Mục tiêu nghiên cứu trình bày về việc theo dõi và đánh giá biên độ vận động hàm dưới sau phẫu thuật điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn so sánh với đường dưới hàm. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng với 94 bệnh nhân gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới.
Trang 1ĐÁNH GIÁ BIÊN ĐỘ VẬN ĐỘNG HÀM DƯỚI SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY CỔ LỒI CẦU XƯƠNG HÀM DƯỚI BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG
QUA ĐƯỜNG MIỆNG VỚI NỘI SOI HƯỚNG DẪN
Hồ Nguyễn Thanh Chơn*, Lâm Hoài Phương*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Theo dõi và đánh giá biên độ vận động hàm dưới sau phẫu thuật điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm
dưới bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn so sánh với đường dưới hàm
Đối tượng-Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng với 94 bệnh nhân
gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới được chia thành hai nhóm kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn (nhóm B) và đường dưới hàm (nhóm A) tại bệnh viện Răng Hàm Mặt TW TPHCM, được theo dõi và so sánh đánh giá biên độ vận động hàm dưới vào các thời điểm 1, 2, 3 và 6 tháng sau phẫu thuật
Kết quả: Biên độ há, ra trước và sang bên tối đa trung bình của mỗi nhóm tăng dần qua các thời điểm tái
khám và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm Có 94% nhóm B và 91,5% nhóm A có biên độ há bình thường sau phẫu thuật 6 tháng Biên độ ra trước tối đa trung bình sau phẫu thuật 6 tháng của nhóm B là 8,1 ± 1,87mm và nhóm A là 7,8 ± 2,13mm Biên độ sang bên lành tối đa trung bình sau phẫu thuật 6 tháng của nhóm B là 9,4 ± 1,99mm và nhóm A là 9,4 ± 2,26mm Biên độ sang bên gãy tối đa trung bình sau phẫu thuật 6
tháng của nhóm B là 9,8 ± 2,04mm và nhóm A là 9,8 ± 1,95mm
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy biên độ vận động hàm dưới sau phẫu thuật điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm
dưới bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn và đường dưới hàm đều trở về bình thường từ thời điểm sau phẫu thuật 3 tháng, góp phần mang lại thành công về chức năng và hạn chế biến chứng cho bệnh nhân
Từ khóa: Gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới, đường miệng, nội soi hướng dẫn
ABSTRACT
POST-OPERATIVE EVALUATION OF MANDIBULAR MOBILITY OF TREATMENT
OF SUBCONDYLAR MANDIBULAR FRACTURES BY OSTEOSYNTHESIS
VIA ENDOSCOPIC-ASSISTED INTRAORAL APPROACH
Ho Nguyen Thanh Chon, Lam Hoai Phuong
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 285 - 293
Objectives: To postoperatively follow up and evaluate mandibular functional movement of treatment of
mandibular subcondylar fractures by osteosynthesis via endoscopic-assisted intraoral approach compared with submandibular approach
Methods: A randomized controlled trial with 94 patients of subcondylar fractures divided into two groups
by osteosynthesis via endoscopic-assisted intraoral approach (group B) and submandibular approach (group A) at National Hospital of Odonto-Stomatology at Ho Chi Minh City, were followed up and evaluated in term of mandibular motion at 1, 2, 3 and 6 months postoperatively
Results: Maximal mouth opening, protrusive and lateral excursion increase during reexamination periods
There are 94% cases of group B and 91.5% cases of group A recover to normal maximal mouth opening at 6
* Bộ môn Phẫu thuật hàm mặt-Khoa Răng Hàm Mặt-Đại học Y Dược TPHCM
Trang 2months postoperative Average range of protrusive excursion is 8.1 ± 1.87mm in group B and 7.8 ± 2.13mm in group A at 6 month postoperatively Average range of non-fractured side excursion is 9.4 ± 1.99m in group B and 9.4 ± 2.26mm in group A at 6 month postoperatively Average range of fractured side excursion is 9.8 ± 2.04mm
in group B and 9.8 ± 1.95mm in group A at 6 months postoperatively
Conclusion: This study showed that postoperative mandibular mobility of treatment of mandibular
subcondylar fractures by osteosynthesis via endoscopic-assisted intraoral approach and submandibular approach recover to normal range from 3 months postoperatively, bringing good function and reduced complication to patients
