1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu một số đặc điểm của hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân mắc bệnh mạch vành mạn

7 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 480,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định đặc điểm hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn tính đồng thời khảo sát mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và bệnh mạch vành. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

TRÊN BỆNH NHÂN MẮC BỆNH MẠCH VÀNH MẠN

Cao Đình Hưng*, Hồ Thượng Dũng**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu Xác định đặc điểm hội chứng chuyển hóa (HCCH) trên bệnh nhân bệnh mạch vành

mạn tính đồng thời khảo sát mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa và bệnh mạch vành

Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang Đối tượng Thực hiện trên 106 bệnh nhân có

biểu hiện lâm sàng là đau thắt ngực ổn định (ĐTNÔĐ) và có kết quả chụp mạch vành

Kết quả Tỷ lệ mắc HCCH là 65,28%, bệnh nhân ≥ 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 69,64%, giới nữ 85,00%

cao hơn nam 57,69% (p<0,029), gia tăng theo BMI Thành phần hay gặp nhất trong HCCH là tăng huyết áp (89,80%) Giá trị trung bình vòng eo, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, đường huyết, triglycerid trên người có HCCH cao hơn và giá trị trung bình HDL-c ở bệnh nhân có HCCH thấp hơn bệnh nhân không có HCCH (p<0,05) Bệnh nhân mắc HCCH có tỷ lệ hẹp mạch vành cao hơn so bệnh nhân không có hội chứng này Ngoài ra, các yếu tố đề kháng insulin và rối loạn dung nạp đường đều liên quan với mức độ hẹp mạch vành

Kết luận HCCH chiếm tỷ lệ 65,28% ở bệnh nhân bệnh mạch vành mạn Có liên quan giữa HCCH với mức

độ hẹp mạch vành thông qua chụp mạch

Từ khóa Hội chứng chuyển hóa, bệnh mạch vành mạn

ABSTRACT

STUDYING METABOLIC SYNDROME IN PATIENTS WITH CHRONIC CORONARY ARTERY DISEASE

Cao Dinh Hung, Ho Thuong Dung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 – 2011: 148 - 154

Objectives Estimating the characteristics of metabolic syndrome (MS) in patients with chronic coronary

artery disease and the relationship between metabolic syndrome and that disease

Methods Cross-sectional descriptive study in 106 patients having stable angina and coronary angiography Results The prevalence of MS was 57.5%, patient who was about and over 60 years old was the highest

69.64%, found in women 85.00% rather than men 57.69% (p< 0.029), increasing with BMI Hypertension was the most common component in metabolic syndrome The mean waist circumplex, systolic tension, diastolic tension, glycemia and triglycerid concentration of MS patients were higher than non-MS patient; the mean HDL- cholesterol concentration of MS patients were lower than non-MS patient (p< 0.05) MS patients had the proportion of stenos coronary artery more than non-MS patient Besides, both insulin resistance and impaired

glucose tolerance were in relationship with the severity of stenos coronary artery

Conclusions Metabolic syndrome affected 65.28% in patients with coronary artery disease There was correlation between MS and the severity of stenos coronary artery

Keywords Metabolic syndrome, chronic coronary artery disease

* Bộ môn Nội Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ** Bệnh Viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc : BS Cao Đình Hưng ĐT: 0919174956 Email: caodinhhung82@gmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh động mạch vành (ĐMV) là bệnh chiếm

tỉ lệ cao ở nhiều nước phát triển Ước tính có

khoảng 13,2 triệu người mắc bệnh ĐMV tại Mỹ,

và trong năm 2001, bệnh động mạch vành chiếm

trên 20% nguyên nhân tử vong chung tại Mỹ(11)

Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh mạch vành là 3% năm

1991, 6,03% năm 1996 và tăng lên 9,5% vào năm

1999 Theo đà phát triển kinh tế và lối sống của

cộng đồng thì dự báo số người tử vong sẽ là

100.000 vào năm 2010 (khoảng 300 người tử

vong bệnh này mỗi ngày)(3) Bên cạnh đó, hội

chứng chuyển hóa (HCCH) là một yếu tố nguy

cơ mới được chú ý của bệnh mạch vành hiện

đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Ở nước ta những năm gần đây đã có một số

nghiên cứu về HCCH trên bệnh nhân bệnh mạch

vành như nghiên cứu của Trần Diệp Khoa, Phạm

Tú Quỳnh và Đỗ Thị Thu Hà Nhằm làm phong

phú thêm các số liệu về HCCH – một yếu tố nguy

cơ của bệnh mạch vành trên đối tượng người Việt

Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm

khảo sát một số đặc điểm của hội chứng chuyển

hóa ở bệnh nhân bệnh mạch vành mạn tính

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân (BN) đến bệnh viện Thống Nhất

có biểu hiện lâm sàng là cơn đau thắt ngực ổn

định (ĐTNÔĐ), có chỉ định chụp và có kết quả

chụp mạch vành

Tiêu chuẩn loại trừ

ĐTNÔĐ không có chụp mạch vành

Bệnh nhân có bệnh lý nhiễm trùng cấp, viêm

khớp, bệnh tự miễn, ung thư

Bệnh nhân chuyển viện hay tử vong trong

quá trình theo dõi

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế

Mô tả cắt ngang

Bệnh nhân được khám lâm sàng, hỏi tiền sử,

đo huyết áp (HA), vòng eo (VE), chiều cao, cân nặng; sau đó được cho tiến hành làm các xét nghiệm vào buổi sáng (bệnh nhân nhịn đói ít nhất 12 giờ): bilan lipid, đường huyết lúc đói, insulin máu, làm nghiệm pháp dung nạp đường Chụp động mạch vành được thực hiện trên máy Siemens tại phòng thông tim can thiệp bệnh viện Thống Nhất Chẩn đoán HCCH theo NCEP ATP III áp dụng cho người Châu Á khi có 3/5 tiêu chuẩn sau: đường huyết (ĐH) lúc đói ≥ 100mg/dl, Triglycerid (TG) ≥ 150mg/dl, HDL-c <

40 mg/dl đối với nam và < 50 mg/dl đối với nữ, huyết áp (HA) ≥ 130/ 85 mmHg hoặc bắt buộc phải dùng thuốc hạ áp, vòng eo ≥ 90 ở nam và ≥

88 cm ở nữ Đáng giá rối loạn lipid máu theo NCEP ATP III Tổn thương ĐMV qua chụp mạch được đánh giá là hẹp không ý nghĩa khi hẹp < 70% khẩu kính lòng mạch vành Hẹp ý nghĩa: hẹp ≥ 70% khẩu kính lòng mạch của ít nhất 1 nhánh động mạch vành

Xử lý các số liệu bằng phần mềm SPSS for Window 11.5

KẾT QUẢ

Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn

Bảng 1: Tỷ lệ mắc HCCH theo tiêu chuẩn ATP III

Số BN Tổng số BN Tỷ lệ (%)

Hẹp ý nghĩa 47 72 65,28

Hẹp không ý nghĩa 11 34 32,35

Đặc điểm HCCH trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn

40,00 54,55 69,64

0 10 20 30 40 50 60 70

40 – 49 50 – 59 ≥ 60 tyû leä %

TUOÅI

Biểu đồ 1: Phân bố HCCH theo tuổi

Trang 3

Bảng 2: Phân bố HCCH theo giới

(n=47)

HCCH (-) (n=25)

χ2 p

Nam (n=52) 30 (57,69%) 22 (42,31%)

