1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố dự đoán tổn thương trên nội soi có nguy cơ cao trong xuất huyết tiêu hóa trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa

5 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 449,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về xuất huyết tiêu hoá trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa, xác định khả năng tiên đoán tổn thương có nguy cơ cao trên nội soi của thang điểm Rockall lâm sàng, Blatchford và bảng kiểm Blatchford tinh giản.  

Trang 1

TRONG XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA TRÊN   KHÔNG DO TĂNG ÁP TĨNH MẠCH CỬA 

Huỳnh Nguyễn Đăng Trọng*, Quách Trọng Đức* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Can thiệp nội soi (CTNS) giúp giảm nguy cơ chảy máu tái phát và phẫu thuật ở bệnh nhân 

xuất huyết tiêu hoá trên không do tăng áp tĩnh mạch cửa (XHTHTKTAC). Tuy nhiên, khả năng CTNS hiện tại  vẫn còn tập trung ở một số bệnh viện lớn. Nhận diện các đối tượng cần CTNS để phân tầng bệnh nhân giúp  chuyển viện điều trị hợp lý, an toàn cho bệnh nhân nhưng tránh được quá tải ở tuyến lớn.  

Mục tiêu: Xác định khả năng tiên đoán tổn thương có nguy cơ cao trên nội soi (đồng nghĩa với cần được 

CTNS) của thang điểm Rockall lâm sàng, Blatchford và bảng kiểm Blatchford tinh giản.  

Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên bệnh nhân XHTHTKTAC tại bệnh viện Nhân Dân Gia 

Định từ 01/2011 đến 12/2012.  

Kết quả: 33,7% (118/350) bệnh nhân trong nghiên cứu có tổn thương nội soi nguy cơ cao cần CTNS. 

Diện  tích  dưới  đường  cong  ROC  của  thang  điểm  Rockall  lâm  sàng  là  0,52,  thấp  hơn  so  với  thang  điểm  Blatchford là 0,66. Giá trị tiên đoán dương (GTTĐ(+)) và âm (GTTĐ(‐)) của thang điểm Blatchford trong  chẩn đoán khả năng CTNS ở điểm cắt bằng 8 lần lượt là 42,3% và 82,1%; của bảng kiểm Blatchford tinh  giản lần lượt là 36,1% và 87%.  

Kết luận: Thang điểm Blachford dự đoán tổn thương nội soi nguy cơ cao cần CTNS tốt hơn so với thang 

điểm Rockall lâm sàng. Bảng kiểm Blatchford tinh giản giúp sàng lọc nhanh bệnh nhân cần CTNS.  

Từ khoá: Xuất huyết tiêu hóa, thang điểm Rockall lâm sàng, thang điểm Blatchford, bảng kiểm Blatchford 

tinh giản. 

ABSTRACT 

PREDICTING FACTORS FOR HIGH‐RISK ENDOSCOPIC LESIONS  

IN ACUTE UPPER NON‐VARICEAL GASTROINTESTINAL BLEEDING 

Huynh Nguyen Dang Trong, Quach Trong Duc  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 584 ‐ 588 

Background: Endoscopic treatments for high‐risk lesions have been proved to reduce the rates of rebleeding 

and surgery in patients with upper non‐variceal gastrointestinal bleeding (UNGIB). However, these treatments 

up to now are only available in tertiary hospitals in Vietnam which are usually overloaded. Identifying predicting  factors  of  high‐risk  endoscopic  lesions,  therefore,  would  help  to  properly  stratify  and  transfer  patients  with  UNGIB to tertiary hospitals. 

Aim:  To  evaluate  the  performance  of  the  Blatchford,  pre‐endoscopic  Rockall  scores  and  the  simplified 

Blatchford procedure in predicting in predicting high‐risk endoscopic lesions in patients with UNGIB. 

