1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình trạng sức khỏe răng miệng và các yếu tố liên quan của sinh viên năm I khoa răng hàm mặt đại học y dược Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2013-2014

7 235 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 301,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe răng miệng của sinh viên năm thứ nhất khoa răng hàm mặt - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2013-2014 và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe răng miệng của sinh viên.

Trang 1

TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN NĂM I KHOA RĂNG HÀM MẶT ĐẠI HỌC Y DƯỢC

TP HỒ CHÍ MINH NĂM HỌC 2013-2014

Đồng Ánh Tuyết * , Nguyễn Thị Thanh Hà ** , Ngô Uyên Châu **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng sức khỏe răng miệng của sinh viên năm thứ nhất khoa Răng Hàm Mặt - Đại

học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2013-2014 và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe răng miệng của sinh viên

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả với phương pháp chọn mẫu toàn bộ,

khám lâm sàng ghi nhận tình trạng răng miệng theo chỉ số SMT, CPI, OHI-S (WHO 1997) của 130 sinh viên năm thứ nhất của khoa Răng Hàm Mặt - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong đợt khám sức khỏe đầu năm học tại trường Các yếu tố về nơi sinh sống, gia đình, thói quen vệ sinh răng miệng của sinh viên được thu thập thông qua bảng câu hỏi Sử dụng các phép kiểm định sử dụng là χ 2 , phép kiểm t cho 2 mẫu độc lập, phép kiểm Kruskal-Wallis, phép kiểm ANOVA

Kết quả: tỉ lệ sâu răng, SMT-R, tình trạng vệ sinh răng miệng của sinh viên năm thứ nhất khoa Răng Hàm

Mặt - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh xếp ở mức độ trung bình và tình trạng bệnh nha chu của sinh viên xếp mức độ cao theo phân loại của WHO năm 2003 Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tình trạng sâu răng, bệnh nha chu giữa nam và nữ Yếu tố gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ, thói quen vệ sinh răng miệng có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến tình trạng sức khỏe răng miệng

Kết luận: Cần phát triển các chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng và nâng cao ý thức chăm sóc răng

miệng cho sinh viên khoa Răng Hàm Mặt nói riêng và các trường Đại học trên cả nước nói chung

Từ khóa: Tình trạng sức khỏe răng miệng, thói quen vệ sinh răng miệng.

ABSTRACT

ORAL HEALTH AND RELATED FACTORS AMONG FRESH DENTAL STUDENTS – UNIVERSITY OF

MEDICINE AND PHARMACY AT HCM CITY (ACADEMIC YEAR 2013-2014)

Dong Anh Tuyet, Nguyen Thi Thanh Ha, Ngo Uyen Chau

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 229 - 235

Ojective: Determine oral health status and treatment needs among first-year dental students and analyse

correlation between factors and oral health status

Subjects and method: A cross-sectional study was conducted in 130 first year students of Faculty of

Odonto-Stomatology of University of Medicine and Pharmacy at HCM city by total sampling technique Clinical examinations including dental caries and periodontal diseases (WHO, 1997) and oral hygiene (OHI-S index) were carried-out Data regarding students’oral hygiene habits, place of residence and family factors were gathered

by using a questionnaire with the Face to Face interview method Independent Sample T-test, Anova test, Kruskall Wallis test and Chi-Square test were applied.

Results: The prevalence of dental caries among first year dental students was moderate, and the periodontal

* BS RHM khóa 2008-2014- Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM

** Bộ môn Nha khoa công cộng- Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM

Trang 2

status was high (WHO 2003 classification) In addition, 83% of them had calculus There were statistical differences in prevalence of dental caries and periodontal diseases between males and females and in mean of OHIS between the degree of mothers’ education, historical residences and using dental floss related

Conclusion: The factors including gender, parent’s education, family’s income, residence, and oral hygiene

habits were related to students’oral health status

Key words: oral health status, oral hygiene habits

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những thập niên gần đây, bệnh sâu răng

và nha chu là vấn đề sức khỏe răng miệng (SKRM)

chính được quan tâm đáng kể do tỉ lệ và tỉ lệ bệnh

mới khá cao ở tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc

biệt là các nước đang phát triển Mặc dù, các dạng

bệnh này không được đánh giá nguy hiểm như

một số bệnh toàn thân như tim mạch, tiểu đường…

nhưng lại có ảnh hưởng nghiêm trọng đến khía

cạnh tâm lý và chất lượng cuộc sống của bệnh

nhân Hai dạng bệnh này xảy ra ở tất cả mọi lứa

tuổi, từ trẻ em đến thanh thiếu niên và cả những

người lớn tuổi.Tại Việt Nam cũng như trên thế giới

đã có rất nhiều nghiên cứu và báo cáo về tình trạng

bệnh nha chu và sâu răng cũng như các yếu tố liên

quan đối với trẻ em và người cao tuổi Tuy nhiên, ở

nước ta, các báo cáo thường tập trung vào các

nhóm tuổi chỉ số 6 tuổi, 12-15 tuổi, 35-44 tuổi …

theo WHO, ít có nghiên cứu thực hiện trên thanh

niên trẻ, đặc biệt là sinh viên

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát tình trạng sức khỏe răng miệng và

các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng răng miệng

của sinh viên năm thứ nhất khoa Răng Hàm Mặt

- Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh -

người sẽ thực hiện công việc chăm sóc sức khỏe

răng miệng cho cộng đồng trong tương lai

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả học sinh sinh viên năm thứ nhất khoa

RHM – Đại học Y Dược TP.HCM

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu toàn bộ Cỡ mẫu: 130 sinh viên

năm thứ nhất khoa RHM – Đại học Y Dược

TP.HCM năm học 2013 – 2014

Phương tiện nghiên cứu

- Bộ đồ khám (gương khám, kẹp gắp, thám trâm 23) và khay đựng dụng cụ

- Dung dịch sát khuẩn, gòn, găng tay, cây đo túi

- Đèn pin nhỏ để soi răng khi ánh sáng tự nhiên không đủ

- Phiếu khám lâm sàng, bảng câu hỏi phỏng vấn

Phương pháp thu thập dữ liệu

Số liệu được thu thập dựa trên khám lâm sàng tình trạng sâu răng, nha chu và ghi nhận vào phiếu điều tra dựa theo tiêu chí của WHO 1997(13) và bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các trẻ về kiến thức, thói quen chăm sóc sức khỏe răng miệng

Kiểm soát sai lệch thông tin

Tập huấn, định chuẩn đội điều tra, chỉ số Kappa = 0,72

Xử lí số liệu

Mã hóa số liệu, xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 for Window, dùng phép kiểm thống kê: thống kê mô tả tỉ lệ %, chỉ

số SMT-R, CPI, OHI-S, tỷ lệ % về yếu tố bản thân

- gia đình và thống kê phân tích: phép kiểm χ 2,

kiểm định t cho hai mẫu độc lập, phép kiểm

Kruskal-Wallis, phép kiểm ANOVA

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ 130 sinh viên năm thứ nhất khoa RHM – ĐH Y Dược TP.HCM năm học

2013 - 2014, gồm 2 lớp: RHM 2013 và CN PHR

2013 với tỉ lệ nam/nữ là 53,8/46,2 Các sinh viên có

độ tuổi từ 19 đến 23 tuổi (trung bình 19,25± 0,63)

Bệnh sâu răng

Bảng1: tình trạng sâu răng phân bố theo giới tính

Sâu răng 46 35,3 50 38,5 96 26,8

0,018 Không sâu răng 24 18,5 10 7,7 34 73,8

Phép kiểm định Fisher’s

Trang 3

(*) p < 0,05; phép kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

Biểu đồ1: Trung bình S, M, T và SMT-R phân bố theo giới tính

Tỉ lệ bệnh sâu răng toàn bộ của mẫu nghiên

cứu là 73,8% thuộc mức độ trung bình theo phân

loại của WHO năm 2003(14) Kết quả này tương tự

với điều tra SKRM toàn quốc của Bộ Y tế năm

2001 ở nhóm 15-17 tuổi (68,6%)(8), nghiên cứu của

Trịnh Thị Tố Quyên (2011) trên sinh viên ĐH Sài

Gòn (71,9%)(11) và của Phạm Thị Mỹ Hạnh (2008)

trên sinh viên ĐH Y Thái Bình (70,4%)(8)

Đoạn này xin xem lại vì bị mất 1 đoạn so với

bản gốc

Trung bình SMT-R của sinh viên nữ cao hơn

nam có ý nghĩa thống kê, đặc biệt sinh viên nữ

có số trung bình răng sâu (2,35) cao hơn có ý

nghĩa thống kê so với nam (1,21) Như vậy mức

độ bệnh sâu răng của nữ cao hơn so với nam,

phù hợp với kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị

Tố Quyên trên sinh viên ĐH Sài Gòn(11) và của

Hossein H tiến hành trên người dân 18 tuổi ở

mọc răng sớm hơn nam, thường có thói quen ăn

quà vặt, bánh kẹo nhiều hơn và do khác biệt về

nội tiết tố giữa nam và nữ

Bệnh nha chu

Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 5,4% sinh

viên có mô nha chu lành mạnh, 13,1% sinh viên bị

chảy máu nướu khi thăm khám; 83,1% sinh viên có

vôi răng và không có sinh viên nào có túi nha chu

Như vậy tình trạng nha chu ở sinh viên hầu hết

là viêm nhiễm ở mô nha chu nông (viêm nướu và

vôi răng) và tình trạng bệnh có thể hoàn nguyên

được nếu được điều trị thích hợp Tỉ lệ bệnh nha chu

tương tự với các nghiên cứu trước đây trong nước và

trên thế giới nhưng cao hơn so với Trung Quốc(12)

Vôi răng là tình trạng bệnh nha chu phổ biến

ở sinh viên năm thứ nhất khoa RHM – ĐH Y Dược TP.HCM (83,1% có vôi răng) Số trung bình sextant có vôi răng ở sinh viên là 3,34 ± 0,19, xếp mức độ cao theo phân loại của WHO(14) Kết quả này tương tự với điều tra SKRM toàn quốc năm

2001 ở lứa tuổi 15 – 17 (83,4% có vôi răng, trung bình 3,23 sextant có vôi răng)(10) Tuy nhiên kết quả này lại cao hơn so với nghiên cứu của Trịnh Thị

Tố Quyên trên sinh viên ĐH Sài Gòn năm 2011 (2,4 ± 1,5)(11) Sự khác biệt này có thể do sự khác biệt về cỡ mẫu Nghiên cứu này tiến hành trên các sinh viên năm thứ nhất khoa RHM – ĐH Y Dược TP.HCM (130 sinh viên) trong khi nghiên cứu của Trịnh Thị Tố Quyên thực hiện trên tất cả sinh viên năm thứ nhất của ĐH Sài Gòn (hệ Đại học và hệ Cao đẳng với 3575 sinh viên) Mặt khác, sự phân

bố tỉ lệ nam/nữ của hai nghiên cứu không tương đồng (trong nghiên cứu này, sinh viên nữ chiếm 46,2% còn nghiên cứu của Trịnh Thị Tố Quyên có 74,5% sinh viên là nữ)

Yếu tố giới tính cũng có ảnh hưởng đến tình trạng bệnh nha chu Số trung bình sextant lành mạnh ở nữ (1,27) cao hơn nam (0,56) và số trung bình sextant chảy máu nướu ở nam (5,44) cao hơn nữ (4,73) có ý nghĩa thống kê Kết quả này cho thấy sinh viên nữ có tình trạng nha chu tốt hơn nam, tương tự với nghiên cứu của Hossein

H ở Iran(3) và nghiên cứu của Debabrata K ở Belgan(1) Điều này có thể do nữ giới thường quan tâm đến SKRM hơn và có thói quen chăm sóc răng miệng tốt hơn so với nam

Trang 4

Bảng2: Tỉ lệ % bệnh nha chu của sinh viên phân bố

theo giới tính

Mô nha chu lành

mạnh (%)

Chảy máu nướu (%)

Vôi răng

0,010

Biểu đồ 2: Số trung bình sextants lành mạnh và có bệnh nha chu phân bố theo giới tính

Tình trạng vệ sinh răng miệng

Tình trạng vệ sinh răng miệng của sinh viên

năm thứ nhất khoa RHM – ĐH Y Dược TP.HCM

được xếp ở mức độ trung bình theo phân loại

của WHO(14) với mảng bám và vôi răng chủ yếu

ở 1/3 cổ răng Kết quả này cho thấy cần có các

chương trình hướng dẫn phương pháp vệ sinh

răng miệng thích hợp cho sinh viên

Theo nghiên cứu, sinh viên nữ có số trung

bình sextant không có mảng bám nhiều hơn nam

có ý nghĩa thống kê Điều này có thể do nữ

thường có ý thức vệ sinh răng miệng tốt hơn và chăm sóc răng miệng kĩ lưỡng hơn nam

Bảng 3: trung bình điểm số PI, CI, OHI-S phân bố

theo giới tính

Điểm PI (TB ± ĐLC)

Điểm CI (TB ± ĐLC)

Điểm OHI-S (TB ± ĐLC)

Nam 0,89 ± 0,05 0,65 ± 0,05 1,55 ± 0,09

Nữ 0,76 ± 0,06 0,57 ± 0,06 1,33 ± 0,10 Chung 0,83 ± 0,04 0,61 ± 0,04 1,44 ± 0,07

Phép kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

Ảnh hưởng của các yếu tố đến sức khỏe răng miệng

Bảng 4: Các yếu tố liên quan đến SMT

Trình độ học vấn

của cha

Trình độ học vấn

của mẹ

Thu nhập hàng

tháng của gia đình

Trang 5

SMT-R S M T

Số con trong gia

đình

Bảng 5: Các yếu tố liên quan đến PI, CI và OHI-S

Trình độ học vấn của cha

Trình độ học vấn của mẹ

Thu nhập hàng tháng của

gia đình

Số con trong gia đình

(1) Phép kiểm ANOVA (2) Phép kiểm t cho 2 mẫu độc lập (3) Phép kiểm Kruskal-Wallis

Sử dụng nước súc miệng

Sử dụng tăm xỉa răng

Sử dụng chỉ nha khoa

Phép kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

Trình độ học vấn của cha, mẹ có ảnh hưởng

có ý nghĩa đến tình trạng vệ sinh răng miệng và

mức độ sâu răng Điều này có thể do cha mẹ có

trình độ học vấn cao hơn sẽ có quan điểm đúng đắn và kiến thức về sức khỏe răng miệng nhiều hơn, chăm sóc răng miệng cho con cái của mình

Trang 6

tốt hơn và giúp con cái hình thành thói quen

chăm sóc răng miệng tốt Nghiên cứu của Nihias

(1977), Hansa (1995), Oliver (1998), Paulanden

(2003) đã chứng tỏ điều này(4)

Ảnh hưởng của yếu tố kinh tế - xã hội lên

tình trạng sâu răng đã được ghi nhận trong

nhiều nghiên cứu Thu nhập hàng tháng của gia

đình ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến số

trung bình răng sâu của sinh viên Sinh viên

sống trong gia đình có mức thu nhập trên 10

triệu đồng/ tháng có chỉ số S-R là 1,13 thấp hơn

có ý nghĩa thống kê so với sinh viên sống trong

gia đình có mức thu nhập từ 5 đến 10 triệu/

tháng (1,77) và dưới 5 triệu/ tháng (2,70) Thu

nhập hàng tháng của gia đình tác động lên tình

trạng sâu răng theo nhiều cách Mức thu nhập

của gia đình ảnh hưởng đến thức ăn, dinh

dưỡng của mẹ trong quá trình mang thai và của

trẻ nhỏ trong giai đoạn hình thành, phát triển

mầm răng Mức thu nhập còn ảnh hưởng đến lối

sống, tình trạng sức khỏe con cái trong gia đình

Bên cạnh đó, con cái trong gia đình có thu nhập

cao sẽ có điều kiện thuận lợi để tiếp cận các biện

pháp phòng ngừa, chẩn đoán sớm và các

phương pháp điều trị hơn những gia đình có thu

nhập thấp hay trung bình

Nha chu là bệnh mãn tính, quá trình bệnh lí

được tích lũy theo thời gian Từ lâu, kiến thức và

tác hại của bệnh sâu răng đã được tuyên truyền

rộng rãi trong cộng đồng, ngược lại hiểu biết của

người dân về bệnh nha chu còn rất hạn chế

Người dân Việt Nam quan niệm người lớn tuổi

răng sẽ suy yếu, lung lay và bị nhổ bỏ mà không

biết nguyên nhân của tình trạng này là do bệnh

nha chu Do đó người dân không có các biện

pháp phòng tránh bệnh nha chu hợp lí

Tình trạng nha chu, vệ sinh răng miệng của

sinh viên sinh sống ở thành thị tốt hơn các sinh

viên ở nông thôn có ý nghĩa thống kê, thể hiện

qua cả 3 điểm số PI, CI và OHI-S Sự khác biệt

này có thể do những hạn chế về nguồn nhân lực,

trang thiết bị y tế ở vùng nông thôn và các hoạt

động tuyên truyền, giáo dục chưa đến được đa

số người dân

Chỉ nha khoa giúp làm sạch mảng bám thức

ăn ở vùng kẽ răng mà việc chải răng đơn thuần không làm được Thói quen sử dụng chỉ nha khoa giúp làm giảm mức độ mảng bám, vôi răng

có ý nghĩa thống kê Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sambunjak D(9) Trong nghiên cứu này các sinh viên nữ có thói quen sử dụng chỉ nha khoa nhiều hơn, điều này góp phần giải thích mức độ bệnh nha chu ở sinh viên nữ giới thấp hơn so với nam

KẾT LUẬN

Bệnh sâu răng và nha chu vẫn luôn là hai bệnh răng miệng phổ biến trong cộng đồng sinh viên năm thứ nhất Khoa Răng Hàm Mặt Đại học

Y dược thành phố Hồ Chí Minh Các sinh viên này vẫn chưa được trang bị những kiến thức nha khoa chuyên sâu, nên tình trạng sâu răng và tình trạng vệ sinh răng miệng của họ vẫn thuộc loại trung bình Có nhiều yếu tố phối hợp tác động đến tình trạng bệnh sâu răng và nha chu Do đó

để làm giảm tỉ lệ bệnh cần tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên cũng như các bậc cha

mẹ về sức khỏe răng miệng, cung cấp kiến thức

về chăm sóc răng miệng và hướng dẫn các phương pháp vệ sinh răng miệng thích hợp Đồng thời phát triển các chương trình chăm sóc răng miệng cho đối tượng sinh viên và cho cả cộng đồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Debabrata Kundu (2011), “Periodontal status of a given

population of West Bengal: An epidemiological study”, J

Indian Soc Periodontol, 15(2), pp.126-129

2 Hai-Xia Lu (2013), “Risk indicators of oral health status among young adults aged 18 years analyzed by negative binomial

regression”, BMC Oral Health, 13, pp.40

3 Hossein H (2008), “Oral Health and Treatment Needs Among

18 Year- Old Iranians”, Med Princ Pract, 17, pp.302-307

4 Paulander J (2003), “Association between level of education

and oral health status in 35-, 50-, 65- and 75-year-olds”, Journal

of Clinical Periodontology, 30(8), pp 697–704

5 Ling Zhu (2003), “Oral health knowledge, attitudes and

behavior of children and aldolescents in China”, International

Dental Journal, 53, pp 289-298

6 Maria GHB (2008), “Relationship between oral health and its

impact on quality of life among adolescents”, Braz Oral Res, 22

(1), pp.36-42

Trang 7

7 Mitsuhiro Ohshima (2009), “Comparison of periodontal

health status and oral health behavior between Japanese and

Chinese dental students”, Journal of Oral Science, 51 (2),

pp.275-281

8 Phạm thị Mỹ Hạnh (2008), “Dental caries and relation factors

in the first- and second- year medical student in Thai Binh

medical university, Vietnam”, J Health Res, 22 (1), pp.73-77

9 Sambunjak D (2011), “Flossing for the management of

periodontal diseases and dental caries in adults”, The Cochrane

Library, Wiley, 12

10 Trần Văn Trường, Trịnh Đình Hải (2002), Điều tra sức khỏe

răng miệng toàn quốc, NXB Y học, Hà Nội, tr.17-51

11 Trịnh Thị Tố Quyên, Ngô Thị Quỳnh Lan (2013), “Tình trạng

sức khỏe răng miệng và mối liên quan với chất lượng cuộc

sống của sinh viên Đại học Sài Gòn”, Tạp chí Y học, Đại học Y

Dược TP.HCM, tập 17 (2), tr.24-32

12 Wang Hong-Ying (2002), “The second national survey of oral

health status of children and adults in China”, International

Dental Journal, 52, pp.283-290

13 World Health Organization (1997), Oral Health Surveys: Basic

Methods, Geneva, 4th edion, pp.21-46

14 World Health Organization (2003), The World Oral Health

Report,Geneva, pp.3-32

Người phản biện: TS Ngô Đồng Khanh

Ngày đăng: 21/01/2020, 02:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm