1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hở van hai lá bẩm sinh đơn thuần: Từ chẩn đoán đến điều trị phẫu thuật

6 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 807,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu phẫu thuật điều trị hở van hai lá bẩm sinh thường gặp nhiều khó khăn do phẫu trường nhỏ và kỹ thuật ứng dụng hạn chế. Nghiên cứu này nhằm xác định kết quả dài hạn của phẫu thuật hở van hai lá bẩm sinh theo phương pháp carpentier tại Viện Tim TP.HCM, áp dụng nghiên cứu hồi cứu từ năm 1993 đến 2009, 77 bệnh nhân hở van hai lá bẩm sinh được phẫu thuật theo phương pháp sửa van hai lá của carpentier.

Trang 1

HỞ VAN HAI LÁ BẨM SINH ĐƠN THUẦN:

TỪ CHẨN ĐOÁN ĐẾN ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT

Văn Hùng Dũng*, Phan Kim Phương*, Nguyễn Văn Phan*

TÓM TẮT

Mục tiêu: phẫu thuật điều trị hở van hai lá bẩm sinh thường gặp nhiều khó khăn do phẫu trường nhỏ và kỹ

thuật ứng dụng hạn chế Nghiên cứu này nhằm xác định kết quả dài hạn của phẫu thuật hở van hai lá bẩm sinh theo phương pháp Carpentier tại Viện Tim TPHCM

Phương pháp: nghiên cứu hồi cứu từ năm 1993 đến 2009, 77 bệnh nhân hở van hai lá bẩm sinh được phẫu

thuật theo phương pháp sửa van hai lá của Carpentier

Kết quả Tuổi trung bình là 9,4 tuổi (6 tháng - 45 tuổi), trong đó nhóm tuổi dưới 6 tuổi chiếm 25 trường

hợp (32,5%) Nam giới: 40 (52%) Siêu âm tim qua thành ngực chỉ chẩn đoán chính xác nguyên nhân bẩm sinh trong 40% trường hợp Tạo hình van chiếm 75 trường hợp (97,4%), hai trường hợp phải thay van nhân tạo Số

kỹ thuật trung bình được thực hiện trên một bệnh nhân là 2,5 (ít nhất 1, nhiều nhất 5 kỹ thuật), 64 trường hợp (83%) có đặt vòng van nhân tạo Biến chứng gần sau mổ thấp (suy tim nặng 3, rối loạn nhịp tim 10, suy thận cấp 1, nhiễm trùng huyết 1, viêm phổi 3) Tử vong phẫu thuật là 1,3% (1 trường hợp) So sánh trước và sau mổ sớm, có sự giảm có ý nghĩa độ hở van hai lá: trước mổ (100% đều hở van nặng) và sau mổ: không hở hoặc hở nhẹ 86% (66), hở trung bình 14% (11) và hở nặng 0%, p< 0,001 Thời gian theo dõi trung bình 88,4 ± 62 tháng 3,8% số BN mất theo dõi Ở thời điểm theo dõi sau cùng (ngắn nhất 6 tháng và dài nhất 16 năm) có 6 BN hở van nặng tái phát, 4 hở van trung bình còn lại hở nhẹ hoặc không hở 5 BN phải mổ lại vì hở van tái phát (từ 1 đến 29 tháng sau mổ) Có 2 BN tử vong muộn Tỷ lệ còn sống thực tế sau 16 năm theo dõi là 96,1 ± 2,7% Tỷ lệ thực tế

BN không bị mổ lại sau 16 năm theo dõi là 88,5 ± 6,4% Tần suất hở van hai lá tái phát là 1,56%/BN-năm

Kết luận: Chẩn đoán xác định hở van hai lá bẩm sinh chủ yếu dựa vào kết quả phân tích trong mổ Tạo hình

van là chọn lựa chủ yếu đối với hở van hai lá bẩm sinh ở trẻ em Kết quả điều trị phẫu thuật theo phương pháp Carpentier về dài hạn rất tốt

Từ khoá: Hở van hai lá bẩm sinh

ABSTRACT

ISOLATED CONGENITAL MITRAL REGURGITATION:

DIAGNOSIS AND SURGICAL TREATMENT

Van Hung Dung, Phan Kim Phuong, Nguyen Van Phan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 377 - 382

Objective: surgical treatment for congenital mitral regurgitation especially in young children often

encounter many difficulties because of small surgical field and limited techniques can be used This study determines the long-term result of the surgical treatment for isolated congenital mitral regurgitation with Carpentier’s techniques

Methods: A retrospective study from Feb 1993 to Dec 2009, 77 patients with isolated congenital mitral

regurgitation were operated at The Heart Institute of HCM City, Viet Nam

* Viện Tim TP Hồ Chí Minh

Trang 2

Results: Mean age was 9.4 ± 7.8 years (range from 0.7 to 45 years old), among them there were 25 patients

(32.5%) under 6 year of ages Male patients was 40 (52%) Diagnosis the cause of mitral regurgitation pre-op by echocardiography was exact only in 40% patients Valve repair was performed sucessfully in 97.6% and only 2 cases had to change the native valve by prosthetic valve The mean number of techniques per patients is 2.5 (min

1, max 5), Carpentier-Edwards prosthetic ring was used in 64 patients (83%) Immediate postoperative complications were low (severe LCO 3.9%, arrhythmias 13%, severe infection 5.2% and acute re-nal failure 1.3%) 30-day mortality rate was only 1 patient (1.3%) The mean time of follow-up was 88.4 ± 62 months (6 -

192 months) During follow-up, 5 patients need to re-operation (1- 29 months) Evaluation MR by echocardiography at the last follow-up showed 6 patients had severe MR, 5 others had moderate MR and the rest had mild or no MR Actuarial rate of freedom from re-operation at 16-year follow-up was 88.5 ± 6.4% Late death was two patients Actuarial rate of survival at 16 year was 96.1 ± 2.7% and linearated of MR recurrent was 1.56%/pts-year

Conclusion: Isolated congenital MR is always complex and difficult to diagnose before operation Mitral

valve repair should be the primary choice to congenital MR Mitral valve repair in children with Carpentier’s techniques has very good long-term results with low mortality and re-operation rate

Keyword: congenital MR

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hở van hai lá có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi

nào từ sơ sinh cho đến người lớn tuổi và có thể

do nhiều nguyên nhân khác nhau Hở van hai lá

có thể đơn thuần là một bệnh duy nhất hoặc kết

hợp với các thương tổn van tim khác hoặc dị tật

tim khác Chẩn đoán có hở van hai lá nặng thì

không khó với phương tiện hiện nay nhưng

chẩn đoán đúng nguyên nhân gây hở van thì

không đơn giản Siêu âm tim 2D và Doppler

màu là một công cụ rất mạnh để chẩn đoán hở

van hai lá.Trên siêu âm tim, tuỳ theo nguyên

nhân gây hở van sẽ có các hình ảnh chẩn đoán

khá đặc thù Các dạng tổn thương của lá van,

vòng van và bộ máy dưới van phối hợp hoặc

không đi kèmvới các dị tật tim khác sẽ giúp

chẩn đoán nguyên nhân.Tóm tắt có thể chia làm

5 nhóm nguyên nhân gây hở van hai lá như sau:

Hở van hai lá do viêm nhiễm: hậu thấp,

viêm nội tâm mạc …

Hở van hai lá do thoái hoá: bệnh thoái hoá

nhày, bệnh Barlow, hội chứng Marfan…

Hở van hai lá bẩm sinh: đơn thuần hoặc

phối hợp với dị tật khác

Hở van hai lá do thiếu máu cơ tim: sau nhồi

máu, ALCAPA…

Hở van hai lá do nguyên nhân khác: chấn

thương

Tại Việt Nam, hở van hai lá bẩm sinh thể đơn thuần thường được nghĩ tới ở trẻ nhũ nhi nhưng với trẻ lớn hơn hở van hai lá đơn thuần thường do nguyên nhân hậu thấp Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ khảo sát những trường hợp hở van hai lá bẩm sinh đơn thuần ở mọi lứa tuổi được mổ Mục tiêu là lượng giá độ chính xác bệnh hở van hai lá bẩm sinh đơn thuần bằng siêu âm tim và đánh giá kết quả phẫu thuật về dài hạn nhóm bệnh hở van hai lá bẩm sinh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tiến hành theo kiểu hồi cứu, cắt dọc Thu thập các kết quả trước, trong và sau

mổ đồng thời phân tích các khối dữ liệu thu được trong quá trình theo dõi bệnh nhân về dài hạn

Quần thể được chọn là tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật tại Viện Tim thành phố

Hồ chí Minh từ năm 1993 đến hết năm 2009 với chẩn đoán sau mổ là hở van hai lá bẩm sinh đơn thuần Loại trừ các bệnh nhân hở van hai lá do nguyên nhân khác hoặc hở van hai lá bẩm sinh phối hợp với các dị tật tim khác như hẹp van 2 lá, thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch…

Các khối dữ liệu cần thu thập bao gồm: các

Trang 3

đặc điểm bệnh lý trước mổ, chẩn đoán dạng tổn

thương và nguyên nhân hở van hai lá trong mổ,

thời gian theo dõi và kết quả siêu âm tim xa nhất

sau mổ cũng như các biến cố ghi nhận được

trong quá trình theo dõi

Các biến định lượng được trình bày dưới

dạng trung bình ± độ lệch chuẩn

Các biến định tính, các biến cố liên quan

được trình bày đưới dạng tần suất phần trăm và

hoặc tần suất đường thẳng (linearized rate)

Tỷ lệ bệnh nhân còn sống đến cuối quá trình

theo dõi cũng như tỷ lệ bệnh nhân không gặp

biến cố liên quan được trình bày theo biểu đồ

Kaplan-Meier

Phân tích kết quả thống kê được thực hiện

bằng chương trình SPSS for Window phiên

bản 13.0

KẾT QUẢ

Từ tháng 2 năm 1993 đến hết tháng 12 năm

2009, tại Viện Tim thành phố Hồ chí Minh

chúng tôi đã mổ cho 77 trường hợp hở van hai

lá bẩm sinh đơn thuần Tuổi trung bình là 9,4

tuổi ± 7,8 năm (nhỏ nhất 6 tháng và lớn nhất 45

tuổi), trong đó nhóm tuổi dưới 6 tuổi chiếm 25

trường hợp (32,5%) Trẻ em dưới 16 tuổi chiếm

đa số với 71 trường hợp Nam giới: 40 (51,9%)

Siêu âm tim qua thành ngực chỉ chẩn đoán

chính xác nguyên nhân bẩm sinh trong 40%

trường hợp Các trường hợp còn lại, nguyên

nhân hở van do bẩm sinh được chẩn đoán trong

mổ với các thương tổn đặc trưng như van hai lá

có dạng 2 lỗ, chẻ lá van trước hoặc lá van sau

(mitral valve cleft)… Trong các trường hợp tồn

tại chẻ lá van, chỉ 2 BN có chẻ không hoàn toàn

còn lại 10 trường hợp có chẻ hoàn toàn và

không có dây chằng treo Tất cả các trường hợp

được mổ với chẩn đoán hở van hai lá nặng

trước mổ Trong mổ có 2 đường tiếp cận van hai

lá Ở người lớn, vào van hai lá qua đường xẻ

chọn lọc trên nhĩ trái Ở trẻ em, van hai lá được

bộc lộ qua đường xẻ vách liên nhĩ theo hình

vòng cung hướng về tĩnh mạch phổi phải

Bảng 1: thương tổn van hai lá tìm thấy trong lúc mổ

Chẻ lá van trước 9 11,7

Thiếu dây chằng lá van trước 48 62.3

Thiếu dây chằng lá van sau 2 2,6

Dài dây chằng (lá van trước) 8 10,4

Hội chứng dây chằng ngắn 5 6,5

Van hai lá dạng 2 lỗ 2 2,6

Van dạng Hammock- Parachute 1 1,3

Hình 1: Chẻ lá trước van hai lá: trước và sau khi

phẫu thuật tạo hình van

Tạo hình van chiếm đại đa số với 75 trường hợp (97,4%), hai trường hợp phải thay van nhân tạo Một trường hợp van có dạng Hammock - Parachute phải thay van ngay từ đầu Trường hợp còn lại, tạo hình van cho kết quả không tốt

và BN được thay van ngay sau đó

Chúng tôi áp dụng chủ yếu các kỹ thuật tạo

Trang 4

hình van của Carpentier, các kỹ thuật này được

liệt kê trong bảng 2 Số kỹ thuật trung bình được

thực hiện trên một bệnh nhân là 2,5 (ít nhất 1,

nhiều nhất 5 kỹ thuật), 64 trường hợp (83%) có

đặt vòng van nhân tạo Carpentier-Edward Các

trường hợp còn lai được tạo hình vòng van sau

bằng một dải màng ngoài tim hoặc Teflon

Bảng 2: Các kỹ thuật tạo hình van hai lá

Tạo hình vòng van với vòng CE 60 81,0

Tạo hình vòng van sau bằng màng

ngoài tim hoặc PTFE 17 19,0

Đóng chẻ van hai lá 12 15,6

Cắt tam giác lá van trước 24 32,0

Cắt tứ giác lá van sau 26 34,6

Nới rộng lá van trước bằng màng

Rút ngắn dây chằng 7 9,1

Chuyển vị dây chằng 23 29,9

Bờ hóa dây chằng 4 5,2

Khâu gấp mô van 4 5,2

Xẻ cửa sổ dây chằng 2 2,6

Biến chứng gần sau mổ thấp: suy tim nặng

3, rối loạn nhịp tim 10 (chủ yếu là nhịp chậm

xoang hoặc nhịp bộ nối: 8 trường hợp, 2 trường

hợp còn lại bị rung nhĩ tạm thời sau mổ), suy

thận cấp 1 trường hợp cần làm thẩm phân phúc

mạc, nhiễm trùng: 4 (nhiễm trùng huyết 1, viêm

phổi 3) Tử vong phẫu thuật là 1,3% (1 trường

hợp do nhiễm trùng huyết dẫn đến suy đa cơ

quan)

So sánh trước và sau mổ sớm (đánh giá bằng

siêu âm tim qua thành ngực hoặc siêu âm tim

qua ngã thực quản), có sự giảm có ý nghĩa độ

hở van hai lá: trước mổ (100% đều hở van nặng)

và sau mổ: không hở hoặc hở nhẹ 86% (66), hở

trung bình 14% (11) và hở nặng 0%, p< 0,001

Thời gian thở máy TB là 22 ± 47 giờ và thời

gian nằm hồi sức TB là 2,3 ± 2,9 ngày (1- 18

ngày)

Thời gian theo dõi trung bình là 88,4 ± 62

tháng 3,8% số BN mất theo dõi Ở thời điểm

theo dõi sau cùng (ngắn nhất 6 tháng và dài

nhất 17 năm) có 6 BN hở van nặng tái phát, 4 hở

van trung bình còn lại hở nhẹ hoặc không hở 5

BN phải mổ lại vì hở van tái phát (từ 1 đến 29 tháng sau mổ)