Method:  This  is  a  retrospective  cohort  study  investigating  patients  with  UNGIB  who  were  admitted  to 

Nhan‐Dan‐Gia‐Dinh hospital from 01/2011 to 12/2012.  

Results:  Of  the  350  patients,  118  (33.7%)  had  high‐risk  endoscopic  lesions  which  required  endoscopic 

* Bộ môn Nội, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh  

Tác giả liên lạc: TS. Quách Trọng Đức    ĐT: 0918080225.     Email: vuqbao@gmail.com 

Trang 2

treatments.  Area  under  the  curve  (AUC)  of  the  receiver‐operating  characteristic  curve  of  the  pre‐endoscopic  Rockall  score  and  the  Blatchford  were  0.52  and  0.66,  respectively.  The  positive  predictive  value  (PPV)  and  negative  predictive  value  (NPV)  of  the  Blatchford  score  at  the  cut‐off  point  of  8  were  42.3%  and  82.1%,  respectively. The PPV and NPV of the simplified Blatchford procedure were 36.1% and 87%, respectively. 

Conclusion: The Blatchford score predict high‐risk endoscopic lesions better than the pre‐endoscopic Rockall 

score. The simplified Blatchford procedure is a fast risk‐screening tool for these lesions.  

Key words: Gastrointestinal bleeding, pre‐endoscopic Rockall score, Blatchford score, simplified Blatchford 

procedure. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

  Xuất  huyết  tiêu  hóa  trên  không  do  tăng 

áp  tĩnh  mạch  cửa  (XHTHTKTAC)  là  một  cấp 

cứu  thường  gặp  và  nguy  hiểm.  Điều  trị  can 

thiệp cầm máu qua nội soi (CTNS) là một bước 

tiến quan trọng trong xử trí XHTHTKTAC, giúp 

làm giảm đáng kể nguy cơ chảy máu tái phát và 

phẫu  thuật(5).  Ở  nước  ta,  do  CTNS  hầu  hết  vẫn 

còn tập trung ở một số bệnh viện lớn, việc nhận 

diện  các  trường  hợp  XHTHTKTAC  có  tổn 

thương nguy cơ cao trên nội soi (đồng nghĩa với 

việc  cần  CTNS)  có  ý  nghĩa  thực  tiễn  rất  lớn  vì 

giúp  việc  phân  tuyến  điều  trị  tốt  hơn,  tránh 

chuyển viện các trường hợp không cần thiết gây 

quá  tải  ở  tuyến  trên  trong  khi  còn  hiện  tượng 

trống  giường  điều  trị  ở  tuyến  dưới.  Một  số 

nghiên  cứu  trong  nước  trước  đây  đã  đánh  giá 

vai trò của thang điểm Rockall và Blatchford về 

khả  năng  cần  can  thiệp  y  khoa  (CTNS,  truyền 

máu hoặc phẫu thuật)(2,6), tuy nhiên còn ít nghiên 

đề cập cụ thể về khả năng tiên đoán cần CTNS. 

Ngoài  ra,  các  nghiên  cứu  trước  đây  không  loại 

trừ các đối tượng bệnh nhân đã được điều trị bồi 

hoàn thể tích ở tuyến trước, cũng như các bệnh 

nhân  có  tiền  sử  xuất  huyết  tiêu  hóa.  Do  mạch, 

huyết  áp  và  hemoglobin  của  bệnh  nhân  là  các 

thành  tố  quan  trọng  của  các  thang  điểm  nêu 

trên,  việc  không  loại  trừ  các  bệnh  nhân  này  ra 

nghiên cứu tiềm ẩn nguy cơ làm ảnh hưởng đến 

giá trị thực sự của các thang điểm này   

Bảng kiểm Blatchford tinh giản là một công 

cụ phát triển từ thang điểm Blatchford; theo đó 

bệnh  nhân  được  xem  là  có  nguy  cơ  thấp  nếu 

đồng thời có cả 4 đặc điểm: mạch<100 lần/phút, 

huyết  áp  tâm  thu  >110  mmHg,  urê  máu  <  6,5 

mmol/L  và  Hemoglobin  >  12g%  (nữ)  hoặc  > 

13g%  (nam)(1).  Hiện  cũng  chưa  có  công  trình  trong  nước  nào  đánh  giá  giá  trị  của  bảng  kiểm  tuy  đơn  giản  nhưng  được  đề  xướng  có  giá  trị  sàng lọc bệnh nhân có nguy cơ cao này. Nghiên  cứu  này  được  tiến  hành  nhằm  xác  định  giá  trị  tiên  đoán  tổn  thương  nội  soi  có  nguy  cơ  cao  (đồng  nghĩa  với  có  chỉ  định  cần  CTNS)  của  thang  điểm  Rockall  lâm  sàng,  thang  điểm  Blatchford và bảng kiểm Blatchford tinh giản. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng 

Bệnh  nhân  XHTHTKTAC  được  chẩn  đoán  tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ 01/2011 đến 

12/2012 thoả các tiêu chuẩn sau: 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  XHTHTKTAC 

và được nội soi tiêu hóa trên ≤ 24 giờ sau nhập  viện. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân đã được hồi sức bằng dịch truyền 

và / hoặc máu ở tuyến trước. 

Bệnh nhân có tiền sử XHTH. 

Thiết kế nghiên cứu 

Đoàn hệ hồi cứu. 

Với  = 90% là độ nhạy ước tính của bảng  kiểm Blatchford tinh giản, w=5% là mức độ dao  động của độ nhạy,   40% là tỉ lệ bệnh nhân  XHTHT cần CTNS. 

Phân tích thống kê 

Số liệu được quản lý bằng phần mềm  SPSS 

18 (SPSS Inc, Chicago, Il). Các mối liên hệ được 

Trang 3

kiểm  định  bằng  phép  kiểm  χ²  với  p<0,05  được 

xem là có ý nghĩa thống kê. 

KẾT QUẢ 

Từ 01/2011 đến 12/2012, chúng tôi ghi nhận 

350 trường hợp XHTHTKTAC thoả tiêu chuẩn 

chọn bệnh với tuổi trung bình là 50,8 ± 19,6 và 

tỉ  lệ  nam/nữ  là  2,4/1.  Có  119  (56,9%)  trường 

hợp cần can thiệp y khoa, trong đó 33,7% cần 

CTNS,  39,1%  cần  truyền  máu  và  2,6%  cần 

phẫu  thuật.  Phân  bố  về  tỉ  lệ  các  nguyên  nhân 

gây  xuất  huyết  và  đặc  điểm  phân  bố  loét  dạ 

dày  –  tá  tràng  theo  phân  loại  Forrest  được 

trình bày ở biểu đồ 1 và 2.  

 

Biểu đồ 1: Phân bố nguyên nhân gây XHTHTKTAC 

 

Biểu đồ 2: Phân bố loét dạ dày ‐ tá tràng xuất huyết 

theo phân loại Forrest 

Phân  bố  tỉ  lệ  cần  CTNS  theo  tổng  điểm 

Rockall  lâm  sàng  và  thang  điểm  Blatchford 

được trình bảy ở biểu đồ 3 và 4. Diện tích dưới 

đường  cong  của  các  thang  điểm  Rockall  lâm 

sàng và Blatchford trong chẩn đoán các trường 

hợp cần CTNS lần lượt là 0,52 (KTC 95%: 0,46‐

0,59)  và  0,66  (KTC  95%:  0,60‐0,71).  Dưạ  vào 

đường cong ROC và chỉ số Youden, chúng tôi  chọn  điểm  cắt  của  thang  điểm  Blatchford  để  xác  định  khả  năng  cần  CTNS  là  8.  Giá  trị  của  thang điểm Blatchford ở điểm cắt là 8 và bảng  kiểm  Blatchford  tinh  giản  được  trình  bảy  ở  bảng 1 và 2.  

 

Biểu đồ 3: Phân bố tỉ lệ bệnh nhân cần CTNS theo 

tổng điểm Rockall lâm sàng 

 

Biểu đồ 4: Phân bố tỉ lệ bệnh nhân cần CTNS theo 

tổng điểm Blatchford 

Bảng 1: Giá trị của thang điểm Blatchford trong tiên 

đoán CTNS 

CTNS

Tổng

Có Không

Tổng 118 232 350

Độ  nhạy:  81,4%  (96/118),  độ  chuyên  biệt:  43,5%  (101/232),  giá  trị  tiên  đoán  dương  (GTTĐ(+)): 42,3% (96/227) và giá trị tiên đoán âm  (GTTĐ (‐)): 82,1% (101/123). 

Bảng 2: Giá trị của bảng kiểm Blatchford tinh giản 

trong tiên đoán CTNS 

Trang 4

Có Không

Tổng 118 232 350

Độ  nhạy:  97,5%  (115/118),  độ  chuyên  biệt: 

8,6%  (20/232),  GTTĐ  (+):  36,1%  (115/327)  và 

GTTĐ (‐): 87% (20/23). 

BÀN LUẬN 

Nhóm  bệnh  nhân  trong  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi  cũng  có  độ  tuổi  tương  đồng  và  có 

nguyên nhân gây  xuất  huyết  hàng  đầu  cũng  là 

loét tá tràng tương tự như các nghiên cứu trước 

đây(2,3,6).  Nghiên  cứu  này  cũng  cho  thấy  có  đến 

hơn phân nữa số trường hợp XHTHTKTAC cần 

phải  can  thiệp  y  khoa  với  33,7%  có  tổn  thương 

nguy  cơ  cao  trên  nội  soi  cần  được  CTNS.  Các 

nghiên cứu trong nước trước đây cũng cho thấy 

kết  quả  tương  tự  (bảng  3).  Việc  điều  trị  ức  chế 

tiết  acid  mạnh  ở  liều  cao  đường  tình  mạch  khi 

không thể tiến hành nội soi sớm trong vùng 24 

giờ  được  chứng  minh  là  làm  giảm  tỉ  lệ  tổn 

thương  nguy  cơ  cao  trên  nội  soi  có  chỉ  định 

CTNS(5). Tuy nhiên chúng tôi không ghi nhận sự 

khác biệt về tỉ lệ này khi so sánh với hai nghiên 

cứu đã đề cập trên dù đã chọn lọc các bệnh nhân 

được nội  soi  sớm  trong  vòng  24  giờ  sau  nhập 

viện.  Một  lý  do  có  thể  góp  phần  lý  giải  điều 

này  là  do  phần  lớn  bệnh  nhân  XHTHTKTAC 

đến  BV  115  và  BV  NDGĐ  được  thực  hiện  nội 

soi khá sớm.  

Bảng 3: So sánh tỉ lệ cần can thiệp y khoa giữa các 

nghiên cứu trong nước 

Trần Kinh Thành (6) Đào Xuân

Lãm (2) Chúng tôi

Phẫu thuật 2% 1% 2,6%

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tần suất các 

nguyên  nhân  gây  XHTHTKTAC  không  khác 

biệt  gì  so  với  các  nghiên  cứu  trong  nước  trước 

đây,  với  nguyên  nhân  thường  gặp  nhất  vẫn  là 

loét tá tràng. Về khả năng nhận diện các trường 

hợp có tổn thương nguy cơ cao trên nội soi cần 

CTNS, kết quả từ biểu đồ 3 cho thấy ngay cả đối 

với  các  trường  hợp  có  điểm  Rockall  lâm  sàng 

bằng  0  thì  vẫn  có  đến  1/3  số  trường  hợp  cần  CTNS.  Diện  tích  dưới  đường  cong  ROC  trong  chẩn đoán CTNS của thang điểm Rockall là 0,52  chứng  tỏ  Rockall  lâm  sàng  không  giúp  ích  cho  việc  tiên  đoán  khả  năng  cần  CTNS.  Biểu  đồ  4  cho thấy khả năng cần CTNS của Blatchford bắt  đầu tăng rõ rệt từ điểm cắt là 8. Diện tích dưới  đường  cong  ROC  là  0,66  chứng  tỏ  bảng  điểm  Blatchford tốt hơn Rockall lâm sàng; và với điểm  cắt  là  8  thì  độ  nhạy,  độ  chuyên,  GTTĐ(+)  và  GTTĐ(‐)  lần  lượt  là  81,4%,  43,5%,  42,3%  và  82,1%.  Nghiên  cứu  của  Pang(4)  và  cộng  sự  tại  Hồng Kông có điểm tương đồng với nghiên cứu  của chúng tôi là cho thấy giá trị của thang điểm  Blatchford  tốt  hơn  Rockall  lâm  sàng  trong  khả  năng  nhận  diện  các  trường  hợp  cần  CTNS  tuy  nhiên  điểm  khác  biệt  là  nghiên  cứu  này  không  ghi  nhận  trường  hợp  nào  cần  CTNS  nếu  điểm  Blatchford  là  0.  Như  vậy,  kết  quả  nghiên  cứu  của chúng tôi ủng hộ cho khuyến cáo của vùng  Châu Á – Thái  Bình  Dương  năm  2011  rằng  các  bằng chứng tại chỗ cho thấy nên sử dụng thang  điểm  Blatchford  hơn  là  Rockall  lâm  sàng  trong  đánh  giá  khả  năng  cần  CTNS(5).  Một  điểm  hạn  chế làm cho thang điểm Blatchford khó được áp  dụng rộng rãi vào trong thực tế là việc tính điểm  tương  đối  phức  tạp  dựa  trên  nhiều  thông  số.  Chính  vì  vậy  nên  cũng  chính  nhóm  tác  giả  đề  xướng ra bảng điểm Blatchford cũng đồng thời 

đề xướng ra bảng kiểm Blatchford tinh giản để  giúp mọi nhân viên y tế đều có thể áp dụng dễ  dàng và sàng lọc bệnh nhanh trên lâm sàng. Kết  quả của nghiên cứu gốc cho thấy bảng kiểm này 

có  độ  nhạy  đến  99%  và  độ  chuyên  biệt  32%  trong việc phát hiện các trường hợp cần phải can  thiệp y khoa, tái xuất huyết hoặc tử vong(1). Tuy  nhiên, theo hiểu biết của chúng tôi cho đến nay  vẫn chưa có nghiên cứu nào ở châu Á về giá trị  của bảng kiểm tinh giản này trong việc tiên đoán  khả năng cần can thiệp y khoa nói chung, cũng  như  CTNS  nói  riêng.  Trong  nghiên  cứu  của  chúng tôi, bảng kiểm Blatchford tinh giản có độ  nhạy, độ chuyên, GTTĐ(+), GTTĐ(‐) lần lượt là:  97,5%;  8,6%;  36,1%  và  87%.  Ưu  điểm  của  bảng  kiểm  Blatchford  tinh  giản  là  đơn  giản,  dễ  dàng 

Trang 5

chỉ  có  có  thể  nhận  diện  nhanh  được  6,6% 

(23/350)  trường  hợp  nguy  cơ  thấp.  Thang  điểm 

Blatchford phức tạp hơn nhưng có thể nhận diện 

được  31,1%  (123/350)  trường  hợp  có  nguy  cơ 

thấp  với  giá  trị  tiên  đoán  âm  thấp  hơn  không 

đáng kể so với bảng  kiểm  Blatchford  tinh  giản. 

Do  đó,  khi  áp  dụng  vào  thực  tế  chúng  tôi  cho 

rằng thang điểm Blatchford vẫn có lợi điểm hơn 

trong  việc  giúp  phân  tầng  nguy  cơ  và  chọn  lọc 

được  bệnh  nhân  nhưng  tránh  được  tình  trạng 

chuyển  viện  quá  nhiều  gây  nên  tình  trạng  quá 

tải tại các bệnh viện tuyến trên có khả năng thực 

hiện  CTNS.  Bản  kiểm  Blatchford  tinh  giản  vẫn 

có thể sử dụng như một công cụ tầm soát nhanh, 

nhưng  nếu  kết  quả  cho  thấy  bệnh  nhân  có  ít 

nhất một trong bốn tiêu chuẩn không tương ứng 

với  tình  trạng  bệnh  nhẹ  thì  cần  nên  tính  tổng 

điểm Blatchford. Việc cung cấp các công cụ giúp 

tính  tổng  điểm  Blatchford  trên  các  thiết  bị  di 

động  và  /  hoặc  in  trên  giấy  và  để  sẵn  ở  khoa 

phòng là rất hữu ích vì giúp bác sĩ lâm sàng dễ 

dàng sử dụng thang điểm này hơn. 

KẾT LUẬN 

Loét  tá  tràng  vẫn  là  nguyên  nhân  thường 

gặp nhất gây XHTHTKTAC chiếm 43,1%. 56,9% 

trường hợp XHTHTKTAC cần được can thiệp y 

khoa  và  33,7%  cần  CTNS.  Thang  điểm 

Blatchford với điểm cắt là 8 giúp nhận diện các 

trường hợp cần CTNS với GTTĐ(+) và GTTĐ(‐) 

lần lượt là 42,3% và 82,1%. Bảng kiểm Blatchford 

tinh  giản  tương  đối  đơn  giản  có  thể  dùng  để 

sàng lọc nhanh các trường hợp có nguy cơ thấp  không cần CTNS. Thang điểm Rockall lâm sàng  không  giúp  ích  cho  lâm  sàng  trong  việc  tiên  đoán CTNS.  

Lời cám ơn: Chúng tôi xin cám ơn sự hỗ trợ của Bệnh Viện 

Nhân Dân Gia Định và công ty Astra Zeneca Việt Nam để  hoàn thành bài báo này.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

to  predict  need  for  treatment  for  upper‐gastrointestinal  haemorrhage, Lancet, 356 (9238): 1318‐21. 

Hoàng  Yến  (2010),  Nhận  xét  thang  điểm  Rockall  và  Blatchford  trong  việc  đánh  giá  tiên  lượng  bệnh  nhân  xuất  huyết tiêu hóa trên. Y học TP. Hồ Chí Minh, 14(2) chuyên đề  Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Công nghệ của Đại học Y Phạm  Ngọc Thạch: 8‐14.  

Fedorak N, et al (2006). Validation of Rockall scoring system  for  outcomes  from  non‐variceal  upper  gastrointestinal  bleeding in a Canadian setting. World J Gastroenterol 12(48):  7779‐85. 

Blatchford and pre‐endoscopic Rockall score in predicting the  need  for  endoscopic  therapy  in  patients  with  upper  GI  hemorrhage. Gastrointestinal Endosc 71(7): 1134‐40. 

5 Sung  J,  Chan  F,  Chen  M,  et  al  (2011).  Asia‐Pacific  Working  Group  consensus  on  non‐variceal  upper  gastrointestinal  bleeding. Gut 60: 1170‐77. 

Rockall và Blatchford trong đánh giá tiên lượng ở bệnh nhân  xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày – tá tràng. Y học TP. Hồ  Chí  Minh  15  (4),  Chuyên  đề:  Hội  nghị  Khoa  học  Kỹ  thuật  Bệnh viện Trưng Vương: 38 – 44. 

 

Ngày nhận bài báo:       01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   30/11/2013  Ngày bài báo được đăng:     05/01/2014 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 04:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm