1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị hẹp niệu đạo trước do viêm quy đầu khô tắc nghẽn bằng phương pháp tạo hình niệu đạo dùng niêm mạc miệng

5 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 233,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết với nội dung nhằm trình bày về kết quả điều trị hẹp niệu đạo trước do viêm quy đầu khô tắc nghẽn bằng phương pháp tạo hình niệu đạo dùng niêm mạc miệng. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ HẸP NIỆU ĐẠO TRƯỚC DO VIÊM QUY ĐẦU KHÔ TẮC NGHẼN BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẠO HÌNH NIỆU ĐẠO

DÙNG NIÊM MẠC MIỆNG

Nguyễn Đức Duy*, Vũ Văn Ty**, Nguyễn Tuấn Vinh***

TÓM TẮT

Mở đầu: Viêm quy đầu khô tắc nghẽn là bệnh lý hiếm gặp, có thể gây biến chứng hẹp niệu đạo Chúng tôi

trình bày kết quả phẫu thuật nhằm đánh giá ưu, khuyết điểm và tính hiệu quả của phương pháp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi nghiên tiến hành nghiên cứu kết quả phẫu thuật trên

33 bệnh nhân hẹp niệu đạo do viêm quy đầu khô tắc nghẽn được tạo hình niệu đạo bằng mảnh ghép niêm mạc miệng 1 thì, bắt đầu từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 05 năm 2013 tại khoa niệu A, bệnh viện Bình Dân Kết quả được đánh giá theo tiêu chuẩn tốt, trung bình, xấu

Kết quả: Thời gian theo dõi trung bình là 23,03 tháng (1-56 tháng), kết quả tốt 26/33 bệnh nhân (tỷ lệ thành

công 78,80%) 2 trường hợp (6,06%) hẹp lại, được điều trị bằng nội soi xẻ lạnh niệu đạo và 5 bệnh nhân (15,14%) phải tạo hình niệu đạo lại Không có trường hợp nào biến chứng đáng kể

Kết luận: Tạo hình niệu đạo bằng niêm mạc miệng là ưu tiên lựa chọn trên bệnh nhân hẹp niệu đạo do viêm

quy đầu khô tắc nghẽn, do không thể sử dụng da quy đầu hoặc da dương vật và cho tỷ lệ thành công khá cao

Từ khóa: Viêm quy đầu khô tắc nghẽn

ABSTRACT

OUTCOME OF BUCCAL MUCOSA URETHROPLASTY WITH ANTERIOR URETHRAL STRICTURES FOR BALANITIS XEROTICA OBLITERANS

Nguyen Duc Duy, Vu Van Ty, Nguyen Tuan Vinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 4- 2014: 128 - 132

Introduction To evaluate the results of method of buccal mucosal 1-stage urethroplasty for anterior urethral

strictures caused by balanitis xerotica obliterans (BXO)

Patients and methods From January 2008 to May 2013, 33 patients underwent buccal mucosal 1-stage

urethroplasty for anterior urethral strictures caused by BXO at Department of Urology A, Binh Dan hospital Outcome in terms of good, medium and bad grade

Results: At a mean follow-up of 23.03 months (range 1 to 56 months), 26/33 patients have no recurrent

stricture (successful rate 78.80%), 2 (6.06%) strictures were treated with visual urethrotomy, 5 (15.14%) strictures were reoperated with buccal mucosal urethroplasty There were no other complications

Conclusions: Using buccal mucosal membrane for urethroplasty, urethral stricture caused by BXO, is the

best option.

Key words: Balanitis xerotica obliterans (BXO)

MỞ ĐẦU

Viêm quy đầu khô tắc nghẽn (Balanitis

Xerotica Obliterans: BXO) là tình trạng viêm da

xơ hóa tiến triển ở quy đầu và bao quy đầu mà nguyên nhân thật sự của bệnh thì chưa được biết(9) Bệnh có thể xuất hiện ở cả nam và nữ, có

* Đại Học Y Dược Cần Thơ ** BV Quốc Tế Thành Đô *** Bệnh viện Bình dân

Tác giả liên lạc: BS Vũ Văn Ty ĐT: 0908100251 Email: vuvanty@yahoo.com

Trang 2

thể ở bộ phận sinh dục và vị trí khác Ở nam

giới, bệnh thường xuất hiện ở quy đầu và bao

quy đầu, ít gặp ở bìu, hiếm gặp ở vùng quanh

hậu môn Bệnh có thể đưa đến tình trạng hẹp

bao quy đầu và hẹp niệu đạo, ảnh hưởng cả việc

tiểu tiện và chức năng tình dục(5)

Điều trị chủ yếu là can thiệp ngoại khoa khi

có biến chứng như hẹp niệu đạo, chất liệu được

sử dụng để tạo hình mở rộng niệu đạo là niêm

mạc miệng Tạo hình niệu đạo bằng da dương

vật có tỷ lệ tái hẹp là 100% Ở Việt Nam, cho tới

thời điểm hiện tại vẫn chưa có số liệu cụ thể về tỉ

lệ mắc bệnh VQĐKTN trong dân số Phương

pháp điều trị chủ yếu là cắt bao quy đầu, nong

niệu đạo ở giai đoạn sớm Khi có hiện tượng hẹp

niệu đạo một đoạn dài thì phương pháp tạo hình

với chất liệu chủ yếu là da vùng bộ phận sinh

dục hoặc mở miệng niệu đạo ra da

Trong bài này chúng tôi báo cáo 33 trường

hợp đã được tạo hình niệu đạo bằng mảnh ghép

niêm mạc miệng một thì trên bệnh nhân viêm

quy đầu khô tắc nghẽn tại bệnh viện Bình Dân

để đánh giá những ưu khuyết điểm của phương

pháp này

Xác định tỉ lệ thành công của phương pháp

dùng mảnh ghép một thì mở rộng niệu đạo trên

bệnh nhân VQĐKTN

Xác định tỉ lệ tai biến, biến chứng của

phương pháp trên

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân nhập viện và được chỉ định

phẫu thuật tạo hình niệu đạo hẹp do BXO bằng

niêm mạc miệng một thì tại bệnh viện Bình Dân

từ tháng 01/2008 - 05/2013 Với các tiêu chuẩn

như sau:

Tiểu khó hay bí tiểu do bệnh BXO gây nên

Có các thương tổn đặc trưng của BXO như:

những mảng trắng ở quy đầu, da quy đầu, các

cầu nối giữa quy đầu và da quy đầu…

Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu,

có hồ sơ được lưu trữ tại bệnh viện Bình Dân

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có tiền căn: tiểu mủ nghi do lậu, chấn thương vùng tầng sinh môn nghi gây hẹp niệu đạo, có vỡ khung chậu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt trường hợp

Quy trình phẫu thuật

Rạch da vòng quanh quy đầu, dọc giữa dương vật hay phối hợp đường hội âm

Bóc tách phần niệu đạo hẹp

Lấy mảnh ghép niêm mạc miệng và khâu mảnh ghép vào đoạn niệu đạo hẹp

Kỹ thuật lấy niêm mạc miệng: Chích dung dịch Adrenaline pha loãng với nước cất vô khuẩn với tỉ lệ 1:100.000 vào lớp dưới niêm mạc mặt trong má để cầm máu và dễ bóc tách (lưu ý tránh làm tổn thương ống Stensen vị trí khoảng răng tiền hàm 2 ở hàm trên) Tiến hành cắt xẻ và tách lấy mảnh niêm mạc má với kích thước vừa đúng với đoạn niệu đạo cần ghép Khâu vết mổ niêm mạc má lại bằng chỉ vicryl 4.0 Mảnh ghép niêm mạc được lấy bỏ hết phần mỡ dưới niêm

và tạo những lỗ nhỏ li ti bằng kim 18, sau đó ngâm vào nước muối sinh lý

Theo dõi hậu phẫu

Theo dõi dấu hiệu nhiễm trùng hay chảy máu

Rút ống thông niệu đạo sau mổ 3 tuần

Tái khám đánh giá sau 1, 3, 6 tháng, 1 năm

Đánh giá kết quả

Bảng 1: Tiêu chuẩn đánh giá kết quả phẫu thuật tạo

hình niệu đạo bằng mảnh ghép một thì mở rộng niệu đạo

Tiêu chuẩn Tốt Trung bình Xấu

Đi tiểu

Tiểu bình thường, tia mạnh

Tiểu hơi lâu, nhiều lần trong ngày

Tiểu khó, nhỏ giọt hoặc bí tiểu, phải mở bàng quang ra da

Nong niệu đạo hoặc xẻ lạnh niệu đạo bổ sung

Không nong, không xẻ lạnh niệu đạo

bổ sung

Phải nong hoặc xẻ lạnh niệu đạo bổ sung

Không được hoặc thất bại phải tạo hình lại

Trang 3

Tiêu chuẩn Tốt Trung bình Xấu

Niệu dòng đồ

Qmax

Bình thường

Qmax

≥15ml/s

Có biểu hiện hẹp Qmax

<15ml/s

Thấp

KẾT QUẢ

Độ tuổi trung bình là 44,93 ± 1,34 tuổi (27 - 79

tuổi)

Thời gian theo dõi trung bình 23,03 ± 1,26

tháng (1 - 56 tháng)

