1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu cắt mạc nối lớn thường quy nhằm phòng ngừa tắt catheter làm thẩm phân phúc mạc

6 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thẩm phân phúc mạc, một trong các biến chứng thường gặp nhất liên quan đến catheter là bế tắt và/hoặc đầu catheter bị di lệch. Vì thế, mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá tính khả thi và các biến chứng cũng như lợi ích của cắt mạc nối lớn để phòng ngừa tắt catheter.

Trang 1

NGHIÊN CỨU CẮT MẠC NỐI LỚN THƯỜNG QUY NHẰM PHÒNG NGỪA TẮT CATHETER LÀM THẨM PHÂN PHÚC MẠC

Phạm Văn Bùi*

TÓM TẮT

Mở ñầu: Trong thẩm phân phúc mạc (TPPM), một trong các biến chứng thường gặp nhất liên quan ñến catheter

là bế tắt và/hoặc ñầu catheter bị di lệch Mục tiêu của nghiên cứu là ñánh giá tính khả thi và các biến chứng cũng như

lợi ích của cắt mạc nối lớn ñể phòng ngừa tắt catheter

Đố i tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu tiền cứu và thực hiện ở một trung tâm duy nhất Từ

2001-tháng 9/2006, có 173 bệnh nhân bị suy thận mạn giai ñoạn cuối ñều ñược cắt mạc nối khi ñặt catheter Tenckhoff

Để làm thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú ở Trung tâm Thận-Niệu Bệnh viện Nhân dân 115 Các thông số nghiên

cứu gồm: cân nặng bệnh nhân và mạc nối cắt ñược, khó khăn kỹ thuật, thời gian phẫu thuật, thời gian hoạt ñộng của

catheter và các biến chứng liên quan ñến cắt mạc nối cũng như lợi ích của thủ thuật này khi ñầu catheter bi di lệch

Kết quả: Trong 173 TH, gồm 75 nam và 98 nữ Tuổi trung bình là 52,77 tuổi, 17,6% là người lớn tuổi Cân nặng

trung bình là 50,77kg (46 – 80kg), mạc nối cắt ñược cân nặng trung bình 325,12g (223 – 715g) Thời gian phẫu thuật

trung bình 68± 18 phút Không có biến chứng nào liên quan ñến cắt mạc nối lớn Có 3 TH ñầu catheter bị di lệch

nhưng catheter vẫn hoạt ñộng tốt và bảo ñảm siêu lọc nên không can thiệp gì thêm

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy cắt mạc nối lớn giúp phòng ngừa tắt catheter do mạc nối quấn quanh Kỹ thuật

tương ñối an toàn và không khó khăn lắm

Từ khóa: cắt mạc nối lớn, thẩm phân phúc mạc

ABSTRACT

STUDY OF THE ROLE OF ROUTINE OMENTECTOMY IN PREVENTION OF

PD-CATHETER OBSTRUCTION

Pham Van Bui * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 2 - 2010: 31 - 36

Objectives: To evaluate the feasibility and omentectomy-related complications as well as the advantages of

omentectomy when omentectomy is routinely performed through the unique incision made for PD catheter insertion

Patients and Methods: This was a prospective and single-center study From 2001-Sep/2006, 173 patients

with end-stage renal disease underwent catheter insertion (coiled Tenckhoff) associated with routine

omentectomy to do continuous ambulatory peritoneal dialysis at the Center of

Nephrology-Urology-Transplantation, Popular 115 Hospital Patient and omentum weights, technical difficulties, operation time,

catheter survival and omentectomy-related complications as well as the advantages of omentectomy in case of

catheter migration were evaluated

Results: Of 173 patients, the mean age was 52.77 year old with 75 male and 98 female Old people percentage

was 17.6% The mean body weight was 50.77kg (46-80kg) The mean removed omentum weight was 325.12g

(223-715g) The mean operation time was 68 minutes ± 18.28 The operations were uneventful and smoothly; There was no

any case of omentectomy-related complication nor catheter obstruction; though there were three cases with catheter

migration, these catheters were always in good function with good ultrafiltration

Conclusions: This technique, safe and technical feasible, helped to prevent catheter obstruction due to omentum

Keywords: Omentectomy, Peritonealdialysis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Có ba biến chứng chính liên quan ñến catheter ñược ñặt ñể làm thẩm phân phúc mạc (TPPM) là dò dịch quanh

catheter, nghẹt catheter, và nhiễm khuẩn lỗ ra da hay ñường hầm dưới da của catheter với tỷ lệ lần lượt là 7%, 17%,

14%(3) Cùng với các biến chứng khác liên quan ñến catheter như nút chận bào mòn lỗ ra và lòi ra ngoài da, ñau khi vào

dịch và thoát vị thành bụng, ba biến chứng này cũng gây nhiều vấn ñề phiền phức khi làm TPPM

Nghiên cứu này nhằm ñánh giá vai trò của cắt mạc nối thường quy khi ñặt catheter trong phòng ngừa bế tắt

catheter, ñặc biệt do mạc nối quấn quanh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu tiền cứu, mô tả và phân tích các trường hợp suy thận mạn giai ñoạn cuối ñược mổ

* ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, BV NguyễnTri Phương

Tác giả liên hệ: PGS TS Phạm Văn Bùi, ĐT: 0913670965, Email: buimy55@yahoo.com

Trang 2

ñặt catheter ñể làm TPPM liên tục ngoại trú (CAPD) Tất cả các trường hợp này ñều ñược cắt mạc nối thường quy

thông qua một ñường mổ duy nhất dùng ñể ñặt catheter Phẫu thuật ñược thực hiện bởi cùng một kíp phẫu thuật viên

Kỹ thuật mổ có thể tóm tắt như sau

Bệnh nhân ñược ñặt nằm tư thế ngửa, gây tê tại chỗ cạnh giữa trái, trên cơ thẳng bụng, dài khoảng 3 – 4cm, ở

dưới, ngang hay trên rốn tuỳ theo chiều cao của bệnh nhân sao cho thích hợp với chiều dài của ñoạn catheter nằm trong

bụng ñể tránh không bị gập hay vặn Catheter ñược sử dụng là loại Tenchkoff ñầu cuộn tròn và có hai nút chận

Đường rạch da song song với ñường giữa bụng; sau khi qua da, cân cơ và cơ, mở một lỗ nhỏ ở phúc mạc,

qua ñó dùng nhíp kẹp một mép mạc nối và kéo nhẹ ra khỏi ổ bụng Nếu mạc nối mỏng, ít mỡ có thể ñưa gần trọn

mạc nối ra ngoài rồi tiến hành cắt trọn gần sát thành ñại tràng; nếu mạc nối quá dầy, nhiều mỡ, không thể ñưa

trọn cùng lúc ra ngoài có thể cắt dần dần, phần ñã cắt ñưa trả ngay lại vào ổ bụng ñể có chỗ tiếp tục lấy cắt dần

dần các phần khác cho tới khi qua lỗ phúc mạc có thể thấy trực tiếp các quai ruột không còn bị mạc nối che phủ

Chú ý, tránh cắt phạm vào ñại tràng, ñồng thời nên cột cầm máu ñầu gần còn lại bằng hai lần cột ñể phòng ngừa

chảy máu do tuột mối cột

Sau khi cắt mạc nối, thấy rõ các quay ruột, catheter, có thanh nòng, ñược ñưa luồn sát thành bụng trước, khi ñến

chóp bàng quang, lách nhẹ catheter giữa các quai ruột ñể ñặt vào vị trí túi cùng Douglas Rút bỏ thanh nòng, may ñính

và cột phúc mạc quanh nút chận trong, ñặt ñoạn catheter còn lại trước phúc mạc và ñưa ñầu kia ra ngoài da sao cho

ñoạn trước phúc mạc có hình U ngược và nút chận ngoài cách lỗ ra da khoảng 3 cm

Sau khi kết thúc phẫu thuật, rửa kiểm tra ổ bụng với dung dịch NaCl 0,9% cho chảy qua dây truyền dịch kết nối

giữa catheter và chai dịch; lượng dịch cho chảy vào ổ bụng khoảng 200 – 150ml/lần Trong lúc cho dịch vào và ra, cần

quan sát sự thông thương (chảy thành dòng liên tục), do rỉ và màu sắc dịch:

- Nếu dịch chảy ra vẫn ñỏ sau 2 – 3 lần rửa, cần phải mở lại lỗ phúc mạc và kiểm tra dần các vị trí ñã cắt mạc nối

- Nếu có rò rỉ dịch, cần may tăng cường cho thật kín

Trong lúc kéo ra ngoài hoặc cắt mạc nối, có thể cho bệnh nhân ngủ nhẹ, khi ñó phẫu thuật sẽ ñược tiến hành dễ

dàng

Các thông số theo dõi gồm: tuổi, phái, sinh hoá, các biến chứng, trọng lượng bệnh nhân và mạc nối cắt

ñược, thời gian phẫu thuật, khó khăn kỹ thuật, hoạt ñộng catheter khi bị

di chuyển

KẾT QUẢ

Từ tháng 7/1998 ñến tháng 9/2006 có 183 TH, chia thành hai ñợt:

- Đợt ñầu trong năm 1998, chúng tôi chỉ thực hiện sơ khởi 10 trường hợp (TH) với hệ thống dây thẳng, túi ñơn của

công ty B Braun Trong 10 TH, có 2 TH bị tắt thông do mạc nối lớn quấn quanh phải mổ lại, 2 TH viêm phúc mạc

kháng trị phải mổ rút bỏ catheter và chuyển lại qua chạy thận nhân tạo, 2TH này vẫn còn sống ñến nay, 2 TH tử vong

vì tai biến mạch máu não sau 4 năm thẩm phân phúc mạc Chỉ có 1 TH còn theo dõi ñược ñến thời ñiểm kết thúc

nghiên cứu các TH khác không ñến tái khám, nên không ghi nhận ñược kết quả Giai ñoạn này không có cắt mạc nối

Do tỷ lệ biến chứng cao, chúng tôi tạm ngưng chương trình thẩm phân phúc mạc (TPPM)

- Từ tháng 7/2001 chúng tôi thực hiện lại TPPM, giai ñoạn ñầu cũng bằng hệ thống dây thẳng, túi ñơn của công ty

B Braun, nhưng ñến tháng 8/2004, công ty ngưng cung cấp các dụng cụ cũng như dung dịch làm thẩm phân và may

mắn là lúc này có công ty Baxter, nên tất cả bệnh nhân cũ cũng như bệnh nhân mới ñều phải chuyển qua sử dụng hệ

thống dây hình Y và túi ñôi của công ty này

Trong 173 TH, có 20 TH tử vong trong vòng 6 tháng ñến 1 năm do nguyên nhân không liên quan ñến thẩm phân

phúc mạc, tất cả các bệnh nhân này ñều là những người lớn tuổi hoặc có kèm bệnh lý tim mạch nặng, không thể chạy

thận nhân tạo ñược nên chỉ ñịnh làm TPPM ñể cứu sống người bệnh lúc nào hay lúc nấy; 01 ñược ghép thận và 04 TH

chuyển qua thận nhân tạo vì viêm phúc mạc kháng trị

171 TH cắt ñược mạc nối, 2 TH không cắt ñược vì qua lỗ mở phúc mạc, không thấy có mạc nối

Giới

Nam: 75, nữ: 98

Tuổi, cân nặng bệnh nhân và trọng lượng mạc nối cắt ñược ghi nhận trong (bảng 1)

Bảng 1: Tuổi, cân nặng bệnh nhân và trọng lượng mạc nối

Trang 3

Cao nhất 80 80 715

Nhận xét: trung bình tuổi là 52,77 tuổi, cân nặng bệnh nhân là 50,77kg và lượng mạc nối lớn cắt ñược là 325,12g

Thời gian phẫu thuật

Trung bình 68+/- 18 phút

Thời gian ñã làm TPPM khi nghiên cứu

Dưới 6 tháng: 28,4%

Từ 6 tháng ñến 1 năm: 20,3%

Trên 1 năm: 51,4%

Các bệnh ñi kèm

Suy tim: 2%

Thiếu máu cơ tim: 0,7%

Tiểu ñường týp 2: 4,7%

Viêm gan C: 1,4%

Các chỉ số sinh hóa

Bảng 2: Các chỉ số sinh hóa

Chỉ số Tối thiểu Tối ña Trung bình

Hồng cầu (triệu) 1.79 5.98 3.88

Hct (%) 15,9 44,5 30,96

Hgb (g/l) 5,32 16 10,21

Bạch cầu (/ml) 2700 16700 2700

BUN (mg %) 5,8 113 5,8

Creatinin (mg %) 0,68 14,37 7,64

Glucose (mg %) 47,7 272 173,25

Triglycerides 46 163 673

Nhận xét: ñường huyết, trigycerides trung bình cao hơn bình thường; Hemoglobin nằm trong giới hạn khuyến cáo

Biến chứng ghi nhận trong 148 TH ñang tiếp tục ñiều trị lúc làm nghiên cứu

- Không có biến chứng: 89,9%

- Có biến chứng: 10,1%

Các biến chứng bao gồm:

- Viêm phúc mạc: 6% hay 1 lần / BN - 60,67 tháng

- Tắc catheter: 2%

- Di chuyển catheter trong ổ bụng:2,1%

Không ghi nhận trường hợp nào bị dò rỉ dịch, chảy máu hay nhiễm khuẩn lỗ ra/ñường hầm catheter

Trong 3 TH tắt catheter, 1 TH do fibrin sau viêm phúc mạc ñược ñiều trị hiệu quả bằng thuốc làm tan sợi huyết; 2

TH kia là 2 TH không thấy có mạc nối qua lỗ mở phúc mạc ñã nói ở trên, ñược mổ nội soi thám sát, trong lúc mổ thấy

catheter bị mạc nối quấn quanh và kéo lên trên nên ñã giải phóng catheter, khỏi mạc nối và ñặt lại vào túi cùng

Douglas, sau mổ catheter hoạt ñộng một thời gian rồi bị tắt lại nên chúng tôi ñã phải quyết ñịnh mổ mở ñể cắt bỏ mạc

nối, khi mổ cũng nhận thấy catheter, bị mạc nối quấn quanh và kéo lên trên như trước; từ sau mổ lần này catheter hoạt

ñộng tốt cho ñến nay

Ba TH trong nhóm ñã cắt mạc nối, catheter di chuyển ra khỏi vị trí ñặt ban ñầu và nằm ở vị trí giữa bụng, tuy

nhiên cả ba vẫn hoạt ñộng tốt, bảo ñảm hiệu quả ñiều trị, nên không can thiệp ngoại khoa lại

Trang 4

Hình 1: ñường rạch da

Hình 2: bóc tách qua phúc mạc

Hình 3: mạc nối lớn ñã ñưa ra ngoài

Trang 5

Hình 5: phẫu thuật hồn tất

BÀN LUẬN

Trong chạy thận nhân tạo, đường mạch máu giữ vai trị quan trọng trong lọc máu sau này, cịn trong thẩm phân

phúc mạc, sự thơng thương của catheter, cũng quan trọng khơng kém, quyết định hoạt động lâu dài và thành cơng của

CAPD(2,6) Catheter Tenckhoff chuẩn hầu như luơn luơn giúp dịch chảy vào ổ bụng nhanh và dễ dàng Tuy nhiên, hiệu

quả và lượng dịch chảy ra khỏi ổ bụng lại rất thay đổi O những thời điểm cuối của giai đoạn thốt dịch từ ổ bụng,

kháng lực đối với dịng chảy tăng lên do mạc nối và các quai ruột bị hút về phía đầu và các lỗ bên của catheter theo

định luật Bernouilli(3) nên dịng chảy thường chậm lại Tắt đường ra thường được phát hiện khi lượng dịch chảy ra nhỏ

hơn là lượng cho vào trong khi khơng cĩ rỉ dịch quanh catheter Biến chứng này thường xảy ra sớm sau khi đặt

catheter, nhưng cũng cĩ thể xuất hiện trong hay sau giai đoạn bị viêm phúc mạc(3) Nguyên nhân gây tắt cĩ thể là

catheter bị xoắn, gập (phải phẫu thuật đặt lại hay rút bỏ catheter), sợi fibrin (cĩ thể điều trị bằng heparin hay thuốc tan

sợi huyết)(9), táo bĩn, mạc nối quấn quanh …, Để giảm thiểu nguy cơ gây bế tắt đường thốt của catheter, người ta đã

thay đổi hình dạng các đầu trong bụng của catheter với nhiều kiểu dáng rất đa dạng cĩ thể kể các loại như TWH

catheter, T-fluted catheter, Ash catheter, Coiled Tenckhoff catheter(1,2,3) … Dù vậy, tỷ lệ nghẹt đường ra cũng là khoảng

17%(2) Trong nghiên cứu này, chúng tơi sử dụng loại catheter Tenckhoff cuộn trịn (Coiled Tenckhoff catheter), tuy

nhiên, cũng cĩ 3 TH nghẹt đường ra, trong đĩ cĩ 2 TH do mạc nối quấn quanh vì lúc mổ đặt catheter đã khơng cắt

được mạc nối Trong các TH làm TPPM đầu tiên trong năm 1998, chúng tơi cũng cĩ 2 TH tắt đường ra cũng do mạc

nối quấn quanh Ngược lại, trong tất cả các TH đã cắt mạc nối, khơng cĩ TH nào bị tắt đường ra, ngoại trừ 1 TH do

fibrin sau viêm phúc mạc, TH này được điều trị bảo tồn bằng thuốc tan sợi huyết

Catheter cũng cĩ thể di chuyển, thường do bị mạc nối bám chặt và kéo lệch xa khỏi vị trí đặt ban đầu khiến dịch

chảy ra khĩ khăn; chính catheter bị mạc nối quấn quanh là nguyên nhân gây bế tắt hơn là sự di lệch của catheter Điều

này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tơi: tơng cộng cĩ 5 TH bị tắt catheter, chỉ cĩ 1 TH là do fibrin trên

bệnh nhân bị viêm phúc mạc cịn lại đến 4 TH là do mạc nối quấn quanh được chẩn đốn xác định khi phẫu thuật nội

soi hay mổ mở Ngồi ra, cĩ 3 TH catheter di chuyển, nhưng nhờ đã cắt mạc nối, nên trong cả ba, catheter đều vẫn hoạt

động tốt, bảo đảm siêu lọc và khơng cần phải can thiệp gì khác

Cĩ ba phương pháp để di chuyển catheter về vị trí ban đầu:

Phương pháp mù (chỉ ứng dụng được cho các catheter Tenckhoff thẳng): cho bệnh nhân ngủ nhẹ, luồn thanh nịng

được vào lịng catheter, rồi xoay nhẹ nhàng cho tới khi đầu catheter di chuyển đến một vị trí khác trong ổ bụng, tuy

nhiên khĩ cĩ thể tách catheter khỏi sự bám quanh của mạc nối do vậy sự thơng thương của catheter chỉ tồn tại trong

30% thời gian

Đặt lại catheter bằng nội soi, cĩ thể tách được sự bám dính của mạc nối, song khơng thể cắt bỏ được mạc

nối, nên chỉ khoảng 50% trường hợp là giảm nhẹ được bế tắt và nếu thất bại cĩ thể rút bỏ catheter này và đặt lại

cái mới(2,5)

Mổ mở để đặt lại đầu catheter vào vị trí thích hợp sau khi tách khỏi mạc nối và cĩ thể cùng lúc cắt bỏ mạc nối(2)

Đây là điều trị triệt để nhất, nhưng bệnh nhân cũng phải trải qua hai lần phẫu thuật

Tỷ lệ thất bại của cả ba phương pháp là trên 20%(2)