Tử vong muộn: 2 trường hợp (1 do nhũn não tái phát vào tháng thứ 50 sau mổ và 1 không

rõ nguyên nhân) Tỷ lệ còn sống thực tế sau 16 năm theo dõi là 96,1 ± 2,7% Tỷ lệ thực tế BN không bị mổ lại sau 16 năm theo dõi là 88,5 ± 6,4% Tần suất đường thẳng của hở van hai lá tái phát là 1,56%/BN/năm với tổng thời gian theo dõi là 3850 BN-năm

Hình 2: Van hai lá dạng 2 lỗ

BÀN LUẬN

Chẩn đoán nguyên nhân hở nặng van hai lá trước mổ: để chẩn đoán chính xác nguyên nhân

hở van hai lá đơn thuần do nguyên nhân bẩm sinh thường không dễ nếu chỉ có siêu âm tim Hở van hai lá đi kèm với các dị tật tim bẩm sinh khác như còn ống động mạch, thông liên thất, thông liên nhĩ… đa phần có nguyên nhân bẩm sinh tuy nhiên ở người lớn, trẻ lớn dạng hở van kết hợp này vẫn có nguyên nhân hậu thấp hoặc viêm nội tâm mạc Chính vì vậy, chẩn đoán chính xác là hở van hai lá bẩm sinh đơn thuần đa phần chỉ thực hiện ngay trong mổ Kinh nghiệm của chúng tôi là dựa vào các dấu hiệu đặc thù trên siêu âm tim thành ngực và siêu âm tim qua ngã thực quản trong mổ đồng thời dùng phương pháp loại trừ khi phân tích các thương tổn trong mổ Trong nghiên cứu này, chỉ khoảng 40% số trường hợp của chúng tôi được chẩn đoán đúng nguyên nhân gây hở

Trang 5

van trước mổ Các tác giả nước ngoài khác

không nêu rõ tỷ lệ chẩn đoán đúng nguyên

nhân hở van trước mổ nhưng đưa ra một số dấu

chứng siêu âm đặc thù giúp gợi ý chẩn đoán

như tồn tại chẻ lá trước, van hai lá có dạng 2 lỗ,

bất thường lá van sau(1,4,5,6,9)

Chọn sửa van hay thay van cho lần mổ đầu

tiên? Tạo hình van luôn luôn là chọn lựa ưu tiên

cho đại đa số trường hợp đặc biệt là ở trẻ em

nhỏ Quan điểm này đã được thống nhất mặc

dù có rất nhiều kỹ thuật tạo hình van khác nhau

được sử dụng Nhiều tác giả đã chấp nhận một

mức độ hở van tồn lưu trung bình trong lần mổ

đầu tiên và sau một thời gian theo dõi sẽ tiến

hành mổ lại cho bệnh nhi với mục tiêu là đợi

cho bệnh nhi đủ lớn để có thể đặt được vòng

van nhân tạo với kích cỡ lớn hoặc thay được

một van nhân tạo với kích cỡ phù hợp (từ 23 -

25mm trở lên)(2,9,12,15,18) Nghiên cứu mới đây của

DelNido, bệnh viện Nhi Boston, MA (2011) với

thời gian theo dõi lên đến 80 tháng sau mổ đã

cho thấy nhóm BN được tạo hình van có tỷ lệ

còn sống thực tế cao hơn có ý nghĩa so với

nhóm phải thay van nhân tạo(5)

Có nên đặt vòng van nhân tạo ở trẻ em hay

không? Có thể tạo hình vòng van đã bị dãn hay

đã biến dạng của bệnh nhi bằng nhiều kỹ thuật

khác nhau.Tùy vào lứa tuổi lúc được mổ hay độ

dãn của vòng van, độ lớn của thất trái và còn

tùy thuộc vào chọn lựa của bác sĩ phẫu thuật sẽ

có nhiều phương pháp để tạo hình vòng van

như chỉ tạo hình vùng hai mép van(14), tạo hình

thu nhỏ vùng vòng van sau bằng một dải

Teflon(14,17) hoặc dải màng ngoài tim tự thân, tạo

hình toàn bộ bằng vòng van nhân tạo(2,7,18) hoặc

bằng vòng van sinh học tự tiêu của

Kalangos(3)… Mục tiêu lớn nhất của việc đặt

vòng van là giảm thiểu mức độ hở van tồn lưu

sau mổ cũng như kéo dài tính ổn định của phẫu

thuật tạo hình van Nghiên cứu của Chauvaud

và Opido cho thấy tỷ lệ mổ lại ở BN có đặt vòng

van lần lượt là 11,4% và 0% trong khi tỷ lệ mổ

lại ở BN không đặt vòng van lần lượt là 40% và

27% Nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mổ lại trên

BN có và không đặt vòng van nhân tạo lần lượt

là 2,7% và 21% (p< 0,001) Các số liệu này chứng minh vai trò quan trọng của vòng van nhân tạo trong phẫu thuật tạo hình van hai lá Tuy nhiên, khi trẻ lớn lên vòng van nhân tạo không tiêu sẽ

là vật cản và là tác nhân gây hẹp van hai lá thứ phát Vấn đề này chỉ thực sự nghiêm trọng khi phải đặt 1 vòng van nhân tạo khá nhỏ cỡ 16-18 cho bệnh nhi nhỏ cân Với kích cỡ này khi phải

mổ lại để thay van nhân tạo thì khó mà có thể đặt được cỡ van lớn Carpentier cho rằng vòng van nhân tạo thích hợp cho đại đa số bệnh nhi nên lớn hơn cỡ 18 - 20 nhằm tránh biến chứng hẹp van hai lá về sau và cần theo dõi siêu âm định kỳ cũng như đặt vấn đề mổ lại sớm khi bắt đầu có biểu hiện hẹp van hai lá mức độ trung bình

Chọn thời điểm mổ: hiện nay, đa số các tác giả đều đồng ý nên trì hoãn thời điểm mổ, nói khác đi là chỉ xét chỉ định phẫu thuật khi trẻ càng lớn càng tốt Lý do chính là trẻ càng lớn thì khả năng can thiệp được trên van hai lá càng lớn cũng như mức độ an toàn của phẫu thuật sẽ cao hơn Chỉ một số ít các trường hợp cần phẫu thuật sớm khi trẻ có biểu hiện suy tim tiến triển nặng không đáp ứng điều trị nội khoa

KẾT LUẬN

Chẩn đoán hở van hai lá bẩm sinh trước mổ thường không dễ dàng Đối với người có nhiều kinh nghiệm thường tìm các dấu hiệu đặc trưng

và phối hợp với phương pháp loại trừ

Cho đến nay, phẫu thuật tạo hình bảo tồn van là chọn lựa tối ưu cho đa số trường hợp đặc biệt ở trẻ nhũ nhi Trong các trường hợp phức tạp, phẫu thuật tạo hình van có thể thực hiện nhiều lần như là một giai đoạn chuyển tiếp nhằm chờ đợi bệnh nhi đủ lớn để có thể đặt vòng van cỡ thích hợp hoặc thay van nhân tạo Phẫu thuật tạo hình van hai lá theo phương pháp Carpentier cho kết quả rất tốt về dài hạn với tỷ lệ tử vong muộn và tỷ lệ mổ lại thấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abadir S, Fouilloux V, Metras D, Ghez O, Kreitmann B and Fraisse

A “Isolated Cleft of the Mitral Valve: Distinctive Features and

Surgical Management” Ann Thorac Surg 2009;88:839-843

Trang 6

2 Chauvaud S, Fuzellier JF, Houel R, Berrebi A, Mihaileanu S.”

Reconstructive surgery in congenital mitral valve insufficiency

(Carpentier’s techniques): Long-term results “ J Thorac Cardiovasc

Surg 1998;115:84-93

3 Cikirikcioglu M, Pektok E, O Myers P, Christenson JT, Kalangos

A.” Pediatric mitral valve repair with the novel annuloplasty ring:

2008;16:515-516

4 Creech O, JR., Ledbetter MK and Reemtsma K “Congenital Mitral

Insufficiency with Cleft Posterior Leaflet” Circulation

1962;25;390-394

5 Del Nido “Pediatric Mitral valve disease.Mitral Conclave 2011

(http://www.ctsnet.org/sections/education/mitral2011/online/2011/mitr

al2011.html)

6 Federici D, Palmerini E, Lisi M, Centola L, Chiavarelli M and

Mondillo S “Congenital Mitral Disease: Anomalous Mitral Arcade

in a Young Man” Ann Thorac Surg 2010;89:629-631

7 Fuzellier JF, Chauvaud SM, Fornes P, Berrebi AJ, Lajos PS,

Bruneval P and Carpentier AF “Surgical management of mitral

regurgitation associated with Marfan’s syndrome” Ann Thorac

Surg 1998;66:68-72

8 Kanter KR, Forbess JM and Kirshbom PM “Redo Mitral Valve

Replacement in Children” Ann Thorac Surg 2005;80:642-646

9 Lee C, Lee CH, Kwak JG, Park CS, Kim SJ, Song JY and Shim WS

“Long-term results after mitral valve repair in children “ Eur J

Cardiothorac Surg 2010;37:267-272

10 Lorussoa R, Borghettia V, Totaroa P, Parrinellob G, Colettia G,

Minzioni G “The double-orifice technique for mitral valve

reconstruction:predictors of postoperative outcome” Eur J

Cardio-thorac Surg 2001 ;20: 583-589

11 Maisano F, Redaelli A, Pennati G, Fumero R, Torracca L and Alfieri

O “The hemodynamic effects of double-orifice valve repair for

mitral regurgitation: a 3D computational model” Eur J

Cardiothorac Surg 1999;15:419-425

12 McCarthy JF, Neligan MC, Wood AE “Ten year ‘ experience of an aggressive reparative approach to congenital mitral valve

anormalies “ Eur J Cardiothorac Surg 1996;10:534-539

13 Minami K, Kado H, Sai S, Tatewaki H, Shiokawa Y, Nakashima A,

Fukae K, Hirose H “Midterm results of mitral valve repair with

artificial chordae in children “ J Thorac Cardiovasc Surg

2005;129:336-42

14 Ohno H, Imai Y, Terada M, and Hiramatsu T “The Long-Term

Results of Commissure Plication Annuloplasty for Congenital

Mitral Insufficiency” Ann Thorac Surg 1999;68:537– 41

15 Opido G, Davies B, McMullan M, Cochrane AD et al “Surgical

treatment of congenital mitral valve disease:midterm results of a

repair-oriented policy”.J Thorac Cardiovasc Surg 2008;135: 1313-21

16 Prifti E, Vanini V, Bonacchi M, Frati G, Bernabei M, Giunti G,

Crucean A, Vincenzo Luisi S, and Murzi B “Repair of Congenital

Malformations of the Mitral Valve: Early and Midterm Results Ann

Thorac Surg 2002;73:614 –21

17 Wood AE, Healy DG, Nolke L, Duff D, Oslizlok P and Walsh K

“Mitral valve reconstruction in a pediatric population: Late clinical

results and predictors of long-term outcome “ J Thorac Cardiovasc

Surg 2005;130:66-73

18 Zegdi R, Amahzoune B, Ladjali M, Sleilaty G, Jouan J, Latremouille

C, Deloche A and Fabiani JN “Congenital mitral valve regurgitation in adult patients A rare, often misdiagnosed but

repairable valve disease “ Eur J Cardiothorac Surg 2008;34:751-754

Ngày đăng: 21/01/2020, 03:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w