Thời gian phẫu thuật trung bình là 230,91 ±

81,12 phút, không có tai biến nào nghiêm trọng

trong và sau khi phẫu thuật

Chiều dài đoạn hẹp trung bình 7,81 ± 4,17cm

(2 - 16 cm)

Tỉ lệ thành công

Bảng 2: Tỉ lệ thành công

Thời

điểm

Tỉ lệ thành

công

Ghi chú

phẫu thuật

niệu đạo

Một trường hợp chưa đủ thời gian

theo dõi

phải tạo hình lại Một trường hợp phải

xẻ lạnh niệu đạo

phát, phải tạo hình lại

6 trường hợp có thời gian theo dõi

chưa đủ 1 năm

năm thứ 2, phải tạo hình lại

Tỉ lệ tai biến – biến chứng

Tai biến phẫu thuật

2 trường hợp chảy máu vùng lấy niêm mạc

miệng (6,10%)

Không có trường hợp nào tổn thương

ống Stensen

Biến chứng sớm

Đau vùng miệng: 21 bệnh nhân hết đau

vùng miệng vào ngày hậu phẫu thứ I (63,60%),

10 bệnh nhân hết đau vào ngày hậu phẫu thứ 2

(30,30%), 2 bệnh nhân hết đau vào ngày hậu

phẫu thứ 3 (6,10%) và không có trường hợp nào

bị chảy máu vùng lấy niêm mạc miệng ở giai đoạn hậu phẫu

Vết mổ: 2 trường hợp rịn máu vết mổ (6,10%), 1 trường hợp có mủ ở niệu đạo (3,00%), ngoài ra không có trường hợp nào bị rò niệu đạo

và hoại tử da

Biến chứng muộn

Vùng lấy niêm mạc miệng: 22 trường hợp (66,70%) có cảm giác cộm ở vùng lấy niêm mạc miệng, 1 trường hợp chảy máu sau mổ 1 tháng (3,00%), 1 trường hợp còn cảm giác tê vùng miệng (3,00%)

Vết mổ ở vùng tạo hình niệu đạo: Tất cả các trường hợp có vết mổ ở vùng tạo hình niệu đạo đều lành tốt

BÀN LUẬN

BXO là tình trạng viêm xơ hóa tiến triển, hiếm gặp Có thể gặp ở cả nam và nữ Biến chứng của bệnh là do quá trình xơ hóa của bệnh gây nên, các biến chứng này bao gồm: hẹp bao quy đầu, khó khăn trong quá trình cương cứng hay gây khó chịu khi giao hợp, hẹp niệu đạo Việc điều trị bệnh có thể bắt đầu khi chưa có biến chứng với chất liệu pháp thoa tại chổ, nhưng khi có biến chứng hẹp niệu đạo thì phẫu thuật tạo hình là cần thiết(1,6,10,11)

Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 44,93 ± 1,34 tuổi (27 - 79 tuổi) Theo tác giả David Clouston (5) lứa tuổi nhỏ nhất mắc bệnh là 6 tháng tuổi và theo tác giả Depasquale

I(6) lứa tuổi nhỏ nhất là 7 tuổi Thời gian theo dõi trung bình 23,03 ± 1,26 tháng (1 - 56 tháng) Vấn đề sử dụng chất liệu nào để tạo hình niệu đạo? Theo lịch sử phẫu thuật tạo hình niệu đạo, các vật liệu được sử dụng bao gồm: da dương vật, da sau tai, niêm mạc bàng quang, niêm mạc má, niêm mạc lưỡi Niêm mạc bàng quang cho kết quả tốt, nhưng để lấy được mẫu phải mở bàng quang Niêm mạc lưỡi đã được vài tác giả báo cáo Theo Venn SN và Mundy

AR(13) cho thấy tỉ lệ hẹp tái phát sau khi tạo hình niệu đạo bằng da dương vật là 100%, hẹp tái

Trang 4

phát sau tạo hình bằng da sau tai 1/12 bệnh

nhân, không có trường hợp nào hẹp tái phát

trong 4 bệnh nhân tạo hình bằng niêm mạc má

Điều này phù hợp với tính chất của bệnh BXO,

phần da và quy đầu có hiện tượng xơ hóa tiến

triển và hiện tượng hẹp niệu đạo thường được

kéo dài vào niệu đạo hành Do đó không nên sử

dụng da quy đầu để tạo hình niệu đạo Ngoài ra

niêm mạc còn có ưu điểm là dễ lấy, không tạo

lông như da bìu, ẩm ướt hơn da dương vật Đặc

biệt đề kháng với sự nhiễm khuẩn, nên có thể bỏ

qua thao tác thay đổi khăn mổ, áo và gang tay

phẫu thuật viên(2)

Chiều dài đoạn hẹp trung bình 7,81 ± 4,17cm

(2 - 16 cm) Theo y văn thế giới nhận định đối với

trường hẹp niệu đạo ≤ 2 cm có thể sử dụng

phương pháp nối tận – tận vì hợp sinh lý cũng

như giải phẫu của niệu đạo Tuy nhiên với

trường hợp hẹp niệu đạo do BXO thì diễn tiến

chậm từ ngoài vào trong do đó trường hợp hẹp 2

cm này của chúng tôi là hẹp ở miệng nên không

thể nối tận – tận, mặt khác theo tác giả Andrich

và Mundy(3) cho rằng nên mở rộng niệu đạo dù

cho hẹp ngắn vì sợ hiện tượng cong dương vật

Về tai biến phẫu thuật, theo các báo cáo bao

gồm: tổn thương ống tuyến mang tai (ống

Stensen), chảy máu vùng lấy niêm mạc miệng,

tổn thương thần kinh vùng cằm(12) Trong nghiên

cứu của chúng tôi có 2 trường hợp chảy máu

vùng lấy niêm mạc miệng, được phát hiện khi

kiểm tra trước lúc kết thúc phẫu thuật Hai

trường hợp này chảy máu do khâu không kín 2

mép vết mổ và được xử trí khâu cầm máu

Ngoài ra không có trường hợp nào tổn thương

ống tuyến mang tai

Tỉ lệ thành công chung của nghiên cứu là

78,80%, tỉ lệ này giảm dần theo thời gian nghiên

cứu Ở thời điểm 1 tháng sau mổ, tỉ lệ bệnh nhân

hài lòng với phẫu thuật là 100%, 3 tháng là

96,90%, 6 tháng là 90,60%, 1 năm là 76,90%

Trong đó 2 trường hợp cần phải can thiệp thêm

bằng nội soi xẻ lạnh niệu đạo, 5 trường hợp hẹp

tái phát cần phải mổ tạo hình niệu đạo lại Qua 5

trường hợp phải tạo hình lại chúng tôi nhận thấy

bệnh nhân thường bị tái hẹp ở vị trí miệng niệu đạo hoặc điểm nối giữa niệu đạo lành và mảnh

của phẫu thuật tạo hình niệu đạo trong BXO là 60-70%, thường thấp hơn hẹp do các nguyên nhân không phải viêm Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn, có thể là do các bệnh nhân của chúng tôi chưa được theo dõi trong thời gian

đủ dài Trong một nghiên cứu tiến hành ở nhiều trung tâm với 215 bệnh nhân, các tác giả báo cáo với thời gian theo dõi 5 năm, 34 trường hợp được cắt bao quy đầu có tỉ lệ thành công 100%, tạo hình miệng niệu đạo 15 trường hợp, thành công 80% và phối hợp cắt bao quy đầu và tạo hình miệng niệu đạo 8 trường hợp tỉ lệ thành công 100% Tạo hình niệu đạo 111 trường hợp, tỉ

này của nhóm tác giả này chúng tôi nhận thấy kết quả phù hợp

KẾT LUẬN

Tạo hình niệu đạo bằng niêm mạc miệng là

ưu tiên lựa chọn trên bệnh nhân hẹp niệu đạo do viêm quy đầu khô tắc nghẽn, do không thể sử dụng da quy đầu hoặc da dương vật, cho tỷ lệ thành công khá cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(BXO) AUA Update Series, 16: 162 – 167

with buccal mucasal-free grafts J Urol, 165(4): 1131-1134

urethroplasty Reconstructive Urethral Surgery, Springer,

175-187

buccal mucosa grafts placed on the ventral, dorsal or lateral surface of the urethra: are results affected by the surgical technique? J Urol, 173(3): 955-958

(balanitis xerotica obliterans) Bju International, 108(2):14-19

xerotica obliterans BJU Int, 86: 459 – 465

urethral reconstruction Urol Clin N Am, 29: 267-275

genitalia and urethra: surgical options and results in a multicenter international experience with 215 patientss Eur Urol, 55: 945-954

Association of dermatologists guidelines for the management

Trang 5

10 Pugliese JM, Morey AF (2007) Lichen sclerosus: review of the

literature and current recommendations for management J

Urol, 178: 2268 – 2276

obliterans (BXO) involving the anterior urethra and scrotum

Int Urol Nephrol, 38: 505 – 506

morbidity following free buccal mucosal graft harvesting for

urethroplasty Oral surgery, oral medicine, oral pathology,

oral radiology, and endodontics, 84(5): 480 - 482

xerotica obliterans British Journal of Urology, 81: 735-737

urethroplasty The Urologic Clinics of North America, 29(2),

pp 381-387 W B Saunders Company

Ngày nhận bài báo: 17/5/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/5/2014 Ngày bài báo được đăng: 10/7/2014

Ngày đăng: 21/01/2020, 03:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w