm soát bệnh cải thiện tốt Thời gian để triệu
chứng lâm sàng đạt tiêu chuẩn kiểm soát hoàn
toàn là 23 ngày Thời gian để hô hấp ký về
bình thường là 30 ngày, trong nghiên cứu của
Bùi Thị Hạnh Duyên và Nguyễn Văn Thọ(Error!
Reference source not found.) thì thời gian này là 14 ngày
Như vậy, những bệnh nhân tuân thủ tốt chế
độ điều trị sẽ cải thiện được cả triệu chứng lâm
sàng và hô hấp ký sau 1 tháng điều trị, kết quả
này phù hợp với khuyến cáo GINA 2007
Tuy nhiên, sau quá trình điều trị thì tỷ lệ
triệu chứng mũi họng mà theo chúng tôi liên
quan mật thiết đến việc hình thành và phát triển
bệnh HPQ đã không giảm so với lúc đầu và tăng
từ 71% lên 77,4%; tỷ lệ bệnh nhân giảm bậc chỉ đạt 70%, nghĩa là còn khoảng 30% số bệnh nhân chưa đạt được mục tiêu điều trị ban đầu; vẫn còn một tỷ lệ các bệnh nhân khoảng 20% còn các triệu chứng khò khè, khó thở và một tỷ lệ nhiều hơn các bệnh nhân còn ho, khạc đàm Điều này
là do bệnh nhân vẫn phải tiếp xúc thường xuyên với các YTKP trong môi trường trường học như việc phải giảng dạy liên tục và sự ô nhiễm không khí trong và ngoài lớp học, phù hợp theo
y văn là việc tránh tiếp xúc với các YTKP tại nơi làm việc là khâu quan trọng nhất trong điều trị hiệu quả HNN(6)
Tóm lại, nghiên cứu của chúng tôi đã giúp tìm hiểu và đánh giá một cách khái quát về bệnh HPQ liên quan đến nghề nghiệp là giáo viên Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa chứng minh rõ ràng được những yếu tố nguy cơ nào thực sự gây ra bệnh HPQ ở giáo viên tại Việt Nam và bệnh HPQ ở giáo viên có phải là một dạng HNN hay không Vì vậy, chúng tôi mong muốn sẽ thực hiện nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu có theo dõi, nhằm khảo sát sâu hơn, với cỡ mẫu lớn hơn,
cụ thể như nghiên cứu “Xác định tỷ lệ HNN ở giáo viên bằng triệu chứng ngày thứ hai”, có sử dụng bộ xét nghiệm về dị ứng đầy đủ và theo dõi HHK liên tục
KẾT LUẬN
Bệnh nhân nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới và thường có tiền căn dị ứng trước đó Đa
số bệnh nhân không bị bệnh trước khi làm nghề giáo viên Thời gian khởi bệnh từ khi bắt đầu làm nghề giáo viên là 162 tháng (#13,5 năm) Các yếu tố kích phát cơn HPQ thường gặp nhất là lạnh, đổi thời tiết, gắng sức, bụi Trước điều trị, bệnh nhân hen bậc 4 chiếm tỷ lệ cao nhất Sau điều trị, tỷ lệ này giảm đáng kể, cũng như tình trạng kiểm soát HPQ hoàn toàn chiếm tỷ lệ khá cao, riêng triệu chứng mũi họng lại gia tăng Thời gian trung bình để HHK về bình thường là
30 ngày FEV1 là chỉ số khá nhạy trong chẩn đoán và theo dõi bệnh
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Allen J., Cooper D., Jr (2008), “Occupational Asthma,
Byssinosis, and Industrial Bronchitis”, Fishman’s Pulmonary
Diseases and Disorders, pp.982-90
2 Breton CV, Zang Z, Hunk PR, Pechter E, Davis L (2006), “
Characteristics of work-related asthma: Results from a
population-based survey”, Occupational Environmental
Medicine, 63(6), 411-5
3 Bùi Thị Hạnh Duyên, Nguyễn Văn Thọ, Lê Thị Tuyết Lan
(2009), “Đặc Điểm Lâm Sàng Bệnh Nhân Hen Được Kiểm
Soát Hoàn Toàn từ Bậc 4 về Bậc 1 tại phòng Khám Hô Hấp
bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM”, Tạp Chí Y Học
TP.HCM, 13
4 Dangman KH, Bracker AL, Stoyey E (2005), “Work-related
asthma in teachers in Connecticut: association with chronic
water damage and fungal growth in schools”, Continues the
Connecticut State medical journal, 69(Error! Reference source
not found.), pp.9-17
5 Jacek M, Mazurek, et al (2008), “Work-related Asthma in the
Educational Services Industry: California, Massachusetts,
Michigan, and New Jersey, 1993-2000”, American Journal of
Industry Medicine, 51, pp 47-59
6 Lê Khắc Bảo, Lê Thị Tuyết Lan (2007), “Chiến Lược Toàn Cầu
Quản Lý và Phòng Ngừa Hen: GINA 2007”, Nhà Xuất Bản Y
Học
7 Lê Thị Tuyết Lan (2005), Hô hấp ký, Nhà xuất bản Y học TP
Hồ Chí Minh
8 Lương Thị Thuận, Lê Thị Tuyết Lan (2004), “Tình hình bệnh nhân hen đến khám và điều trị theo GINA tại bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM từ 6/2001 đến 12/2003”, Luận văn thạc sĩ
9 Mason RJ., Murray JF, Broaddus VC, Nadel JA (2010),
“Environmental Occupational Disorders”, Murray and Nadel’s Textbook of Respiratory Medicine, 5th edition
10 Nguyễn Thị Vân (2004), “Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ, đặc điểm tiền sử dị ứng và hiệu quả điều trị trên bệnh nhân hen phế quản điều trị tại Khoa Dị ứng miễn dịch lâm sàng năm 2003”, Y
Học Việt Nam, số 10, tập 303, 7-12
11 Patrick DL, Murray GTP, Governor L (2007), “Assessing Work-related Respiratory Problem among Massachusetts Elemantary School Staff: Result of a pilot survey”, Massachusetts Department of Public Health, Occupational Health Surveillence Program
12 Phạm Long Trung (1999), Hen nghề nghiệp, Bệnh học lao – phổi, Bộ môn lao – phổi trường Đại học Y Dược TPHCM, tập III, 288-94
13 Simoni M., Anessi-Maeseno I., Sigsgard T et al (2010),
“School Air Quality Related to Dry Cough, Rhinitis and nasal patency in children”, Eur Respir J, 35, pp.742-49
14 Trần Văn Đông, Nguyễn Thị Vân (2004), “Test dãn phế quản trên bệnh nhân hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị tại khoa DU-MDLS BV Bạch Mai 2003- 5/2004”, Nghiên Cứu Y Học, số 4, tập 30, 21-28