Nữ (n=20) 17 (85,00%) 3 (15,00%) 4,752 0,029

33,33

52,38

70,97

88,24

0

10

20

30

40

50

60

70

80

90

<18.5 18.5-22.9 23-24.9 ≥ 25

tỷ lệ %

Biểu đồ 2: Phân bố hội chứng chuyển hĩa theo BMI

Đặc điểm các thành phần trong hội chứng

chuyển hĩa

67,35

89,80

42,86

65,31 59,18

0

10

20

30

40

50

60

70

80

90

Tăng VE tăng HA tăng ĐH tăng TG Giảm

HDL-c tỷ lệ %

Biểu đồ 3: Tỷ lệ các thành phần trong hội chứng

chuyển hĩa

Bảng 3: Tỷ lệ các thành phần trong hội chứng

chuyển hĩa theo giới

Tăng VE

Tăng HA

Tăng ĐH

Tăng TG

Giảm HDL-c

17 (56,67%)

25 (83,33%)

9 (30,00%)

21 (70,00%)

16 (53,33%)

15 (88,24%)

16 (94,12%)

9 (52,94%)

8 (47,06%)

14 (82,35%)

0,026

0,287 0,120 0,120

0,047

Bảng 4: Giá trị trung bình các thành phần trong

HCCH:

VE (cm) 87,38 ± 9,02 82,63 ± 7,44 t = 2,044

(p = 0,045)

HA tâm thu (mmHg) 148,5 ± 16,7 133,7 ± 15,7 t = 3,528

(p = 0,001)

HA tâm trương

(mmHg) 85,6 ± 8,7 81,4 ± 8,6

t= 2,516 (p = 0,015)

ĐH (mmol/l) 7,25 ± 2,99 5,51 ± 1,16 t = 2,388

(p = 0,021) Triglycerid (mmol/l) 2,5 ± 1,62 1,91 ± 1 t = 2,009

(p =0,047) HDL-c (mmol/l) 1,08 ± 0,2 1,20 ± 0,18 t = 3,008

(p = 0,003)

Liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ chuyển hĩa với mức độ tổn thương mạch vành

Bảng 5: Liên quan giữa HCCH theo từng mức độ

tổn thương mạch vành

Hẹp ý nghĩa (n=72)

Hẹp khơng ý

95%)

HCCH (+) (n=58) 47 (81,03%) 11 (18,97%) HCCH (-)

(n=48) 25 (52,08%) 23 (47,92%)

10,104 (0,001)

3,931 (1,652 -9,354)

Chỉ số đề kháng insulin

Bảng 6: Liên quan giữa HCCH và chỉ số đề kháng Insulin

(n=58)

HCCH (-) (n=48)

t p

HOMA-IR trung bình

4,132 2,272

Đề kháng Insulin Độ lệch

chuẩn

2,498 1,238 4,253 0,000

Bảng 7: Liên quan giữa chỉ số HOMA – IR với mức

độ hẹp mạch vành

Hẹp ý nghĩa (n=72)

Hẹp khơng

ý nghĩa (n=34)

t p

HOMA-IR trung bình 3,769 2,743

Đề kháng Insulin Độ lệch

chuẩn

2,585 1,964 2,108 0,037

Rối loạn dung nạp đường

Bảng 8: Phân loại mức dung nạp đường bằng

nghiệm pháp dung nạp đường huyết trên đối tượng

nghiên cứu:

Nghiệm pháp dung nạp đường ĐTĐ

đã biết đường bt (< Dung nạp

7,8 mmol/l)

RLDN đường (≥ 7,8 và <11,1)

ĐTĐ (≥ 11,1)

Tổng số BN

Tỷ lệ (%) 27,36 22,64 41,51 8,49

Trang 4

Bảng 9: Tỷ lệ mắc HCCH theo tiêu chuẩn ATP III có

phối hợp RLDNG trên BN bệnh mạch vành mạn

ATP III 47 72 65,28%

ATP III + RLDNG 54 72 75,00%

Bảng 10: Liên quan giữa HCCH và rối loạn dung

nạp đường

(n = 44)

OGTT (-)

HCCH (+)

(n=29) 23 (79,31%)

6 (20,69%) HCCH (-)

(n=39) 21 (53,85%)

18 (46,15%)

4,722 0,030

Bảng 11: Liên quan giữa RLDNG với mức độ hẹp

mạch vành

Hẹp ý nghĩa

(n=43)

Hẹp không

ý nghĩa (n=25)

χ2 p

OGTT (+)

(n=44) 32 (72,73%) 12 (27,27%)

OGTT (-)

(n=24) 11 (45,83%) 13 (54,17%)

4,831 0,028

BÀN LUẬN

Tỷ lệ mắc HCCH trên bệnh nhân bệnh

mạch vành mạn

Áp dụng theo tiêu chuẩn NCEP-ATP III cho

người Châu Á, chúng tôi ghi nhận HCCH trên

bệnh nhân bệnh mạch vành mạn là 65,28%

Trong một nghiên cứu cắt ngang 527 người điều

trị ở trung tâm y khoa Utrecht với chẩn đoán là

bệnh ĐMV, Petra M Gorter ghi nhận tần suất

mắc HCCH là 41%(9) Christian Spies và cộng sự

khảo sát 943 bệnh nhân bệnh mạch vành

(ĐTNÔĐ, nhồi máu cơ tim) ghi nhận tỷ lệ mắc

HCCH theo NCEP ATP III là 40%(15) Ở Việt

Nam, tỷ lệ này theo Trần Diệp Khoa khảo sát

bệnh viện Nhân Dân 115 là 46,83%(8) Tác giả

Phạm Tú Quỳnh là 48,98%(7) Chúng tôi nhận

thấy kết quả của chúng tôi có cao hơn so với các

tác giả trên, có thể do nghiên cứu của chúng tôi

tiến hành trên đối tượng lớn tuổi có sẵn nhiều

yếu tố nguy cơ của HCCH và mẫu nghiên cứu

số lượng tương đối còn nhỏ

Đặc điểm HCCH trên bệnh nhân bệnh mạch vành mạn

Khi phân theo nhóm tuổi, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ mắc HCCH tăng dần theo tuổi tác và

tỷ lệ rất cao ở tuổi ≥ 60 chiếm 69,64% Nghiên cứu của Trần Diệp Khoa cũng cho thấy tỷ lệ mắc HCCH tăng nhanh sau tuổi 50 (19,05% ở nhóm tuổi 40-49 lên 54% ở nhóm tuổi 50-59)(8) Tác giả

Đỗ Thị Thu Hà ghi nhận tỷ lệ mắc HCCH tăng dần theo nhóm tuổi chiếm tỷ lệ rất cao 75% ở nhóm tuổi 60-69(2) Điều này có thể giải thích do quá trình tiến triển đề kháng insulin song song với quá trình tích tuổi, tuổi càng cao càng có nhiều thay đổi về nội tiết tố, thay đổi sự phân bố

mỡ cơ thể làm tăng khối lượng mô mỡ nội tạng Đây cũng là những yếu tố quan trọng trong bệnh sinh của HCCH Khi khảo sát HCCH theo giới, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ mắc HCCH ở giới

nữ (85,00%) cao hơn giới nam (57,69%) có ý nghĩa thống kê Trong nghiên cứu của Mehmet Birhan Yilmaz tỷ lệ mắc HCCH ở nữ là 62,8%, ở nam là 43,6% (với p < 0,003)(14) Nghiên cứu của tác giả Trần Diệp Khoa ghi tỷ lệ mắc HCCH khác nhau giữa nam 35,11% và nữ 67,57%(8), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Tác giả Đỗ Thị Thu Hà đưa ra kết luận tương tự với tần suất HCCH ở nữ là 72,2% cao hơn giới nam 52,7%(2) Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận tỷ

lệ mắc HCCH gia tăng dần theo BMI, chiếm tỷ lệ rất cao ở nhóm BMI ≥ 25 (88,24%) Kết quả này tương tự theo nghiên cứu của Trần Diệp Khoa,

tỷ lệ mắc HCCH tăng dần theo BMI, nhóm người có BMI ≥ 25 cao nhất 67,44%(8) Tác giả Lý Thanh Hương cũng ghi nhận tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm BMI < 18,5 là 25,0%, tăng dần đến người

có BMI ≥ 25 là 75,6%(4) Đồng thời, chúng tôi nhận thấy ở HCCH nhóm bệnh nhân BMI < 18,5% (gầy) và BMI 18,5 – 22,9 (bình thường) cũng chiếm tỷ lệ đáng kể 33,33% và 52,38% Điều này có nghĩa rằng những người gầy và bình thường cũng có nguy cơ mắc HCCH Bởi vì bên cạnh BMI là chỉ số hữu ích để đánh giá béo phì và đề kháng insulin thì VE – chỉ số đánh giá béo phì thể bụng - có mối tương quan mạnh hơn

Trang 5

với các YTNC chuyển hóa Những người có BMI

trong giới hạn bình thường nhưng chỉ số VE

vượt quá ngưỡng sẽ mang rất nhiều nguy cơ cho

sự hình thành HCCH Chính vì thế, NCEP ATP

III đã khuyến cáo dùng chỉ số VE là một tiêu

chuẩn xác định béo phì thể bụng trong chẩn

đoán hội chứng này(10)

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu của chúng

tôi có tương đồng với các nghiên cứu của Petra

M Gorter(9), Christian Spies(15), Trần Diệp Khoa(8),

Phạm Tú Quỳnh(7) và Lý Thanh Hương(4) là

thành phần tăng HA thường gặp nhất trong

HCCH ở bệnh nhân có bệnh lý mạch vành Tăng

HA vốn là một yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh

ĐMV, thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch

Điều này khẳng định vai trò rất quan trọng của

tăng HA trong mối liên quan chặt chẽ với bệnh

ĐMV, và một khi tăng HA trong bối cảnh của

HCCH sẽ làm tăng nguy cơ đối với bệnh ĐMV

hơn nữa

Khi khảo sát tỷ lệ các thành phần trong

HCCH theo giới thì chúng tôi nhận thấy giới nữ

có thành phần tăng VE và giảm HDL-c nhiều

hơn giới nam có ý nghĩa thống kê Tăng VE đã

được ghi nhận là thành phần thường gặp nhất

(30,7%) trong HCCH trên đối tượng phụ nữ

mãn kinh theo kết quả nghiên cứu của tác giả

Châu Ngọc Hoa(1) Kết quả của Trần Diệp Khoa

và Lý Thanh Hương cũng cho thấy có sự khác

biệt về tăng VE và giảm HDL-c giữa nữ so với

nam(4,8)

Bệnh nhân mắc HCCH có giá trị trung bình

VE, HA tâm thu, HA tâm trương, đường huyết,

TG cao hơn nhóm không có HCCH; giá trị trung

bình HDL-c ở bệnh nhân có HCCH thấp hơn

bệnh nhân không có HCCH Và các sự khác biệt

này đều có ý nghĩa thống kê Kết quả chúng tôi

tương tự các nghiên cứu của Trần Diệp Khoa,

Đỗ Thị Thu Hà, Phạm Tú Quỳnh(2,7,8)

Liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ chuyển hóa với mức độ tổn thương mạch vành

Tiêu chuẩn vàng của chẩn đoán bệnh động mạch vành là chụp động mạch vành cản quang Chúng tôi phân làm 2 nhóm có kết quả chụp mạch vành: hẹp không ý nghĩa và hẹp có ý nghĩa Kết quả ghi nhận có mối liên quan về mặt thống kê giữa hẹp có ý nghĩa mạch vành với HCCH

Nghiên cứu của Mehmet Birhan Yilmaz cũng cho thấy có tổn thương lan rộng và hẹp nặng ĐMV hơn ở các bệnh nhân có HCCH so với bệnh nhân không có HCCH(14)

Theo tác giả Trần Diệp Khoa, 37,5% bệnh nhân có HCCH có tổn thương 3 nhánh ĐMV, cao hơn bệnh nhân không có HCCH(8) So với các nghiên cứu trên, chúng tôi rút ra điểm tương đồng là một khi có sự hiện diện của HCCH thì tổn thương mạch vành trầm trọng hơn

Chỉ số đề kháng insulin

Chúng tôi nhận thấy chỉ số HOMA – IR trung bình ở nhóm có HCCH cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có HCCH (p<0,000) Khi tiến hành xét tương quan giữa chỉ

số HOMA – IR trung bình và mức độ tổn thương mạch vành, chúng tôi ghi nhận có sự khác biệt về chỉ số HOMA- IR trung bình giữa bệnh nhân mạch vành hẹp không ý nghĩa và hẹp có ý nghĩa lần lượt là 2,743 ± 1,964 và 3,769 ± 2,585 (p<0,037) Nghiên cứu của Nguyễn Cửu Lợi đã chứng minh tổn thương nặng nề ĐMV ở bệnh nhân có tình trạng đề kháng insulin trên người Việt Nam Có sự tương quan vừa phải giữa đề kháng insulin và mức độ tổn thương lan tỏa qua chụp mạch vành là kết luận mà tác giả ghi nhận được khi thực hiện nghiên cứu sự đề kháng insulin, một YTNC của bệnh ĐMV(5)

Đề kháng insulin được xem là tâm điểm của HCCH Bắt nguồn từ việc các acid béo được phóng thích với lượng lớn từ mô mỡ, và tại gan, các acid béo thúc đẩy quá trình tổng hợp glucose, TG, kèm quá trình gây giảm HDL-c

Trang 6

Acid béo tự do ảnh hưởng đến đề kháng insulin

theo cơ chế: ức chế sự oxid hóa glucose, giảm tác

dụng ly giải mô mỡ của insulin, ức chế trực tiếp

sự gắn insulin và tác dụng của nó tại gan Đề

kháng insulin làm tăng quá trình hấp thu Natri

và tăng hoạt tính hệ thần kinh giao cảm, góp

phần làm tăng HA Như vậy, tình trạng đề

kháng insulin giữ vai trò chủ đạo và kết hợp

chặt chẽ với các yếu tố nguy cơ chuyển hóa

trong bối cảnh của HCCH, và chính sự đề kháng

này là yếu tố thuận lợi cho bệnh lý mạch vành

Rối loạn dung nạp đường

Chúng tôi tiến hành làm nghiệm pháp dung

nạp đường cho tất cả các bệnh nhân chưa có đái

tháo đường cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn

dung nạp đường là khá cao 41,51%, bên cạnh đó

còn phát hiện thêm 9 ca mắc đái tháo đường

nâng tổng số ca đái tháo đường trên đối tượng

nghiên cứu lên 38 ca

Rối loạn dung nạp đường là một trong

những tiêu chuẩn trong tiêu chí chẩn đoán

HCCH của Tổ chức Y tế thế giới và Hiệp hội các

chuyên gia nội tiết và lâm sàng Hoa Kỳ Tiêu

chí ATP III không bao gồm rối loạn dung nạp

đường do bất tiện và tốn kém Tuy nhiên, một

vài chuyên gia đề nghị làm thêm nghiệm pháp

dung nạp đường trên đối tượng không có đái

tháo đường (ĐTĐ) phối hợp vào trong tiêu chí

ATP III Bởi vì, khi không có rối loạn đường

huyết đói, rối loạn dung nạp đường xem như là

một tiêu chuẩn thay thế cho rối loạn đường

huyết lúc đói để chẩn đoán HCCH Nếu trong

ATP III có thêm tiêu chuẩn này, tỷ lệ mắc hội

chứng chuyển hóa ở những người trên 50 tuổi

có thể phát hiện thêm khoảng 5% Thứ hai, rối

loạn dung nạp đường mang nguy cơ tiềm tàng

của đái tháo đường típ 2 Thứ ba, người có rối

loạn dung nạp đường sẽ tăng nguy cơ bệnh

mạch vành(10)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi quyết định

phối hợp thêm nghiệm pháp dung nạp đường

vào tiêu chí ATP III, kết quả phát hiện thêm 7 ca,

nâng tỷ lệ mắc HCCH lên 75,00% Đây là con số

lớn cho thấy mức độ phổ biến của HCCH trên

bệnh lý mạch vành Đồng thời qua đó cũng cho thấy lợi ích khá to lớn của nghiệm pháp dung nạp đường giúp tầm soát tốt hơn HCCH, phát hiện được rối loạn điều hòa đường huyết từ giai đoạn sớm khi mà xét nghiệm đường huyết lúc đói chưa phát hiện được

Chúng tôi ghi nhận bệnh nhân rối loạn dung nạp đường trong nhóm có HCCH cao hơn nhóm không có HCCH có ý nghĩa thống kê (p<0,030) Nguyễn Đức Hoan và Nguyễn Văn Quýnh nghiên cứu HCCH trên bệnh nhân rối loạn glucose máu lúc đói cũng cho thấy ở nhóm có HCCH tỷ lệ rối loạn dung nạp đường cao hơn so với nhóm không có HCCH (p< 0,001)(6) Khi xét liên quan giữa rối loạn dung nạp đường và mức

độ tổn thương mạch vành, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân có rối loạn dung nạp đường sẽ có nguy cơ tổn thương mạch vành ý nghĩa hơn so với nhóm không có rối loạn dung nạp đường (p< 0,028) Rối loạn dung nạp đường hiện được xem như là một yếu tố nguy cơ mạch vành, người có rối loạn dung nạp đường sẽ có nguy cơ

xơ vữa động mạch vành nhiều hơn người có dung nạp đường bình thường Kết quả này khá tương đồng với các nghiên cứu khác trên thế giới Trong một nghiên cứu đa trung tâm tiến hành tại Châu Âu của Małgorzata Bartnikau ở

25 nước trên đối tượng bệnh mạch vành Tất cả các bệnh nhân chưa có chẩn đoán đái tháo đường đều được làm nghiệm pháp dung nạp đường Tác giả đưa ra kết luận: rối loạn dung nạp đường hay gặp ở nhóm bệnh mạch vành hơn so với dân số chung(12) Một nghiên cứu đoàn hệ được tiến hành trên Funagata khoảng

400 km ở phía Bắc của Tokyo Đối tượng được chia làm 3 nhóm: dung nạp đường bình thường, rối loạn dung nạp đường và ĐTĐ Sau 7 năm theo dõi tác giả ghi nhận tỷ lệ sống sót ở nhóm bệnh lý tim mạch thuộc nhóm rối loạn dung nạp đường và ĐTĐ thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm dung nạp đường bình thường(13)

Trang 7

KẾT LUẬN

- HCCH theo tiêu chuẩn của NCEP ATP III

áp dụng cho người Châu Á ở bệnh nhân bệnh

mạch vành mạn tính chiếm tỷ lệ 65,28%

- HCCH trên bệnh nhân bệnh mạch vành

mạn tính có đặc điểm:

• Chiếm tỷ lệ rất cao 69,64% ở bệnh nhân

≥ 60 tuổi, giới nữ 85% cao hơn giới nam 57,69%,

gia tăng theo chỉ số khối cơ thể

• Thành phần hay gặp nhất trong HCCH

là Tăng HA chiếm 89,8%

• Giá trị trung bình VE, HA tâm thu, HA

tâm trương, đường huyết, TG trên người có

HCCH cao hơn và giá trị trung bình HDL-c ở

bệnh nhân có HCCH thấp hơn bệnh nhân không

có HCCH

- Có liên quan giữa HCCH với mức độ hẹp

mạch vành qua chụp mạch Ngoài ra, các yếu tố

đề kháng insulin và rối loạn dung nạp đường

đều liên quan với mức độ hẹp mạch vành

Nghiệm pháp dung nạp đường làm tăng khả

năng phát hiện ĐTĐ và HCCH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Châu Ngọc Hoa (2005), "các yếu tố nguy cơ mạch vành ở phụ

nữ mãn kinh", Tạp chí Y học TP HCM, tập 9, phụ bản số 1, tr

49-53

2 Đỗ Thị Thu Hà (2008), "Tần suất và đặc điểm hội chứng

chuyển hóa ở bệnh nhân bệnh động mạch vành", Y học TP

Hồ Chí Minh tập 12 (1), tr 1-7

3 Hội Tim mạch học Việt Nam (2008), Khuyến cáo về chẩn

đoán và điều trị rối loạn lipid máu, Khuyến cáo 2008 về các

bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, Nhà xuất bản Y học, tr

478-496

4 Lý Thanh Hương (2007), "Nhận xét về đặc điểm hội chứng

chuyển hóa ở nhóm bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành",

Luận văn BS nội trú, Đại học Y Dược TPHCM,

5 Nguyễn Cửu Lợi (2003), "Nghiên cứu sự đề kháng insulin một yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh động mạch vành", Luận

án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược

6 Nguyễn Đức Hoan và Nguyễn Văn Quýnh (2007), "Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân rối loạn glucose máu lúc đói", Tạp chí Y học thực hành (4), tr 40-43

7 Phạm Tú Quỳnh (2006), "Sự liên quan giữa hội chứng chuyển hóa mức độ tổn thương động mạch vành", Luận văn Thạc sĩ

Y học, Đại học Y Dược TPHCM

8 Trần Diệp Khoa (2005), "Tần suất và đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân bệnh động mạch vành", Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TPHCM

9 Gorter PM, et al (2004), "Prevalence of the metabolic syndrome in patients with coronary heart disease, cerebrovascular disease, peripheral arterial disease or abdominal aortic aneurysm", atherosclerosis (173), pp

363-369

10 Grundy SM, et al (2004), "Definition of Metabolic Syndrome - Report of the National Heart, Lung, and Blood Institute/American Heart Association Conference on Scientific Issues Related to Definition ", Arterioscler Thromb Vasc Biol (24), pp 13-18

11 Libby P, Bonow RO, Mann DL, Zipes DP (2007), Chronic coronary artery disease BRAUNWALD'S Heart Disease - A Textbook of Cardiovascular Medicine W.B Sauder, pp

1353-1380

12 Magorzata Bartnika, Lars Rydéna, Ferraric R, et al (2004),

"The prevalence of abnormal glucose regulation in patients with coronary artery disease across Europe", European Heart Journal (21), pp 1880-1890

13 Makoto Tominaga et al (1999), "Impaired glucose tolerance is

a risk factor for cardiovascular disease, but not impaired fasting glucose The Funagata Diabetes Study", Diabetes Care (22), pp 920-924

14 Mehmet Birhan Yilmaz et al (2005), "Metabolic Syndrome is associated with extension of coronary artery disease in patient with non - ST segment elevation acute coronary syndromes", Coron Arter Dis (16), pp.287-292

15 Spies C, Otte C, Kanaya A, et al (2005), "Association of Metabolic Syndrome With Exercise Capacity and Heart Rate Recovery in Patients With Coronary Heart Disease in the Heart and Soul Study", The American Journal of Cardiology (95), pp 1175 – 1179

Ngày đăng: 21/01/2020, 03:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w