1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Virut vắc xin sởi: Một liệu pháp mới điều trị ung thư

6 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày về liệu pháp virut chống ung thư là sử dụng các loại virut để lây nhiễm và gây tan tế bào (TB) ung thư (OLV) một cách chọn lọc mà không gây tổn hại các TB bình thường. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy chủng virut vắc xin sởi sống, giảm độc lực (MeV) hoặc biến đổi gen là ứng cử viên tốt nhất cho liệu pháp này.

Trang 1

VIRUT VẮC XIN SỞI: MỘT LIỆU PHÁP MỚI ĐIỀU TRỊ UNG THƢ

(TỔNG QUAN)

Lê Duy Cương*; Hồ Anh Sơn**; Nguyễn Lĩnh Toàn**

TÓM TẮT

Liệu pháp virut chống ung thư là sử dụng các loại virut để lây nhiễm và gây tan tế bào (TB) ung thư (OLV) một cách chọn lọc mà không gây tổn hại các TB bình thường Nhiều nghiên cứu

đã cho thấy chủng virut vắc xin sởi sống, giảm độc lực (MeV) hoặc biến đổi gen là ứng cử viên tốt nhất cho liệu pháp này MeV xâm nhập TB ung thư thông qua thụ thể CD46 và Nectin-4 biểu

lộ nhiều trên TB ung thư Virut sởi có khả năng gây ly giải TB ung thư và kích thích miễn dịch

không đặc hiệu tiêu diệt nhiều loại ung thư in vitro và in vivo MeV là một OLV sử dụng an toàn

nhất trên người nên đã được phát triển nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng Hiện nay, liệu pháp MeV điều trị ung thư đang được tiến hành ở giai đoạn I và II một số loại ung thư trên thế giới

* Từ khóa: Virut vắc xin sởi; Liệu pháp điều trị ung thư

Vaccine Measles Virus: A New Antitumor Virotherapy (Review) Summary

Antitumor virotherapy consists of the use of replication-competent viruses to infect and kill tumor cells preferentially, without damaging healthy cells Some studies indicated that vaccine-attenuated strains of measles virus (MeV) are good candidates for this approach Attenuated MeV uses the CD46 and Nectin-4 molecules, which is frequently overexpressed on human cancer cells as a specific entry receptor into cells MeV exhibits oncolytic properties and has also the ability to activate the immune system against many cancer types in vitro, in vivo Oncolytic viruses are remarkably safe and more efficacious in uses Phase I and II clinical trials using MeV are currently underway to treat some cancer types in the world

* Key words: Vaccine measles virus Antitumor virotherapy

GIỚI THIỆU CHUNG

Virut nhân lên và ly giải có chọn lọc

các TB ung thư (oncolytic virut - OV) là

tác nhân điều trị các bệnh ung thư người

nhiều triển vọng Trong hai thập kỷ qua,

cùng với sự phát triển của công nghệ sinh

học hiện đại, virut học, OLV được xác

thực là một liệu pháp kháng ung thư có

tiềm năng Hiện nay, nhiều virut được lựa

chọn là tác nhân OLV kháng ung thư có

hiệu quả in vitro, in vivo và trong các thử

nghiệm lâm sàng trên người Trong số các virut có khả năng ly giải TB ung thư, virut vắc xin sởi (Measles virus vaccine; MeV) được nghiên cứu khá toàn diện Nhiều nghiên cứu cho thấy MeV có khả

năng phân giải TB ung thư in vitro trên

chuột thiếu hụt miễn dịch mang khối ung thư người và đang tiến hành thử nghiệm lâm sàng trên người

* Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga

** Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Lĩnh Toàn (toannl@vmmu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 10/11/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 23/12/2015

Trang 2

MeV xâm nhập vào TB thông qua thụ

cảm thể đặc hiệu CD46 và Nectin-4 Do

đó, MeV có khả năng ly giải có chọn lọc

những TB ung thư mà trên bề mặt bộc lộ

nhiều thụ thể CD46 và Nectin-4 Bên

cạnh đó, MeV sống, giảm độc lực đã

được sử dụng để chủng ngừa trong nhiều

thập kỷ qua với độ an toàn rất cao

(Chương trình Tiêm chủng mở rộng),

hoàn toàn có thể phát triển điều trị trên

bệnh nhân (BN)