Key words: Mandibular subcondylar fractures, intraoral approach, endoscopic-assisted.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Với tỉ lệ khá cao trong gãy xương hàm
dưới-khoảng 30-50%, gãy lồi cầu xương hàm dưới là
thể gãy rất phổ biến trong chấn thương hàm
mặt, trong đó tỉ lệ gãy cổ lồi cầu chiếm gần một
nửa trong gãy lồi cầu(9,12) Lồi cầu đóng vai trò
quan trọng trong chức năng ăn nhai, vận động
hàm dưới và còn đóng vai trò quan trọng trong
quá trình tăng trưởng của xương hàm dưới Do
vậy, gãy lồi cầu sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến chức
năng của hệ thống nhai; sự di lệch của lồi cầu
gãy sẽ phá vỡ sự toàn vẹn cấu trúc diện khớp,
đĩa khớp, các dây chằng và cơ bám dính vào
khớp; từ đó có thể để lại các di chứng như loạn
năng khớp, cứng khớp, rối loạn vận động hàm
dưới, rối loạn tăng trưởng hàm dưới, sai khớp
cắn…ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng ăn nhai
và thẩm mỹ của bệnh nhân(10)
Ngày nay, điều trị gãy cổ lồi cầu bằng
phương pháp phẫu thuật với việc nắn chỉnh hở
và kết hợp xương (KHX) tại ổ gãy đã chứng tỏ
kết quả tốt về giải phẫu và chức năng tốt ngay
sau phẫu thuật(5,7,10) Do đó, hiện nay cùng với
việc phát triển mạnh mẽ về vật liệu, dụng cụ và
trang thiết bị hỗ trợ phẫu thuật, thì việc điều trị
gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới (CLC XHD) bằng
phương pháp phẫu thuật đang ngày càng trở
nên phổ biến Có nhiều đường vào phẫu thuật
kết hợp xương cổ lồi cầu, trong đó các đường
vào phẫu thuật ngoài mặt gồm các đường vào
trước tai, sau hàm và dưới hàm đã được báo cáo
có một số biến chứng xảy ra như dò nước bọt,
sẹo mổ có thể nhìn thấy được, tổn thương tạm
thời hay vĩnh viễn nhánh của thần kinh mặt Bên
cạnh đó, đường vào phẫu thuật trong miệng với nội soi hướng dẫn đang dần chứng minh được
ưu điểm với việc hạn chế tối đa các biến chứng trên(6,14) Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu đưa ra so sánh về vận động chức năng hàm dưới sau phẫu thuật của đường ngoài mặt và đường miệng để làm cơ sở thêm cho việc lựa chọn đường vào phẫu thuật Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá vận động chức năng hàm dưới sau phẫu thuật điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn” nhằm đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật KHX CLC qua đường miệng với nội soi hướng dẫn khi so sánh với đường dưới hàm về vận động chức năng hàm dưới với các mục tiêu sau:
Đánh giá vận động chức năng hàm dưới sau phẫu thuật điều trị gãy CLC XHD bằng kết hợp xương qua đường dưới hàm
Đánh giá vận động chức năng hàm dưới sau phẫu thuật điều trị gãy CLC XHD bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn
So sánh vận động chức năng hàm dưới sau phẫu thuật điều trị gãy CLC XHD bằng kết hợp xương qua đường miệng với nội soi hướng dẫn
và đường dưới hàm
ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
94 BN chấn thương gãy CLC XHD có di lệch một bên hoặc hai bên (theo phân loại của Dechaume)(2) nhập viện vào khoa Phẫu thuật hàm mặt, bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương
Trang 3TPHCM, trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm
2011 đến tháng 10 năm 2013
Tiêu chuẩn chọn mẫu
- BN có chỉ định điều trị phẫu thuật gãy cổ
lồi cầu theo Bhagol & cs(1)
- BN có sức khỏe toàn thân cho phép tiến
hành gây mê phẫu thuật
- BN có các răng còn lại trên hai hàm đủ
vững chắc và đạt được vị trí lồng múi tối đa
- BN đồng ý phẫu thuật và đồng ý tham gia
nghiên cứu
- BN có khả năng hợp tác trong quá trình
điều trị, bao gồm việc tái khám đúng hẹn, chụp
đủ phim theo yêu cầu và thực hiện tốt việc tập
luyện tại nhà theo đúng hướng dẫn
Tiêu chuẩn loại trừ
- BN gãy cổ lồi cầu do bệnh lý, gãy vụn/gãy
thiếu hổng cổ lồi cầu
- BN có bệnh lý toàn thân chống chỉ định
phẫu thuật gây mê toàn diện qua nội khí quản
- BN không đồng ý tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm
chứng
Tiến trình nghiên cứu
Chuẩn bị bệnh nhân
- Giải thích cho BN rõ về sự cần thiết của
điều trị phẫu thuật và tái khám đúng hẹn
- Giải thích BN về ưu và nhược điểm của mỗi
phương pháp đồng thời cung cấp cho BN bảng
thông tin đi kèm với bản chấp thuận tham gia
nghiên cứu, trong đó BN/thân nhân là người
chọn (ký tên) phương pháp phẫu thuật theo
đường dưới hàm hay theo đường miệng với nội
soi hướng dẫn, nhấn mạnh đường dưới hàm là
phương pháp quen thuộc thường được thực
hiện tại bệnh viện, còn đường miệng dưới nội
soi hướng dẫn là phương pháp mới được triển
khai tại bệnh viện
- Hỏi BN về tiền sử và bệnh sử, khám BN và lập hồ sơ bệnh án nghiên cứu
Chuẩn bị dụng cụ-vật liệu
- Máy khoan xương và bộ dụng cụ phẫu thuật kết hợp xương hàm mặt
- Bộ dụng cụ sử dụng nẹp-vít nhỏ cùng nẹp, vít và bộ trocar (Jeil, Hàn Quốc)
- Bộ dụng cụ sử dụng nẹp-vít nhỏ với tay khoan và bắt vít 90o và bộ dụng cụ hỗ trợ kết hợp xương CLC qua đường miệng dưới hướng dẫn nội soi (Synthes, Hoa Kỳ)
- Máy nội soi với ống nội soi đường kính 4mm, góc nghiêng 300 (Wolf, Đức)
- Cung và chỉ thép cố định hàm
Quá trình điều trị
Các bệnh nhân được chia thành 2 nhóm, nhóm A là nhóm bệnh nhân chọn phẫu thuật theo đường dưới hàm (nhóm chứng), nhóm B là nhóm chọn phẫu thuật theo đường miệng với nội soi hướng dẫn
Đánh giá kết quả
Ghi nhận thời gian từ lúc chấn thương đến ngày phẫu thuật (ngày)
Tất cả bệnh nhân đều được đánh giá biên độ vận động chức năng hàm dưới bằng một người đánh giá độc lập ở các thời điểm 1, 2, 3, 6 tháng sau phẫu thuật
Các tiêu chí đánh giá:
- Biên độ há tối đa, chia làm 3 mức độ: bình thường (≥ 40mm), hạn chế nhẹ (30-40mm), hạn chế nhiều (< 30mm)
- Biên độ ra trước tối đa không tiếp xúc răng
- Biên độ sang bên gãy/lành (phải/trái nếu gãy lồi cầu 2 bên) tối đa không tiếp xúc răng
Xử lý và phân tích kết quả
Các dữ liệu sau mỗi lần điều trị và theo dõi được nhập liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 for Windows, sử dụng các kiểm định
χ2, t test khi cần thiết, với độ tin cậy p<0,05 và
khoảng tin cậy 95%
Trang 4KẾT QUẢ
Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2011 đến
tháng 10/2013, có 94 bệnh nhân gãy cổ lồi cầu
được chúng tôi điều trị phẫu thuật kết hợp
xương, gồm 47 bệnh nhân được phẫu thuật qua
đường dưới hàm (nhóm A) và 47 bệnh nhân được phẫu thuật qua đường miệng với nội soi hướng dẫn (nhóm B)
Bảng 1 Phân phối các nhóm tuổi bệnh nhân (theo WHO) theo giới tính
Nhóm tuổi
Nhóm A (n=47) Nhóm B (n=47) Tổng mẫu (n=94) Nam (n=38) Nữ (n=9) Nam (n=41) Nữ (n=6) Nam (n=79) Nữ (n=15)
N (%) N (%) N (%) N (%) N (%) N (%)
Bảng 1 cho thấy trong mẫu nghiên cứu, tỉ lệ
bệnh nhân nằm trong lứa tuổi trưởng thành
(19-39 tuổi) chiếm tỉ lệ vượt trội trong từng giới nam,
nữ; tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê của tỉ lệ từng lứa tuổi khi so sánh giữa
giới nam và giới nữ (p>0,05)
Bảng 2 Nguyên nhân chấn thương
Nguyên
nhân
Nhóm
A(n=47)
Nhóm B(n=47)
Tổng mẫu(n=94)
p*
Số BN Tỉ lệ Số BN Tỉ lệ Số
BN
Tỉ lệ
Tai nạn
giao thông
0,753
Tai nạn
lao động
Tai nạn
sinh hoạt
* So sánh khác biệt nguyên nhân chấn thương giữa 2 nhóm
A và B (χ 2 =1,200) ** So sánh khác biệt giữa các nguyên
nhân chấn thương (phép kiểm χ 2 )
Bảng 2 cho thấy hầu hết bệnh nhân trong
mẫu nghiên cứu và trong mỗi nhóm đều có
nguyên nhân chấn thương là tai nạn giao
thông (92%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05) và không có sự khác nhau về các
nguyên nhân chấn thương giữa nhóm A và
nhóm B với khác biệt không có ý nghĩa thống
kê (p > 0,05)
Thời gian từ lúc chấn thương cho đến ngày
phẫu thuật được chia thành 3 khoảng thời gian,
có tính thời gian trung bình của mẫu nghiên cứu
và của mỗi nhóm, được trình bày trong bảng 3
Bảng 3 Thời gian trước phẫu thuật
Nhóm A (n=47)
Nhóm B (n=47)
Tổng mẫu (n=47) p
Số BN Tỉ lệ Số BN Tỉ lệ Số BN Tỉ lệ
Thời gian
* So sánh khác biệt khoảng thời gian chấn thương giữa 2 nhóm
A và B (χ 2 =0,350) ** So sánh khác biệt thời gian chấn thương trung bình giữa 2 nhóm A và B (t-test) *** So sánh khác biệt giữa các khoảng thời gian chấn thương (phép kiểm χ 2 )
Bảng 3 cho thấy thời gian từ lúc chấn thương đến ngày phẫu thuật phần lớn là trước 15 ngày (chiếm 62% số bệnh nhân ở nhóm A và 64% ở nhóm B), chỉ 4% ở nhóm A và 2% ở nhóm B là có thời gian trên 30 ngày, với khác biệt về số lượng bệnh nhân phân bố ở 3 khoảng thời gian có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), tuy nhiên sự phân bố bệnh nhân ở 3 khoảng thời gian không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh giữa 2 nhóm (p > 0,05) Thời gian trung bình là 13 ngày
và tương đồng ở cả hai nhóm (khác biệt không
có ý nghĩa thống kê với p > 0,05)
Đánh giá biên độ há tối đa
Biên độ há tối đa tính theo milimet của bệnh nhân ở các thời điểm sau phẫu thuật
Trang 5gồm các mức độ há bình thường (≥ 40mm),
hạn chế nhẹ (30-40mm), hạn chế nhiều
(<30mm) và biên độ trung bình được ghi nhận trong bảng 4 và bảng 5
Bảng 4 Biên độ há tối đa ở các thời điểm 1, 2, 3, 6 tháng sau phẫu thuật
1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng n(%) p** n(%) p** n(%) p** n(%) p**
Nhóm A (n=47)
0,000
27 (57%)*
0,001
37 (79%)*
0,000
43 (91,5%)*
0,000
Nhóm B (n=47)
0,000
21 (45%)*
0,004
41 (87%)*
0,000
44 (94%)
0,000
Tổng mẫu (n=94)
0,000
48 (51%)*
0,002
78 (83%)*
0,000
87 (93%)*
0,000
* Khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh với thời điểm trước đó (p<0,05) ** So sánh khác biệt giữa các mức độ há trong cùng thời điểm (phép kiểm χ 2 ) *** So sánh khác biệt ở mỗi thời điểm giữa 2 nhóm A và B (phép kiểm χ 2 )
Bảng 4 cho thấy ở thời điểm 1 tháng sau
phẫu thuật, số lượng bệnh nhân có biên độ há tối
đa hạn chế nhiều chiếm tỉ lệ khá cao (62% ở
nhóm A và 72% ở nhóm B) với khác biệt có ý
nghĩa thống kê so với các mức độ há lớn hơn
(p=0,000 < 0,05) Qua thời điểm 2 tháng, 3 tháng
và 6 tháng sau phẫu thuật, số lượng bệnh nhân
có biên độ há hạn chế nhiều giảm hẳn và thay
vào đó là số lượng bệnh nhân có biên độ há tối
đa bình thường trên 40mm tăng rõ rệt với sự
khác biệt giữa các mức độ há trong từng thời
điểm đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Bên
cạnh đó, sự khác biệt của các mức độ há so sánh
giữa các thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng và 2
tháng, 2 tháng và 3 tháng đều có ý nghĩa thống
kê với p = 0,000 < 0,05 Ngoài ra, khi so sánh giữa thời điểm sau phẫu thuật 3 tháng và 6 tháng thì
sự khác biệt của các mức độ há ở nhóm A có ý nghĩa thống kê với p= 0,007 < 0,05, trong khi ở nhóm B sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,083 > 0,05 Mặt khác, khi so sánh các mức độ há giữa hai nhóm với nhau trong từng thời điểm sau phẫu thuật thì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (1 tháng: χ2 = 1,235, p = 0,539 > 0,05; 2 tháng: χ2=2,966, p = 0,227 > 0,05; 3 tháng: χ2 = 3,282, p=0,194 > 0,05; 6 tháng: χ2 = 0,154, p = 0,694>0,05)
Bảng 5 Biên độ há tối đa trung bình (mm) ở các thời điểm 1, 2, 3, 6 tháng sau phẫu thuật
1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng p*
* So sánh khác biệt biên độ há tối đa trung bình với thời điểm trước đó ** So sánh khác biệt giữa hai nhóm A và B trong cùng thời điểm
Bảng 5 cho thấy biên độ há tối đa trung
bình của mỗi nhóm đều tăng rõ rệt ở thời
điểm sau phẫu thuật 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng
và 6 tháng (có ý nghĩa thống kê với p<0,05)
Bên cạnh đó, ở mỗi thời điểm đánh giá thì
biên độ há tối đa trung bình giữa hai nhóm
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (1
tháng: p = 0,170 > 0,05 (Mann-Whitney U); 2
tháng, 3 tháng, 6 tháng: p > 0,05)
Đánh giá biên độ ra trước tối đa
Biên độ đưa hàm dưới ra trước tối đa trung bình tính theo milimet của bệnh nhân ở các thời điểm sau phẫu thuật được ghi nhận trong bảng 6
Trang 6Bảng 6 Biên độ ra trước tối đa trung bình (mm) ở các thời điểm 1, 2, 3, 6 tháng sau phẫu thuật
1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng p*
* So sánh khác biệt biên độ ra trước tối đa trung bình với thời điểm trước đó ** So sánh khác biệt giữa hai nhóm A và B trong cùng thời điểm
Bảng 6 cho thấy biên độ đưa hàm dưới ra
trước tối đa của mỗi nhóm đều tăng ở thời
điểm sau phẫu thuật 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng
và 6 tháng (có ý nghĩa thống kê với p < 0,05)
Bên cạnh đó, ở mỗi thời điểm đánh giá thì
biên độ ra trước tối đa của giữa hai nhóm
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (1
tháng: p = 0,227 > 0,05 (Mann-Whitney U); 2
tháng, 3 tháng, 6 tháng: p > 0,05)
Đánh giá biên độ sang bên tối đa
Biên độ đưa hàm dưới sang bên lành tối đa trung bình tính theo milimet của bệnh nhân ở các thời điểm sau phẫu thuật được ghi nhận trong bảng 7
Bảng 7 Biên độ sang bên lành tối đa trung bình (mm) ở các thời điểm 1, 2, 3, 6 tháng sau phẫu thuật
1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng p*
* So sánh khác biệt biên độ sang bên lành tối đa trung bình với thời điểm trước đó ** So sánh khác biệt giữa hai nhóm A và B trong cùng thời điểm
Bảng 7 cho thấy biên độ đưa hàm dưới sang
bên lành tối đa của mỗi nhóm đều tăng ở thời
điểm sau phẫu thuật 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng và
6 tháng (có ý nghĩa thống kê với p < 0,05) Bên
cạnh đó, ở mỗi thời điểm đánh giá thì biên độ
sang bên lành tối đa giữa hai nhóm không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (1 tháng: p = 0,572
> 0,05 (Mann-Whitney U); 2 tháng: p = 0,860 >
0,05; 3 tháng: p = 0,873 > 0,05 (Mann-Whitney U);
6 tháng: p = 0,942 > 0,05 (Mann-Whitney U))
Biên độ đưa hàm dưới sang bên gãy tối đa trung bình tính theo milimet của bệnh nhân ở các thời điểm sau phẫu thuật được ghi nhận trong bảng 8
Bảng 8 Biên độ sang bên gãy tối đa trung bình (mm) ở các thời điểm 1, 2, 3, 6 tháng sau phẫu thuật
1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng p*
* So sánh khác biệt biên độ sang bên gãy tối đa trung bình với thời điểm trước đó ** So sánh khác biệt giữa hai nhóm A và B trong cùng thời điểm
Bảng 8 cho thấy biên độ đưa hàm dưới sang
bên gãy tối đa của mỗi nhóm đều tăng ở thời
điểm sau phẫu thuật 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng và
6 tháng (có ý nghĩa thống kê với p<0,05) Bên
cạnh đó, ở mỗi thời điểm đánh giá thì biên độ
sang bên gãy tối đa giữa hai nhóm không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (1 tháng: p = 0,985
> 0,05; 2 tháng: p = 0,408 > 0,05; 3 tháng: p = 0,510
> 0,05 (Mann-Whitney U); 6 tháng: p = 0,726 > 0,05 (Mann-Whitney U))
Trang 7BÀN LUẬN
Nghiên cứu có tổng số 94 BN phân bố đều
trong 2 nhóm với nhóm đường dưới hàm có 47
BN và nhóm đường miệng với nội soi hướng
dẫn có 47 BN, điều này cho phép thực hiện được
việc so sánh đánh giá một cách chuẩn mực giữa
2 nhóm
Phân bố các nhóm tuổi trong nghiên cứu
theo giới tính nhằm tìm ra đặc trưng chấn
thương thường gặp ở từng giới tính nằm trong
nhóm tuổi nào cũng cho thấy rằng lứa tuổi
trưởng thành (19-39 tuổi) là lứa tuổi thường gặp
nhất trong chấn thương gãy cổ lồi cầu trong
nghiên cứu ở cả giới nam và giới nữ (bảng 1)
Hầu hết bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
đều có nguyên nhân chấn thương do tai nạn giao
thông (bảng 2), đây cũng là nguyên nhân thường
gặp nhất trong các nghiên cứu về chấn thương
hàm mặt nói chung và gãy cổ lồi cầu nói riêng tại
Việt Nam(5,7,10) Trong mẫu nghiên cứu, tất cả
bệnh nhân tai nạn giao thông đều có nguyên
nhân do tai nạn xe gắn máy hai bánh, đây là
phương tiện lưu thông phổ biến nhất ở nước ta
hiện nay và cũng là nguyên nhân gây chấn
thương thường xuyên nhất trong các tai nạn giao
thông Các nguyên nhân còn lại như tai nạn lao
động, tai nạn sinh hoạt và đả thương chỉ chiếm tỉ
lệ rất nhỏ
Thời gian từ lúc chấn thương cho đến ngày
phẫu thuật là khoảng thời gian quan trọng ảnh
hưởng đến quá trình điều trị cũng như sự hồi
phục và kết quả điều trị sau này Thời gian này
càng ngắn thì càng tạo thuận lợi cho việc phẫu
thuật, tuy nhiên nên nằm ngoài khoảng thời gian
sưng nề ban đầu sau chấn thương để việc phẫu
thuật được dễ dàng hơn Trong nghiên cứu này,
số bệnh nhân có thời gian trước phẫu thuật dưới
15 ngày chiếm ưu thế và thời gian trung bình là
13 ngày (bảng 3) Do ổ gãy cổ lồi cầu tạo can
xương khá nhanh hơn các vị trí gãy khác của
xương hàm dưới nên đây là một thuận lợi giúp
cho việc nắn chỉnh ổ gãy được dễ dàng và chính
xác đúng tiếp hợp xương Trong trường hợp
bệnh nhân phẫu thuật muộn sau chấn thương 1 tháng (trong nghiên cứu chỉ chiếm tỉ lệ 3%) sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình phẫu thuật phá can xương, nắn chỉnh và kết hợp xương ổ gãy, làm gia tăng thời gian phẫu thuật, đồng thời gia tăng nguy cơ chu phẫu và di chứng hậu phẫu Thời gian tiền phẫu không có sự khác biệt giữa hai nhóm nên rất thuận lợi cho việc so sánh
và đánh giá kết quả phẫu thuật sau này