Khi thực hiện kỹ thuật cắt mạc nối thường quy, chúng tơi chưa từng biết đã cĩ tác giả nào thực hiện hay

chưa mà chỉ qua kinh nghiệm các biến chứng tắt ống thơng trong những trường hợp đầu tiên của năm 1998, và

qua một vài lần cắt thử mạc nối cho những TH đầu tiên đã thấy rằng kỹ thuật cĩ thể thực hiện được khơng mấy

khĩ khăn và khơng biến chứng nên đã mạnh dạn ứng dụng thành một kỹ thuật thường quy cho tất cả các TH đặt

catheter từ đĩ đến nay(7) Chỉ khi viết nghiên cứu này, chúng tơi mới thấy y văn đề cập đến vai trị của cắt mạc nối lớn

trong TPPM khơng nhiều và chỉ tìm được một bài báo tĩm tắt của tác giả Nicholson ML và cộng sự Các tác giả đã

Trang 6

thực hiện mổ mở ñể ñặt catheter làm CAPD cho 300 TH trong vòng 5 năm với 138TH (38%) có kết hợp với cắt một

phần mạc nối lới; khi phân tích nguy cơ/lợi ích, tác giả nhận thấy kỹ thuật này ñã giúp kéo dài thời gian sử dụng và

phòng ngừa tắt thông do mạc nối quấn quanh một cách có ý nghĩa thống kê(8)

Trong các TH viêm phúc mạc, có hai TH kháng trị, có chỉ ñịnh mổ ñể rút bỏ catheter, khi mổ lại chúng tôi thấy

rằng mặc dầu cắt mạc nối lớn chỉ thực hiện qua một lỗ phúc mạc nhỏ trên ñường mổ dài khoảng 3-4cm ñể ñặt catheter,

nhưng gần như toàn thể mạc nối lớn ñã ñược cắt bỏ ñến sát bờ ñại tràng

Ở trẻ em, mạc nối thường dính vào mạc treo hay các cấu trúc khác trong bụng là những nguyên nhân thường gặp

gây tắt catheter Cắt mạc nối lúc ñặt catheter sẽ giúp giám nguy cơ tắt do mạc nối(4, 10)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng ñể phòng ngừa tắt catheter do mạc nối quấn quanh, một trong các biến

chứng thường gặp và gây phiền phức không ít cho bệnh nhân lẫn thầy thuốc, chúng ta nên cắt bỏ mạc nối lớn lúc

ñặt catheter Đây là một kỹ thuật không mấy khó khăn, không có tai biến biến chứng quan trọng nhưng mang lại

lợi ích không nhỏ cho bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ash SR et al (2000): Clinical trials of the Ash advantages peritoneal dialysis catheter Perit Dial Int; 20: S46

2 Ash Sr, Daugirdas JT (2001): Peritoneal access devices In Handbook of Dialysis, Daugirdas JT, Blake PG, Ing

TS, 3thEd, Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia

3 Ash SR, Janie EM (1993): T-fluted peritoneal dialysis catheter Adv Perit Dial; 9:223-225

4 Brandt ML, Brewer ED (2002): Peritoneal catheter placement in children In Dialysis Therapy, Nissenson Fine,

3th Ed, Hanley & Belfus, Inc, Philadelphia

5 Bùi P.V., Hải H.T.L., Thảo M.T (2004): Khảo sát các biến chứng của CAPD trong ñiều trị suy thận mãn giai

ñoạn cuối, Luận Văn tốt nghiệp Bás sỹ Y khoa

6 Bui P.V.(2007); Dialysis in Viet Nam Perit Dial Int; 27:400-408

7 GadallhaMF et al (1999): Peritoneoscope versus surgical placement of peritoneal dialysis catheter Am J Kidney

Dis; 33: 118-122

8 Nicholson ML et al (1991): The role of omentectomy in continuous ambulatory peritoneal dialysis Perit Dial Int;

11:330-332

9 Sahani MM et al (2000): Tissue plasminogen activator can effectively declot peritoneal dialysis catheter Am J

Kidney Dis; 36: in press

10 Susan R.M., Richard N.F., Amir Tejani (2006): Dialysis in Infants and chidren In Handbook of Dialysis,

Daugirdas JT, Blake PG, Ing TS, 3thEd, Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia

Ngày đăng: 21/01/2020, 03:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w