Liệu pháp OLV sử dụng MeV là liệu pháp

điều trị mới, có tính ứng dụng rộng rãi,

được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước

phát triển và đã có kết quả từ nhiều thử

nghiệm lâm sàng Nghiên cứu thành công

sẽ mở đầu cho việc áp dụng một kỹ thuật

mới, tiên tiến và điều trị ung thư đặc hiệu

THỤ CẢM THỂ ĐẶC HIỆU CỦA MeV

Chủng MeV giảm độc lực là OLV có

tiềm năng lớn hơn các virut khác Hiện

nay, liệu pháp OLV sử dụng MeV thuộc

chủng Edmonston, một chủng lâm sàng

lấy từ cổ họng của một trẻ em có tên

David Edmonston (1954) Sau đó,

MeV-Edm được nuôi cấy trong các TB khác

nhau, bao gồm cả nguyên bào sợi phôi

gà, tạo ra chủng MeV giảm độc lực cao

hơn và không gây bệnh như:

MeV-Moraten (Attenuvax) được cấp phép sử

dụng tại Mỹ vào năm 1968, chủng vắc xin

Edmonston-Zagreb (MeV-EZ), một chủng

được sử dụng rộng rãi ở châu Âu [0]

MeV sử dụng phân tử CD46 và

Nectin-4 là thụ thể đặc hiệu xâm nhập vào TB

đích Có được ái tính với CD46 là do MeV

có một đột biến trong chuỗi protein H so

với virut sởi cổ điển (chủng hoang dại),

các axít amin thay đổi ở vị trí 481 từ

asparagin sang tyrosine [2] CD46 là một

protein thuộc nhóm điều hòa bổ thể liên kết màng, có ở tất cả các TB người, ngoại trừ hồng cầu CD46 có khả năng bảo vệ TB chống lại tác dụng tự phá hủy

TB của bổ thể thông qua cơ chế hoạt động như một đồng yếu tố có khả năng bất hoạt thành phần C3b và C4b của bổ thể Một cách ngẫu nhiên, CD46 thường biểu hiện nhiều trên TB ung thư người, có thể là một cơ chế để bảo vệ TB ung thư bởi bổ thể ly giải TB qua trung gian bổ thể [3]

Gần đây, Nectin-4 được xác định là thụ cảm thể của virut sởi, chúng là 1 protein nối dính E-cadherin trên bề mặt

TB được biểu lộ chủ yếu trong quá trình phát triển phôi Nectin-4 được tìm thấy nhiều ở các TB ung thư biểu mô lát và biểu mô tuyến ở phổi, ung thư buồng trứng và ung thư vú Nectin-4 được xác định có nguồn gốc như là 1 dấu hiệu sinh học của khối u Vì vậy, ái lực tự nhiên với Nectin-4 làm cho MV-Edm có thể dễ dàng lựa chọn và ly giải TB ung thư [4] Đây cũng là 1 giả thiết đang được thử nghiệm

ở các mô hình tiền lâm sàng và thử nghiệm lâm sàng

CD46 không chỉ là nơi MeV gắn và xâm nhập vào TB, mà còn thúc đẩy quá trình hợp bào giữa một TB bị nhiễm virut

và TB lân cận (hiệu ứng gây độc TB) Nghiên cứu trên TB buồng trứng chuột Hamster Trung Quốc (Chinese Hamster ovary: CHO), kết quả cho thấy sự hợp bào giữa TB bị nhiễm virut và TB lân cận tương đồng với mật độ CD46 [5], không

có vai trò của thuyết “tất cả hoặc không” Như vậy, ở TB bình thường có mật độ CD46 thấp, MeV có khả năng lây nhiễm hợp bào nhưng không đáng kể và không

có khả năng phát tán virut Ở TB ung thư

Trang 3

có bộc lộ thụ thể CD46 cao, lây nhiễm

MeV dẫn đến phản ứng hợp bào mạnh

mẽ Nghiên cứu gần đây trên 38 BN đa u

tủy, mức độ biểu hiện CD46 ở TB u tủy

được tìm thấy cao hơn nhiều (49.130/TB)

so với TB tủy xương bình thường

(7.340/TB) Hiệu quả phá hủy TB mạnh

mẽ của sự hợp bào phạm vi rộng lớn thấy trong TB u tủy sau khi nhiễm bệnh sởi, hầu như không xảy ra ở TB tủy xương

bình thường (hình 1) Đây là đặc tính ly

giải TB khối u của virut sởi giảm độc lực, một tác nhân trị liệu ung thư nhằm vào CD46 có nhiều triển vọng [0]

(*Nguồn: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3926122/figure/F1/)

AN TOÀN CỦA VẮC XIN SỞI (MeV)

GIẢM ĐỘC LỰC

Vấn đề an toàn trong liệu pháp OLV

điều trị ung thư được chia thành hai phạm

vi: nguy cơ cho BN và nguy cơ đối với

cộng đồng

- Để giảm nguy cơ cho BN, OLV phải

có tính lựa chọn các khối u cao, không

gây bệnh cho mô bình thường và ổn định

về mặt di truyền

- Để giảm nguy cơ cho cộng đồng,

OLV tốt nhất có nguồn gốc từ một loại

virut mà cộng đồng có miễn dịch tốt

MeV sống, giảm độc lực được coi là một

trong những loại vắc xin an toàn nhất

Trong 50 năm qua, MeV sống, giảm độc lực

đã tiêm cho hơn một tỷ người theo Chương

trình Tiêm chủng mở rộng và độ an toàn

thật đáng ghi nhận Từ năm 1978 - 2010,

khoảng 575 triệu liều MeV sống, giảm độc lực được tiêm chủng và có 17.536 trường hợp không tốt được báo cáo, chỉ có 4.822 trường hợp được coi là nghiêm trọng, nguy cơ liên quan của một trường hợp nghiêm trọng như vậy là 8,4 ca/1 triệu liều phân phối [7] Cũng không có bằng chứng cho thấy MeV sống, giảm độc lực gây bệnh phải thu hồi trở lại

MeV NHẠY CẢM VỚI NHIỀU LOẠI UNG

THƢ IN VITRO VÀ IN VIVO

Hiệu ứng phá hủy TB của MeV có đặc trưng là sự hợp bào, do tương tác giữa hemagglutinin và protein kết hợp từ TB bị nhiễm virut với TB lân cận Nhiều nghiên cứu đã chứng minh khả năng ly giải TB trên thực nghiệm của MeV đối với nhiều dòng TB ung thư người như: u tủy, ung thư tuyến tụy, u thần kinh đệm, ung thư buồng

u t y

anti-CD46 và đến số lượng phân tử anti-CD46 bằng máy BD-QuantiBrite Beads

(C) TB u t y bộc lộ CD46 (hiển thị bên trái) và tạo hợp bào nhiều hơn so với TB

t y bình thường (bên phải)

Trang 4

trứng, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú, u

TB hắc tố da, ung thư TB biểu mô thận, u

trung biểu mô, u nguyên bào tủy, u phổi và

ung thư đại tràng Gần đây, nghiên cứu

của Zhang và CS đã chứng minh hiệu quả

kháng ung thư của MeV với ung thư TB

máu ngoại vi người, đặc biệt là ung thư bạch cầu tủy cấp cả in vitro và trên chuột thiếu hụt miễn dịch mang khối ung thư bạch cầu tủy cấp [8] Trong 10 năm qua, hoạt động gây độc TB của MeV được chứng minh với ít nhất 12 loại TB ung thư

MeV BIẾN ĐỔI GEN ĐỂ TĂNG CƯỜNG TÁC DỤNG CỦA LIEUJ PHÁP OLV

Lần đầu tiên, một hệ thống gen phiên bản ngược tái tổ hợp các thế hệ virut sởi có nguồn gốc từ chủng MeV-Edm được báo cáo năm 1996 Kỹ thuật gen phát triển là tiền