Đánh giá biên độ há tối đa
Ngoài khớp cắn, vận động chức năng hàm dưới là một tiêu chí cần đánh giá để ghi nhận khả năng phục hồi chức năng ăn nhai của bệnh nhân sau chấn thương và sau phẫu thuật Vận động chức năng hàm dưới gồm biên độ há tối
đa, ra trước tối đa, sang bên gãy và sang bên lành tối đa không tiếp xúc răng được đánh giá trong nghiên cứu trên mỗi bệnh nhân Ở thời điểm 1 tháng, vận động há tối đa trung bình gần 30mm (bảng 5), chỉ khoảng 10% bệnh nhân là hồi phục với biên độ há tối đa trên 40mm (bảng 4) cho thấy thời điểm 1 tháng sau phẫu thuật chưa phải là thời điểm phục hồi hoàn toàn chức năng ăn nhai, và bệnh nhân cần luyện tập vận động chức năng hàm dưới chủ động tiếp tục một cách tích cực Trong mẫu nghiên cứu, bệnh nhân
ở cả hai nhóm đều có sự hợp tác tốt trong quá trình tập vận động chức năng hàm dưới sau phẫu thuật, đây là điều thuận lợi cho sự hồi phục vận động hàm Sau phẫu thuật 2 tháng, biên độ
há tối đa trung bình cả hai nhóm đã đạt trên 40mm, với phần lớn bệnh nhân há với biên độ bình thường và chỉ còn một tỉ lệ 13% bệnh nhân còn vận động há tối đa dưới 30mm (hạn chế nhiều) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa hai nhóm ở các thời điểm đánh giá vận động há tối đa, và sau phẫu thuật 3 tháng đa số bệnh nhân có biên độ há bình thường với biên
độ há tối đa trung bình khoảng 45mm
Biên độ há tối đa là tiêu chí thường được các tác giả sử dụng nhất để đánh giá vận động chức năng hàm dưới So sánh trong y văn với các nghiên cứu về phẫu thuật kết hợp xương cổ lồi cầu cho thấy biên độ há tối đa ở thời điểm 6
Trang 8tháng sau phẫu thuật của Schneider & cs (2007)
là 42,8 ± 9,6 mm ở nhóm đường ngoài mặt
(quanh góc hàm) và 41,2 ± 5,9 mm ở nhóm
đường miệng với nội soi hướng dẫn (bảng
4.1)(11) So sánh các giá trị trong nghiên cứu của
Schneider & cs với các giá trị tương ứng trong
nghiên cứu này sau phẫu thuật 6 tháng cho thấy
biên độ há tối đa của mỗi nhóm trong nghiên
cứu này lớn hơn có ý nghĩa thống kê
(p=0,000<0,05) thể hiện khả năng hồi phục vận
động há tối đa cao hơn ở thời điểm 6 tháng sau
phẫu thuật Nghiên cứu của Schneider & cs thực
hiện trên số mẫu không lớn, với 20 bệnh nhân
nhóm ngoài mặt và 20 bệnh nhân nhóm trong
miệng Bên cạnh đó, Lauer & cs (2007)(6) thực
hiện một nghiên cứu về phẫu thuật kết hợp
xương cổ lồi cầu qua đường miệng dưới nội soi hướng dẫn trên 16 bệnh nhân với 19 ổ gãy, biên
độ há tối đa sau phẫu thuật 6 tháng là 39,9 ± 5,3 mm; nhỏ hơn biên độ há tối đa của nghiên cứu này có ý nghĩa thống kê (p=0,000<0,05) Ở một nghiên cứu có cỡ mẫu lớn hơn với 30 ổ gãy trên
25 bệnh nhân phẫu thuật kết hợp xương cổ lồi cầu qua đường miệng dưới nội soi hướng dẫn, Veras & cs (2007)(14) đã đánh giá biên độ vận động há tối đa sau phẫu thuật 6 tháng là 48 ± 9
mm So sánh với kết quả há tối đa của 51 ổ gãy trên 47 bệnh nhân của nhóm đường miệng với nội soi hướng dẫn của nghiên cứu này cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,149>0,05) (bảng 9)
Bảng 9 So sánh biên độ há tối đa trung bình (TB ± ĐLC) (mm) sau phẫu thuật 6 tháng của mẫu nghiên cứu này
với một số nghiên cứu khác trên thế giới
Đường ngoài mặt Đường miệng với NSHD
Số BN/ổ gãy Biên độ há tối đa Số BN/ổ gãy Biên độ há tối đa
* Khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Đánh giá biên độ ra trước và sang bên tối đa
Ngoài biên độ há tối đa có sự hồi phục rõ rệt
đáng ghi nhận, nghiên cứu còn theo dõi và đánh
giá các biên độ vận động đưa hàm dưới ra trước
và sang bên Biên độ ra trước tối đa trung bình
đều tăng dần ở các thời điểm tái khám 1, 2, 3 và 6
tháng có ý nghĩa thống kê và sự hồi phục là như
nhau giữa hai nhóm đường dưới hàm và đường
miệng với nội soi hướng dẫn (bảng 6) So sánh
kết quả này với các kết quả biên độ ra trước tối
đa trung bình trong các nghiên cứu của các tác
giả Schneider & cs (2007)(12), Lauer & cs (2007)(6)
và Veras & cs (2007)(14) (bảng 10) cho thấy số liệu
của nghiên cứu này lớn hơn có ý nghĩa thống kê
(p<0,05) Tương tự, biên độ đưa hàm dưới sang
bên lành và sang bên gãy của mẫu nghiên cứu
đều tăng dần có ý nghĩa thống kê ở các lần tái
khám ở thời điểm 1, 2, 3 và 6 tháng và thể hiện
sự hồi phục như nhau ở hai nhóm đường miệng
với nội soi hướng dẫn và đường dưới hàm (bảng
7 và 8) Ở bệnh nhân gãy cổ lồi cầu 1 bên được phẫu thuật kết hợp xương, vận động hàm dưới sang bên lành thường khó khăn hơn, có giá trị nhỏ hơn sang bên gãy trong thời gian đầu, tuy nhiên phân tích số liệu trong nghiên cứu cho thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) ở tất cả thời điểm đánh giá ở từng nhóm Điều này cũng có thể do sự cố gắng tích cực trong việc luyện tập vận động chức năng hàm dưới của bệnh nhân, trong đó có vận động sang hai bên phải và trái
So sánh biên độ vận động hàm dưới sang bên của các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu với trung bình biên độ sang bên phải tối đa không tiếp xúc răng của mẫu thanh niên khỏe mạnh không có tiền sử bệnh lý khớp thái dương-hàm trong nghiên cứu của PTA Thư (2002)(11) là 8,3 ± 2,06 mm cho thấy ở thời điểm
2 tháng sau phẫu thuật, trung bình biên độ
Trang 9vận động hàm dưới sang bên lành thấp hơn có
ý nghĩa thống kê (p=0,011<0,05), tuy nhiên
biên độ vận động hàm dưới sang bên gãy
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p=0,102>0,05); ở thời điểm 3 tháng sau phẫu
thuật, biên độ sang bên lành không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,260>0,05) và biên
độ sang bên gãy lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p=0,004<0,05) Vậy có thể thấy rằng sự hồi phục của vận động hàm dưới sang bên lành về giá trị bình thường xảy ra sau phẫu thuật 3 tháng trong khi đó vận động hàm dưới sang bên gãy hồi phục về giá trị bình thường xảy ra
ở thời điểm 2 tháng sau phẫu thuật
Bảng 10 So sánh biên độ ra trước tối đa trung bình (TB ± ĐLC) (mm) sau phẫu thuật 6 tháng của mẫu nghiên
cứu này với một số nghiên cứu khác trên thế giới
Đường ngoài mặt Đường miệng với NSHD
Số BN/ổ gãy Biên độ ra trước Số BN/ổ gãy Biên độ ra trước
* Khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
KẾT LUẬN
Qua đánh giá trên 94 BN với 103 ổ gãy được
chia thành hai nhóm đường dưới hàm và đường
miệng với nội soi hướng dẫn cho thấy biên độ
vận động hàm dưới gồm biên độ há tối đa, biên
độ ra trước và sang bên lành/gãy tối đa không
tiếp xúc răng sau phẫu thuật điều trị gãy cổ lồi
cầu xương hàm dưới bằng kết hợp xương qua
đường miệng với nội soi hướng dẫn và đường
dưới hàm đều trở về bình thường từ thời điểm
sau phẫu thuật 3 tháng, góp phần mang lại
thành công về chức năng và hạn chế biến chứng
cho bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bhagol A, Singh V, Kumar I, Verma A (2011) Prospective
evaluation of a new classification system for the management
of mandibular sub-condylar fractures J Oral Maxillofac Surg;
69:1159–1165
2 Dechaume M & cs (1980), Précis de Stomatologie, pp 200-201,
Masson
3 Edward Ellis III & cs (2000) Surgical Complications With
Open Treatment of Mandibular Condylar Process Fractures J
Oral Maxillofac Surg 58:950-958
4 Hoàng TA (2002) Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gẫy lồi
cầu xương hàm dưới Luận văn Thạc sỹ y học Trường Đại
học Y Hà Nội
5 Kellman RM & Cienfuegos R (2009) Endoscopic approaches
to subcondylar fractures of the mandible Facial Plast Surg 2009
Feb;25(1):23-8
6 Lauer G, Pradel W, Schneider M, Eckelt U (2007) A new
3-dimensional plate for transoral endoscopic-assisted
osteosynthesis of condylar neck fractures J Oral Maxillofac
Surg 65(5):964-971
7 Lê VP (2009) Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X quang và kết quả điều trị phẫu thuật gẫy lồi cầu xương hàm dưới tại Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ y học Đại học Y Hà Nội
8 Lindahl L (1977) Condylar fractures of the mandible I Classification and relation to age, occlusion, and concomitant injuries of teeth and teeth-supporting structures, and fractures
of the mandibular body Int J Oral Surg 6 (1): 12-21
9 Mitchell DA (1997) A multicentre audit of unilateral fracture
of the mandibular condyle J Oral Maxillofac Surg 35 (4): 230-
236
10 Phạm DC & cs (2000) Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật 88 trường hợp gẫy lồi cầu xương hàm dưới Y học Việt Nam Chuyên đề Răng Hàm Mặt Số 8,9: 47-49