đề quan trọng tạo ra các phiên bản mới của chủng MeV-Edm, nhằm tăng cường hiệu quả trong điều trị ung thư Đến nay, những nỗ lực đều tập trung vào việc tạo ra virut sởi biến đổi gen có khả năng lựa chọn đặc hiệu TB ung thư, kiểm soát virut lây lan trong cơ thể, cũng như kích thích hệ miễn dịch của cơ thể chống TB ung thư tốt hơn

(hình 2)

(*Nguồn: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3926122/figure/F2/)

SỬ DỤNG CÁC TB MANG VIRUT

TRONG LIỆU PHÁP OLV

Trong các mô hình thí nghiệm tiền lâm

sàng, kết quả cho thấy chỉ có tỷ lệ nhỏ

OLV lây nhiễm TB ung thư gây thoái triển

khối u Liệu pháp OLV dễ bị hạn chế tác

dụng do kháng thể trung hòa bất hoạt

virut trong cơ thể vật chủ, hiệu giá kháng

thể trung hòa tăng dần khi cơ thể tiếp xúc

với virut ở những lần tiếp theo Sau khi nhiễm sởi hoặc tiêm chủng MeV, khoảng 90% cá thể có kháng thể trung hòa chống bệnh sởi, làm giảm hiệu quả điều trị của OLV Vấn đề virut sởi có thể lan truyền qua các mạch máu ngay cả khi có sự hiện diện của kháng thể trung hòa, tiêm

TB nhiễm MeV và xem TB nhiễm này như

“TB mang virut”, kháng thể trung hòa bảo

hòa tan (ví dụ: MV-CEA) được tiết vào máu,

đo nồng độ các chất này cho phép giám sát virut trong cơ thể

độ tập trung iod phóng xạ trong TB bị nhiễm cho phép giám sát vị trí nhiễm trùng MV

chống lại miễn dịch kháng virut

khả năng lựa chọn đặc hiệu TB ung thư

Trang 5

vệ virut và đưa virut sởi đến các vị trí khối

u “TB mang virut” không chỉ tạo tiềm

năng thực hiện liệu pháp OLV, mà còn có

thể ngăn chặn sự lây lan không đúng chỗ

của virut (trong gan và lách…), cũng như

tăng khả năng virut thoát từ mạch máu

vào khối u Nhiều nghiên cứu in vitro cho

thấy tiêm TB nhiễm MeV thay vì tiêm MeV

trực tiếp thì hợp bào giữa “TB vận chuyển

virut” và TB khối u tăng lên đáng kể [9]

KẾT HỢP LIỆU PHÁP OLV VỚI THUỐC

ỨC CHẾ MIỄN DỊCH

Kết hợp liệu pháp OLV với thuốc ức

chế miễn dịch nhằm mục đích dễ dàng

gây nhiễm virut vào khối u đang phát triển

trong cơ thể sống có một hệ miễn dịch

nguyên vẹn, nâng cao hiệu lực điều trị

của liệu pháp OV Cyclophosphamide

được biết là chất có độc tính cao với sinh

sản TB lympho, nó có thể điều chỉnh cả

hai phản ứng miễn dịch tự nhiên và thích

ứng Hiệu ứng liều cyclophosphamide và

thời gian phân bố cyclophosphamide với

từng loại kháng nguyên khác nhau, phản

ứng ngăn chặn TB lympho B và T rõ rệt

nhất khi cyclophosphamide dùng cùng

lúc hoặc không quá 3 ngày sau kích

thích bằng kháng nguyên, đặc biệt

cyclophosphamide có hiệu quả tốt khi sử

dụng liều cao trước 1 hoặc 2 ngày khi cơ

thể tiếp xúc với kháng nguyên [10]

PHÁT TRIỂN CÁC THỬ NGHIỆM LÂM

SÀNG

Hiện có 14 thử nghiệm lâm sàng giai

đoạn I-II của liệu pháp OLV sử dụng MeV

được tiến hành trên thế giới Các nghiên

cứu chủ yếu tiến hành tại Mayo Clinic

(Mỹ) Thử nghiệm trên BN ung thư buồng

trứng, u trung biểu mô màng phổi, đa u

tủy, u lympho Với kết quả đánh giá tác dụng phụ, xác định liều tốt nhất và diễn biến điều trị liệu pháp OLV sử dụng MeV biến đổi gen mã hóa chất mang iod kiềm tuyến giáp (MV-NIS) ở BN ung thư Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng thực hiện trên người với các phương thức như: sử dụng đường tiêm MeV trực tiếp vào khối u điều trị ung thư hạch, truyền màng bụng TB trung mô mang virut sởi biến đổi (MV-NIS) trong điều trị ung thư buồng trứng, tiêm MeV vào màng phổi điều trị ung thư trung biểu mô màng phổi, tiêm MeV vào sọ não điều trị ung thư não hoặc tiêm tĩnh mạch MeV kết hợp thuốc

ức chế miễn dịch cyclophosphamide trước đó để gia tăng hiệu quả kháng ung thư của OLV trong điều trị đa u tủy

KẾT LUẬN

Liệu pháp OLV sử dụng MeV sống, giảm độc lực hoặc MeV biến đổi gen là một chiến lược điều trị ung thư có tiềm năng Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng vẫn còn ở giai đoạn đầu và hiệu quả bị giới hạn do khả năng miễn dịch chống virut sởi MeV nhạy cảm với nhiều loại TB ung thư, MeV an toàn cao và những tiến

bộ trong công nghệ sinh học làm cho MeV trở thành một ứng cử viên rất tốt cho phát triển chiến lược điều trị này Hơn nữa, MeV có thể biến đổi gen để tăng hiệu quả phân giải TB ung thư, cho phép theo dõi sự nhân lên của virut trong cơ thể, hoặc để làm tăng tác dụng kích thích miễn dịch chống lại khối u Các nghiên cứu đi sâu sử dụng loại virut biến đổi sử dụng TB mang virut, phối hợp liệu pháp OLV với thuốc ức chế miễn dịch hoặc sử dụng những đường đưa thuốc đặc biệt làm tăng thêm tính khả thi và ứng dụng của liệu pháp OLV trên lâm sàng hiện nay

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Griffin D Measles Virut In: Griffin D et

al, editors Field's Virology Lippincott Williams

& Wilkins Philadelphia 2001, p.1401

2 Riley-Vargas RC et al CD46: expanding

beyond complement regulation Trends Immunol

2004, 25 (9), pp.496-503 [PubMed]

3 Bjorge L et al Complement-regulatory

proteins in ovarian malignancies Int J

Cancer 1997, 70 (1), pp.14-25 [PubMed]

4 Muhlebach MD, Mateo M, Sinn PL,

Prufer S, Uhlig KM, Leonard VH et al

Adherens junction protein nectin-4 is the

epithelial receptor for measles virus Nature

2011, Dec 22, 480 (7378), pp.530-533

Identification of the epithelial measles

receptor [PubMed: 22048310]

5 Anderson BD et al High CD46 receptor

density determines preferential killing of tumor

cells by oncolytic measles virus Cancer

Res 2004, 64 (14), pp.4919-4926 [PubMed]

6 Ong HT et al Oncolytic measles virus

targets high CD46 expression on multiple

myeloma cells Exp Hematol 2006, 34 (6),

pp.713-720 [PubMed]

7 Lievano F, Galea SA, Thornton M, Wiedmann RT, Manoff SB, Tran TN, Amin

MA, Seminack MM, Vagie KA, Dana A et al

Measles, mumps and rubella virus vaccine (m-m- rii): A review of 32 years of clinical and

postmarketing experience vaccine 2012, 30,

pp.6918-6926

Combination of vaccine-strain measles and mumps virus synergistically kills a wide range

of human hematological cancer cells: Special focus on acute myeloid leukemia Cancer Left

2014, Nov 28, 354 (2), pp.272-280 [PubMed]

9 Ong HT et al Evaluation of T cells as

carriers for systemic measles virotherapy in the presence of antiviral antibodies Gene Ther 2007, 14 (4), pp.324-333 [PubMed]

10 Aisenberg AC, Davis C The thymus

and recovery from cyclophosphamide-induced tolerance to sheep erythrocytes J Exp Med

1968, 128 (1), pp.35-46 [PMC free article]

[PubMed]

Ngày đăng: 21/01/2020, 03:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w