11 Phạm TAT (2002), “Nghiên cứu thăm dò một số đặc điểm vận động biên không tiếp xúc răng ở lứa tuổi thanh niên”, Tiểu luận tốt nghiệp Bác sĩ Răng Hàm Mặt
12 Schneider M, Lauer G, Eckelt U (2007) Surgical treatment of fractures of the mandibular condyle: a comparison of long-term results following different approaches - functional,
axiographical, and radiological findings J Craniomaxillofac
Surg 35(3):151-160
13 Silvennoinen U, Iizuka T, Oikarinen K, Lindqvist C (1992) Different patterns of condylar fractures: an analysis of 382
patients in a 3- year period J Oral Maxillofac Surg 50 (10): 1032-
1037
14 Veras RB, Kriwalsky MS, Eckert AW, Schubert J, Maurer P (2007) Long-term outcomes after treatment of condylar fracture by intraoral access: a functional and radiologic
assessment J Oral Maxillofac Surg 65(8):1470-1476
Ngày nhận bài báo: 30/01/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/02/2015 Người phản biện: TS Lê Hồ Phương Trang Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015
Trang 10TÌNH TRẠNG RĂNG VÀ NHA CHU TRÊN BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM BÉO PHÌ TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Anh Vũ Thụy * , Trần Huỳnh Trung **
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tình trạng răng và nha chu; và đánh giá mối liên quan của các tình trạng răng miệng
này với tình trạng thừa cân béo phì trên bệnh nhân lần đầu đến tư vấn, khám và điều trị béo phì tại Viện Y Dược học Dân tộc TP Hồ Chí Minh
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 681 bệnh nhân (124 nam, 557 nữ, tuổi trung bình
41,36 ± 16,19) từ 3/2014 đến 12/2014 Đặc điểm nhân khẩu xã hội học và thói quen nha khoa được thu thập qua bảng câu hỏi tự điền Bệnh nhân được đo các chỉ số nhân trắc (chiều cao, cân nặng); và được khám tình trạng răng (sâu, mất, trám) và nha chu (chỉ số mảng bám răng, chỉ số nướu, chảy máu nướu khi thăm dò, độ sâu khe nướu, độ mất bám dính lâm sàng) Chỉ số khối cơ thể bệnh nhân được tính và tình trạng béo phì được phân loại theo chỉ số khối cơ thể cho người Châu Á trưởng thành (WHO, 2000)
Kết quả: 212 bệnh nhân có tình trạng cơ thể bình thường hay thừa cân (31,1%), 326 bệnh nhân béo phì độ I
(47,9%) và 143 bệnh nhân béo phì độ II (21,0%) Số trung bình răng sâu (DT) và số trung bình răng sâu, mất trám (DMFT) tăng có ý nghĩa thống kê theo mức độ trầm trọng của tình trạng béo phì (p<0,05) Tỷ lệ viêm nha chu của bệnh nhân béo phì là 38,0% Tỷ lệ viêm nha chu và số trung bình các chỉ số nha chu (PlI, GI, BOP, PD
và CAL) cũng tăng có ý nghĩa thống kê theo mức độ trầm trọng của tình trạng béo phì (p<0,05)
Kết luận: Sâu răng, tỷ lệ viêm nha chu và độ trầm trọng của bệnh nha chu liên quan có ý nghĩa với mức độ
trầm trọng của tình trạng béo phì
Từ khóa: Béo phì, Sâu răng, Viêm nha chu, Chỉ số khối cơ thể
ABSTRACT
DENTAL AND PERIODONTAL STATUS IN PATIENTS FOR OBESITY EXAMINATION
AT TRADITIONAL MEDICINE INSTITUTE, HO CHI MINH CITY
Pham Anh Vu Thuy, Tran Huynh Trung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 294 - 302
Objectives: To examine the dental and periodontal status; and assess the relationship between these
conditions and obesity in patients who first visited for consultation, examination and treatment of obesity at Traditional Medicine Institute, Ho Chi Minh City
Methods: Cross sectional study was performed on 681 patients (124 males, 557 females, mean age: 41.36
±16.19) from March to December, 2014 The socio-demographic characteristics and dental habits were investigated by the self-administered questionnaire Anthropometric index (height, weight) of patients was measured and a record made of dental status (DT, MT, FT) and periodontal status (PlI, GI, BOP, PD, CAL) Body Mass Index (BMI) was calculated and obesity classification of patients by BMI for adult Asians (WHO, 2000) was conducted
Results: 212 patients were classified as normal or overweight, 326 patients were obese I and 143 patients
* Bộ môn Nha Chu - Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM
** Học viên Cao học khóa 2012-2014, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM
Tác giả liên lạc: TS Phạm Anh Vũ Thụy ĐT: 0916810874 Email: pavthuy@hotmail.com